Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Ngô Thị Trang
Sinh viên lớp: Kinh tế phát triển 50A
Khoa: Kế hoạch & Phát triển
Tôi xin cam đoan rằng bài viết này là công trình nghiên cứu của bản thân tôi
và chưa từng được công bố trên bất kì phương tiện truyền thông nào. Đây là chuyên
đề do tôi đọc tài liệu, tự nghiên cứu và viết. Mọi trích dẫn đều ghi rõ nguồn, không
sao chép. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường.
SVTH: Ngô Thị Trang Lớp: Kinh tế Phát triển 50A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
MỤC LỤC
BIỂU ĐỒ 4
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
SVTH: Ngô Thị Trang Lớp: Kinh tế Phát triển 50A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CN : Công nghiệp
CCCN : Cơ cấu công nghiệp
CDCCNCN : Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp
KH – KT : Khoa học – kỹ thuật
CSHT- VCKT : Cơ sở hạ tầng – vật chất kỹ thuật
KCN : Khu công nghiệp
KCX : Khu chế xuất
KKT : Khu kinh tế
CCN : Cụm công nghiệp
LĐCN : Lao động công nghiệp
CN-XD : Công nghiệp xây dựng
tỉnh, sớm đưa tỉnh Nghệ An trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020. Chính vì thế,
thời gian tới 2010-2020 là khoảng thời gian quan trọng để Nghệ An sớm thực hiện
những biện pháp phát triển công nghiệp để đạt mục tiêu. Và vấn đề chuyển dịch cơ
cấu ngành công nghiệp đã được sự quan tâm của chính quyền cũng như người dân
địa phương. Không chỉ hướng đến tăng trưởng, tỉnh cũng định hướng cho quá trình
chuyển dịch cơ cấu ngày càng hợp lí, phù hợp với điều kiện tỉnh. Trong thời gian
thực tập tại Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh Nghệ An e thấy rằng đây là một trong những
vấn đề quan trọng được tỉnh chú trọng trong thời gian tới. Nhằm góp phần đánh giá
lại sự chuyển dịch cơ cấu công nghiệp Nghệ An những năm qua và có một số giải
pháp cho chuyển dịch cơ cấu công nghiệp tỉnh trong giai đoạn tới, em đã tìm hiểu
và mạnh dạn lựa chọn đề tài‘‘Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành công
nghiệp tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011-2020 ’’ làm chuyên đề tốt nghiệp. Hi vọng
rằng chuyên đề sẽ góp một phần nhỏ nào đó trong quá trình thúc đẩy công nghiệp
hóa hiện đại hóa, phát triển công nghiệp tỉnh và để giải quyết vấn đề cấp thiết với
tỉnh Nghệ An trong giai đoạn tới.
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định những nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp.
Phân tích thực trạng tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp
tỉnh Nghệ An từ 2000-2010.
SVTH: Ngô Thị Trang Lớp: Kinh tế Phát triển 50A
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
Đánh giá kết quả chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp Nghệ An thời gian
qua và các chính sách tác động.
Khuyến nghị một số giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu công
nghiệp tỉnh Nghệ An giai đoạn tới 2011 – 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
!"#$
Tập trung nghiên cứu ngành công nghiệp nói chung, ngành công nghiệp phân
theo ngành kinh tế, thành phần kinh tế, vùng và trình độ công nghệ.
xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất.
Ông cũng đồng thời nhấn mạnh khi phân tích cơ cấu, phải chú ý đến cả hai khía
cạnh là chất lượng và số lượng, bởi lẽ cơ cấu chính là sự phân chia về chất và tỉ lệ
về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội. Như vậy, theo ông cơ cấu kinh tế
là tổng thể các ngành, các lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỉ trọng tương ứng của
chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành.
Trong giáo trình Kế hoạch hóa kinh tế xã hội có đưa ra khái niệm: Cơ cấu
kinh tế là mối quan hệ tỉ lệ giữa các bộ phận hợp thành một tổng thể kinh tế, các bộ
phận này có những mối liên hệ hữu cơ và những tác động qua lại cả về số lượng và
chất lượng. Các quan hệ tỉ lệ được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội
nhất định, chúng luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể.
Vậy cơ cấu kinh tế có nội dung chủ yếu bao gồm:
- Tổng thể của các bộ phận (thành phần) hợp thành.
- Các mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định theo một tương quan hay tỉ lệ
nhất định.
Nhưng cơ cấu kinh tế không chỉ đơn thuần thể hiện tỷ trọng của các thành
phần mà sâu xa hơn chính là mối quan hệ tác động của những thành phần đó để cấu
thành nền kinh tế mỗi khu vực, mỗi quốc gia… Sự tác động qua lại của các thành
phần dẫn đến tỉ trọng khác nhau của chúng trong nền kinh tế. Chính vì thế cơ cấu
kinh tế biểu hiện trình độ và tính chất của nền kinh tế mỗi quốc gia, khu vực. Khi
nhìn vào cơ cấu kinh tế, ta có thể thấy được nền kinh tế đó đang ở giai đoạn nào của
quá trình phát triển. Sự phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kỳ đó dẫn đến
SVTH: Ngô Thị Trang Lớp: Kinh tế Phát triển 50A
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
nền kinh tế sẽ hình thành cơ cấu kinh tế thể hiện sự phát triển ở giai đoạn đó. Trong
khi nhu cầu xã hội thay đổi thường xuyên, lực lượng sản xuất cũng sẽ phát triển để
đáp ứng những nhu cầu đó. Bên cạnh đó, những yếu tố khách quan và chủ quan
cũng sẽ thay đổi dẫn đến sự thay đổi của cơ cấu kinh tế theo từng giai đoạn, từng
thời kỳ của quá trình phát triển. Mặc dù vậy, các quốc gia dù trong cùng giai đoạn
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
Sự khác nhau đó bị chi phối bởi sự phát triển của quan hệ sản xuất, các đặc trưng
văn hoá xã hội, các yếu tố lịch sử của mỗi dân tộc. Các nước có hình thái kinh tế-xã
hội giống nhau nhưng lại hoàn toàn khác nhau trong hình thành cơ cấu kinh tế, vì
điều kiện kinh tế, xã hội và quan điểm chiến lược mỗi nước khác nhau.
Cơ cấu kinh tế ngày càng có tầm quan trọng khi tìm hiểu về sự phát triển
của một quốc gia hay địa phương, Mark cho rằng khi phân tích tìm hiểu cơ cấu kinh
tế phải đi theo 2 phương diện:
Phương diện thứ nhất là mặt vật chất kĩ thuật cơ cấu, bao gồm: (i) Cơ cấu
theo ngành nghề, lĩnh vực kinh tế, nó phản ánh các ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu
thành nền kinh tế về số lượng, vị trí và tỉ trọng ; (ii) Cơ cấu theo quy mô, trình độ kĩ
thuật, công nghệ của các loại hình tổ chức sản xuất lại phản ánh chất lượng các
ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu thành nền kinh tế đó; (iii) Cơ cấu kinh tế theo vùng
lãnh thổ thì phản ánh khả năng kết hợp, sử dụng các nguồn lực của các vùng phục
vụ cho mục tiêu phát triển nền kinh tế một quốc gia.
Phương diện thứ hai, xét cơ cấu kinh tế về mặt kinh tế-xã hội, bao gồm: (a)
Cơ cấu theo các thành phần kinh tế phản ánh khả năng khai thác năng lực tổ chức
sản xuất, kinh doanh của mọi thành viên trong xã hội. (b) Cơ cấu kinh tế theo trình
độ phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ. Nó phản ánh khả năng giải quyết mối
quan hệ giữa các ngành, các lĩnh vực và các bộ phận hợp thành nền kinh tế cũng
như sự tác động qua lại của các bộ phận đó.
Tùy theo loại thành phần mà người ta chia cơ cấu kinh tế thành nhiều loại
như theo ngành, thành phần kinh tế, khu vực, vùng… Để tìm hiểu cơ cấu kinh tế
một nước hoặc một địa phương ta cần phân tích đầy đủ các dạng cơ cấu trên để có
cái nhìn chính xác nhất về cơ cấu kinh tế và nền kinh tế quốc gia. Trong đó cơ cấu
ngành kinh tế được quan tâm và xem xét nhiều nhất.
1.1.1.2. Vai trò của cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình phát triển kinh tế
Theo logic biện chứng của quá trình phát triển, phát triển kinh tế được xem
như là quá trình biến đổi về mặt lượng và mặt chất của nền kinh tế. Nếu như tăng
trưởng kinh tế phản ánh mặt lượng, thể hiện sự gia tăng về qui mô thu nhập và tiềm
)*+,-"./0 là cơ cấu có khả năng tạo ra quá trình tái sản xuất mở
rộng và đáp ứng các điều kiện gồm: (1) Phù hợp các quy luật khách quan; (2) Phản
ánh khả năng khai thác sử dụng nguồn lực kinh tế trong nước cũng như đáp ứng yêu
cầu hội nhập với quốc tế và khu vực nhằm tạo ra sự cân đối, phát triển bền vững;
(3) Phù hợp xu thế kinh tế, chính trị của khu vực và toàn thế giới.
1.1.2.2. Sự cần thiết của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch kinh tế là cần thiết, bản thân cơ cấu kinh tế là yếu tố động, luôn
tồn tại và luôn thay đổi, nên bất cứ cơ cấu kinh tế một quốc gia nào cũng có sự
chuyển dịch. Vấn đề đặt ra là chuyển dịch cơ cấu linh tế đúng hướng, hợp lý góp
phần chung vào quá trình phát triển quốc gia đó.
SVTH: Ngô Thị Trang Lớp: Kinh tế Phát triển 50A
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
Cơ cấu kinh tế phản ánh cơ bản bản chất nền kinh tế như sự phát triển khoa
học công nghệ, lực lượng sản xuất, phân công lao động, chuyên môn hóa và hợp tác
sản xuất… Và chuyển dịch cơ cấu phản ánh sự thay đổi, biến đổi của những yếu tố
đó. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT) phản ánh sự thay đổi mặt chất của nền
kinh tế. Giúp người ta so sánh quá trình phát triển của các nước là nhanh hay chậm,
giống và khác nhau như thế nào, để nhận định khả năng phát triển trong tương lai
của nền kinh tế nước đó. Hơn nữa, nhịp độ phát triển, tính chất bền vững của quá
trình tăng trưởng lại phụ thuộc vào khả năng chuyển dịch linh hoạt, phù hợp với
điều kiện bên trong và bên ngoài cũng như lợi thế tương đối của mỗi nền kinh tế.
Cùng với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đang diễn ra, chuyển dịch
cơ cấu được xem như là một quá trình liên tục, gắn liền và là kết quả của quá trình
CNH – HĐH các nước đang phát triển. Công nghiệp hóa là quá trình phát triển và
tác động liên tục của công nghiệp vào các hoạt động kinh tế, cũng như phục vụ đời
sống con người với trình độ ngày càng hiện đại nhằm thay đổi toàn diện nền kinh tế
xã hội, đưa một nước từ nông nghiệp lạc hậu thành nước công nghiệp tiên tiến.
Chính vì thế chuyển dịch cơ cấu là một nội dung quan trọng không thể thiếu của
quá trình CNH – HĐH. Đối với các nước đang phát triển đây cũng là mục tiêu của
CDCCKT theo nhu cầu và xu hướng tiêu dùng của thị trường. Trong điều kiện kinh
tế hội nhập và mở cửa thì nhu cầu thị trường thế giới có ảnh hướng rất lớn đến
CDCCKT, bên cạnh đó còn có ảnh hưởng của mức độ tham gia vào phân công lao
động quốc tế của các quốc gia.
1.1.3.2. Qui luật về đổi mới kĩ thuật và tăng năng suất lao động của A. Fisher
Năm 1935, trong cuốn ‘‘Các quan hệ kinh tế của tiến bộ kỹ thuật ’’, trên cơ
sở quan niệm nền kinh tế gồm ba khu vực : 1(2#+ là ngành nông lâm,
ngư nghiệp và khai thác khoáng sản, ,(2# là ngành công nghiệp và xây
dựng ; ,(2#% là các ngành dịch vụ, Fisher đã đưa ra phân tích : Theo xu thế
phát triển khoa học công nghệ, ngành nông nghiệp là ngành có khả năng thay thế
lao động nhất. Chính việc khoa học kỹ thuật được áp dụng trong ngành công nghiệp
SVTH: Ngô Thị Trang Lớp: Kinh tế Phát triển 50A
12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
đã khiến năng suất lao động gia tăng. Khi đó để đảm bảo nguồn lương thực cung
cấp cho đời sống cũng không cần nhiều lao động trong ngành nông nghiệp như
trước nữa. Vì lí do đó tỷ lệ lao động nông nghiệp có xu hướng giảm dần trong cơ
cấu ngành kinh tế. Trong khi đó, ngành công nghiệp có tính chất phức tạp hơn trong
việc thay thế kỹ thuật mới và hàng hóa công nghiệp có độ co giãn lớn hơn 0 theo sự
phát triển kinh tế. Vì vậy ngành công nghiệp có khả năng thay thế lao động khó hơn
ngành nông nghiệp và tỷ trọng lao động trong ngành công nghiệp có xu hướng tăng
lên. Ngành dịch vụ được coi là khó có khả năng thay thế lao động nhất có rào cản
cho sự thay thế công nghệ kỹ thuật mới là rất cao. Trong khi đó, tốc độ tăng nhu cầu
thuộc ngành dịch vụ sẽ lớn hơn tốc độ tăng thu nhập do độ co giãn về nhu cầu sản
phẩm lớn hơn 1. Vậy tỉ trọng ngành dịch vụ sẽ có xu hướng tăng và tăng càng
nhanh hơn khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển. Những quan điểm của Fisher
đã gợi ra hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nền kinh tế theo hướng ngày
càng phát triển.
1.1.3.3 Các xu thế chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Từ những qui luật kinh tế được khám phá, có thể rút ra được những xu
34 $ Thời kỳ này cơ cấu ngành là cơ cấu nông nghiệp thuần túy,
nền kinh tế ít có sự biến đổi, ứng với các nước Châu Âu thời Trung Cổ. Nền kinh tế
có năng suất thấp, tăng trưởng do mở rộng đất đai, mang tính tự cung tự cấp.
)5%6+: Nông nghiệp phát triển nhờ những biện pháp mới trong
sản xuất, công nghiệp chế tạo hình thành phát triển ở mức độ nhất định, xuất hiện
những cơ chế tài chính như: ngân hàng, cải thiện các phương tiện giao thông vận tải
để mở rộng thương mại, thời kỳ công nghiệp hóa bắt đầu nhưng vẫn chứa những
đặc trưng thời kỳ trước. Cơ cấu trong giai đoạn này là cơ cấu nông- công nghiệp.
)+$ Đây là giai đoạn trung tâm trong nghiên cứu của Fisher, giai
đoạn các nền kinh tế có bước phát triển nhảy vọt, tốc độ tăng trưởng nhanh, tỷ lệ
đầu tư cho nền kinh tế khoảng 5-10% tổng sản phẩm quốc dân, cả đầu tư trong nước
và nước ngoài. Nông nghiệp ngày càng hiện đại, công nghiệp giữ vai trò đầu tàu.
Cơ cấu kinh tế giai đoạn này là Công nghiệp- Nông nghiệp- Dịch vụ.
4!7: Với cơ cấu kinh tế là Công nghiệp – Dịch vụ - Nông nghiệp
và có sự phát triển cao ở các ngành, khoa học kỹ thuật phát triển, tốc độ GNP tăng
nhanh hơn tăng dân số. Năng suất cao. Giai đoạn này khoảng 60 năm.
389:; với hai xu hướng là thu nhập bình quân đầu người tăng
nhanh, đời sống cao gia tăng nhu cầu hàng hóa, dịch vụ nhất là hàng hóa tinh vi và
hàm lượng công nghệ cao. Thứ hai cơ cấu lao động thay đổi theo hướng công nhân
lành nghề, lao động trí tuệ tăng nhanh, dân cư dô thị cũng tăng nhanh về tỷ lệ và số
lượng. Phúc lợi và an ninh được quan tâm đầu tư mạnh tuy nhiên có dấu hiệu tăng
trưởng giảm. Giai đoạn này dự kiến 100 năm và cơ cấu là dịch vụ - công nghiệp.
SVTH: Ngô Thị Trang Lớp: Kinh tế Phát triển 50A
14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
Tuy có sự hạn chế về cơ sở các giai đoạn cũng như sự nhất quán trong đặc
trưng của các giai đoạn kinh tế so với thực tế. Nhưng lý thuyết cũng có ý nghĩa nhất
định trong việc gợi ý về sự thúc đẩy hoàn thành những tiền đề cần thiết nào đó cho
sự phát triển của mỗi nước trong từng giai đoạn cũng như lựa chọn cơ cấu hợp lí
cho từng giai đoạn đó.
khác, cũng có thể là mối quan hệ gián tiếp. Chính vì có mối quan hệ mật thiết như
thế nên các ngành cần có cơ cấu kinh tế, cân đối, đồng đều nhất định giữa các
ngành mới đảm bảo cho từng ngành có điều kiện phát triển cũng như nền kinh tế
phát triển theo hướng hiện đại. Thứ hai, chính sự phát triển đồng đều đó, cũng như
là một sự kết hợp hiệu quả, tối ưu hơn cho các ngành cũng như nền kinh tế tránh
được hay là giảm thiểu những tác động tiêu cực và có sự thay đổi phù hợp khi có
biến cố xảy ra, nhất là trong điều kiện thế giới ngày càng thay đổi nhanh chóng.
Hơn nữa, bản thân nền kinh tế cân đối sẽ tránh bị phụ thuộc quá nhiều vào các nền
kinh tế lớn bên ngoài, bởi vì nhu cầu trong nước cũng đã được thỏa mãn phần nào
và ổn định và có thể tiết kiệm nguồn ngoại tệ cho quốc gia, giúp quốc gia có sự độc
lập và tự chủ cao hơn, nền chính trị ổn định hơn và vị thế cũng được đảm bảo trên
trường quốc tế.
Lý thuyết này khi đưa ra được các quốc gia đang phát triển đi theo con
đường công nghiệp hóa hướng nội (công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu) rất ưa
chuộng. Bởi nó hướng đến một nền kinh tế tự cung tự cấp một cấp cao hơn. Tuy
nhiên, không phải quốc gia nào cũng có đủ điều kiện thuận lợi về mặt tự nhiên và
xã hội cũng như mọi yếu tố để phát triển đủ các ngành. Và theo những qui luật lợi
thế, trong khi chi phí của quốc gia đó để sản xuất ra một sản phẩm thế mạnh rất cao
thì có thể nhập khẩu rẻ hơn và dành nguồn lực để đầu tư vào những ngành khác
hiệu quả hơn. Đây là bài toán về lợi ích, chi phí mà mỗi quốc gia phải xem xét. Thứ
hai, việc theo đuổi phát triển một cơ cấu kinh tế cân đối và hoàn chỉnh đã đẩy các
nền kinh tế đến chỗ khép kín và tách biệt với thế giới bên ngoài, điều này đi ngược
lại với xu thế quốc tế hóa và toàn cần hóa, không tận dụng được những lợi ích tích
cực từ môi trường bên ngoài đem lại. Mà như thế nghĩa là quốc gia đó đang tự bó
hẹp mình, co mình lại trong khi các nền kinh tế khác mở cửa.
1.1.4.4. Cực tăng trưởng – Lý thuyết phát triển ngành không cân đối
Lý thuyết cực tăng trưởng đặt ra một vấn đề về cơ cấu kinh tế như sau : Ở
một vùng lãnh thổ, không phải vị trí nào cũng sẽ có những đặc điểm giống nhau mà
sẽ xuất hiện những khu vực có nền kinh tế phát triển trội hơn hẳn so với những
vùng khác. Đây là một quá trình tự nhiên khi vùng đó có những điều kiện thuận lợi
này được hình thành trong những điều kiện nhất định về kinh tế xã hội. Trong đó,
số lượng ngành công nghiệp được hoàn thiện theo sự phát triển của phân công lao
động xã hội. Mối quan hệ thể hiện ở mặt số lượng là tỷ trọng (tính theo GDP, lao
động, vốn…) của mỗi ngành trong tổng thể ngành công nghiệp, thể hiện ở mặt chất
lượng là phản ánh tầm quan trọng, vị trí của từng ngành cũng như tính chất tác động
qua lại của các ngành với nhau. Các ngành có thể tác động trực tiếp (cùng chiều
hoặc ngược chiều) hoặc gián tiếp (cấp 1, 2, 3…) với nhau. Theo sự phát triển của
lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, các mối quan hệ các ngành ngày
càng thường xuyên biến đổi và trở nên phức tạp hơn.
SVTH: Ngô Thị Trang Lớp: Kinh tế Phát triển 50A
17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
Cũng như cơ cấu kinh tế nói chung cơ cấu công nghiệp cũng được xem xét,
đánh giá ở mặt vật chất kĩ thuật bao gồm:
)*+,-<,=>: là tổng hợp số lượng ngành và mối liên hệ
kinh tế - kỹ thuật, vị trí, tỷ trọng giữa các ngành trong tổng thể CCCN.
)*+.?,- trong công nghiệp thể hiện khả năng khai thác tổ
chức kinh doanh công nghiệp của các thành viên trong xã hội.
)*+(:/8@ công nghiệp phản ánh khả năng kết hợp, sử dụng các
nguồn lực của các vùng phục vụ cho mục tiêu phát triển công nghiệp, thường được
xem xét ở sự phân bố sản xuất của ngành công nghiệp trong vùng.
1.2.2. Phân loại cơ cấu ngành công nghiệp
1.2.2.1. Cơ cấu ngành công nghiệp phân theo ngành kinh tế
Cơ cấu phân theo ngành kinh tế chia ngành công nghiệp thành các nhóm
ngành nhỏ hơn. Theo Tổng cục thống kê, ngành công nghiệp gồm 29 ngành khác
nhau được phân ra thành 3 nhóm ngành cấp 1 là :
- )AB.,
- )AB.-%-
- CD+(.E. B,F (!G
Trong đó:
1.2.2.4. Cơ cấu ngành công nghiệp theo trình độ công nghệ
Trong thời đại công nghệ ngày càng có vai trò quan trọng đối với quá trình
phát triển, một nước có lợi thế về công nghệ có thể đạt được tối đa nguồn lợi thu
được, tăng trưởng nhanh chóng và bền vững. Vì thế ngành công nghiệp cũng được
phân theo trình độ công nghệ (theo Liên Hiệp Quốc), gồm:
- HAB;
- HAB4%U
- HAB+.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp
1.2.3.1. Vị trí địa lí – điều kiện tự nhiên - tài nguyên thiên nhiên
a) Vị trí địa lí
Vị trí địa lý thuận lợi giúp cho việc giao thông, đi lại dễ dàng, có thể giảm
SVTH: Ngô Thị Trang Lớp: Kinh tế Phát triển 50A
19
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
chi phí vận chuyển hàng hóa Như chúng ta đã biết vai trò của giao thông rất quan
trọng đối với các ngành kinh tế. Nó giúp thương mại, ngoại thương phát triển, tạo
điều kiện cho việc vận chuyển nguyên liệu cũng như sản phẩm công nghiệp đến thị
trường tiêu thụ. Nhờ có vị trí thuận lợi mà các ngành, khu công nghiệp thu hút đầu
tư dễ dàng hơn, có điều kiện phát triển hơn. Đây chính là thế mạnh cho phát triển
công nghiệp cũng như phát triển toàn bộ nền kinh tế thậm chí cả đời sống xã hội.
b) Điều kiện tự nhiên
Địa hình, đặc điểm của thời tiết và khí hậu tác động không nhỏ đến hoạt
động của các ngành công nghiệp nhất là các nhóm ngành khai thác như khai thác
quặng kim loại, trồng cây công nghiệp… Và tùy từng vùng có điều kiện tự nhiên
khác nhau dẫn đến phù hợp phát triển những ngành công nghiệp khác nhau.
c) Tài nguyên thiên nhiên
Đây là một nhân tố ảnh hướng lớn đến công nghiệp mỗi vùng, tài nguyên
nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, khoáng sản là cơ sở vật chất để hoạt động
công nghiệp có hiệu quả. Giàu tài nguyên là một điểm mạnh của công nghiệp địa
trường vừa cung cấp đầu vào, vừa tái sản xuất lao động, vừa tiêu thụ hàng hóa và
phát sinh nhu cầu mới nên tác động đến việc lựa chọn vị trí, hướng chuyên môn hóa
sản xuất. Vì thế những ngành công nghiệp phục vụ nhu cầu tiêu dùng (may mặc,
thực phẩm, hàng tiêu dùng) được phân bố ở nơi đông dân, có thị trường lớn. Thị
trường tiêu thụ rộng lớn, nhu cầu tiêu dung gia tăng thì ngành công nghiệp đó phát
triển, thậm chí nhu cầu thị trường cũng khiến hình thành những ngành mới và từ đó
cơ cấu ngành có sự chuyển dịch. Hơn nữa, sự tác động trực tiếp của thị trường đến
việc hình thành và CDCCNCN mỗi vùng lãnh thổ là khác nhau và trong mỗi giai
đoạn cũng khác nhau.
b) Tiến bộ KH - KT:
Tiến bộ khoa học kỹ thuật tác động đến toàn bộ cuộc sống con người. Với
ngành công nghiệp, việc phát hiện các nguồn năng lượng mới, nguyên liệu mới làm
thay đổi sự phân bố nhiều ngành trong nội bộ ngành công nghiệp, tạo ra những khả
năng mới về sản xuất, đẩy nhanh tốc độ phát triển một số ngành, làm tăng tỉ trọng
của chúng trong tổng thể toàn ngành. Khoa học – kỹ thuật, công nghệ phát triển làm
cho việc khai thác sử dụng tài nguyên và phân bố các ngành công nghiệp trở nên
hợp lý và có hiệu quả cao hơn. Cùng với những thay đổi quy luật phân bố sản xuất
còn có những nhu cầu mới nảy sinh, đòi hỏi xuất hiện một số ngành với công nghệ
tiên tiến từ đó CCNCN chuyển dịch theo hướng ngày càng tích cực.
c) Cơ sở hạ tầng và vật chất kĩ thuật:
Đây là điều kiện, là tiền đề thuận lợi hoặc cản trở sự phát triển công nghiệp
bởi vì số lượng và chất lượng của cơ sở hạ tầng góp phần đảm bảo các mối quan hệ sản
xuất, kinh tế, kĩ thuật Khi cơ sở hạ tầng phát triển sẽ tạo điều kiện vận chuyển, giao
SVTH: Ngô Thị Trang Lớp: Kinh tế Phát triển 50A
21
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
lưu phát triển hàng hóa công nghiệp. Càng có điều kiện CSHT- VCKT phát triển thì
ngành công nghiệp càng thuận lợi phát triển, chuyển dịch càng nhanh và đúng hướng.
1.2.3.3. Đường lối, chính cách phát triển ngành kinh tế của quốc gia.
1.2.3.3.1. Đường lối, mục tiêu, chính sách
22
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
mà nhà nước tạo điều kiện chuyển dịch, hình thành CCNCN đúng hướng. Tùy vào
mỗi địa phương, mỗi vùng theo định hướng, mục tiêu mà có them những chính sách
khác nhau tác động đến CDCCNCN với những mức độ khác nhau. Bên cạnh đó, cơ
chế quản lý cũng có ảnh hưởng đến quá trình này và các nhân tố khác như truyền
thống, bảo đảm an ninh quốc phòng cũng có ảnh hưởng đến việc lựa chọn, phát
triển, phân bố ngành công nghiệp.
1.2.3.3.2. Một số chiến lược của ngành công nghiệp tác động đến chuyển dịch cơ
cấu ngành công nghiệp.
Ngoài những chính sách, định hướng chung thì chiến lược công nghiệp mà
các nước lựa chọn cũng làm chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp khác nhau.
a) Chiến lược xuất khẩu sản phẩm sơ chế
Đây là một chiến lược phát triển hướng ngoại, dựa vào nguồn tài nguyên
thiên nhiên phong phú của đất nước để phát triển sản xuất, khai thác và xuất khẩu
sản phẩm sơ chế. Chính phủ thực hiện những biện pháp về thuế, cơ sở hạ tầng… để
khuyến khích. Chiến lược này thường thực hiện ở những nước có xuất phát thấp, tài
nguyên đa dạng nhưng vật chất kỹ thuật và công nghệ còn lạc hậu nhằm thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế do tăng nguồn thu ngoại tệ nhưng lại làm cho nền kinh tế quốc
gia bị thua thiệt và phụ thuộc vào thị trường quốc tế. Chính vì thế hầu hết các nước
lựa chọn chiến lược này chỉ trong giai đoạn ngắn, trong tương lai các nước sẽ tìm chiến
lược khác thay thế có lợi hơn cho quốc gia mình.
b) Chiến lược phát triển công nghiệp thay thế nhập khẩu
Đây là chiến lược hướng vào thị trường trong nước, tập trung phát triển
mạnh sản xuất các loại hàng hóa, đặc biệt là hàng tiêu dùng để đáp ứng nhu cầu
trong nước, nhằm khai thác nguồn lực sẵn có của địa phương, mở rộng thị trường
cho phát triển sản xuất, tạo thêm việc làm, tiết kiệm ngoại tệ… Tuy nhiên có một số
hạn chế như là chính sách bảo hộ gây nên sự ỷ lại cho doanh nghiệp, thị trường
trong nước không lớn, hiệu quả đầu tư không cao. Hơn nữa tập trung đáp ứng thị
trường trong nước khiến khả năng vươn ra thị trường nước ngoài bị hạn chế vì hàng
đó chu kỳ sản xuất ngắn, quay vòng vốn nhanh nên chiến lược giúp cải thiện kinh tế
địa phương một cách nhanh hơn cũng có những tác động tích cực đến đời sống và
xã hội địa phương. Ngoài ra, phát triển công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp còn
phát huy được những ngành truyền thống, gìn giữ bản sắc dân tộc.
1.2.3.4. Xu hướng kinh tế chính trị của thế giới và khu vực, xu hướng phát triển
của thế giới.
;VE 4;!GUD-F46D84;,(2
(-GWH!7-I2U(L96*+,-(
)))Ta biết rằng chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế. Sự biến động về
chính trị, xã hội của một nước hay một số nước, nhất là nước lớn, có nền kinh tế
phát triển sẽ tác động mạnh đến các hoạt động ngoại thương, thu hút vốn đầu tư,
SVTH: Ngô Thị Trang Lớp: Kinh tế Phát triển 50A
24
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
chuyển giao công nghệ của các nước khác trên thế giới và khu vực. Do đó khi thị
trường và nguồn lực nước ngoài thay đổi, buộc các quốc gia phải điều chỉnh chiến
lược phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế nước mình
ổn định và phát triển. Ngành công nghiệp không thể nằm ngoài những tác động đó.
3-;?;,-X -;/2/!"ID+ kết hợp với xu
thế trên tạo sự phát triển đan xen, khai thác thế mạnh lẫn nhau trong sản xuất và
trao đổi hàng hoá, dịch vụ. Cùng với xu thế toàn cầu hóa, các nhà sản xuất có cơ hội
tìm hiểu, nắm bắt thông tin các thị trường trên thế giới từ đó định hướng sản xuất,
kinh doanh, thay đổi cơ cấu sản xuất, để phù hợp với thị trường, hợp tác lẫn nhau
hình thành thị trường rộng toàn cầu. Khi đó các nước sẽ dựa vào khả năng để tham
gia vào quá trình phân công lao động thế giới, chuyên môn hóa, đảm nhận những
khâu mạnh của nước mình. Công nghiệp là ngành đi đầu trong quá trình đó, dẫn đến
cơ cấu kinh tế công nghiệp thay đổi. Điều này diễn ra một cách tất yếu, nếu một
nước không sớm tuân theo xu hướng chung thì ngày càng bị cô lập trong khi xu thế
toàn cầu hóa càng ngày càng mở rộng và phức tạp hơn.
1.2.4. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu công nghiệp của các nước đang phát