Tiểu luận phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên đề THU THẬP THÔNG TIN BẰNG PHIẾU ĐIỀU TRA - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
oOo
TIỂU LUẬN
PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC
Đề tài:
THU THẬP THƠNG TIN BẰNG PHIẾU
ĐIỀU TRA
GVHD: PGS.TS Trịnh Văn Biều
HVTH : Hồng Bích Trâm
Cao học khóa 23: 2012-2014
Chun ngành: Lý luận và phương pháp dạy học mơn Hóa học
Thành phố Hồ Chí MinhTháng 04/2013
Thu Thập Thông Tin Bằng Phiếu Điều Tra PGS.TS Trịnh Văn Biều
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN 6
1.1. Thu thập thông tin 6
1.1.1. Các bước thu thập thông tin [4] 6
1.1.1.1. Phân tích vấn đề 6
1.1.2. Tầm quan trọng của việc thu thập thông tin [2] 8
1.1.3. Nguyên tắc khuyết danh trong thu thập thông tin [2] 9
1.2. Các phương pháp thu thập thông tin 11
1.2.1. Một số quan điểm về sự phân loại các phương pháp [2] 11
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN BẰNG PHIẾU ĐIỀU
TRA 15
2.1. Vai trò của phiếu điều tra trong nghiên cứu khoa học [1],[2] 15
2.1.1. Khái niệm 15
2.1.2. Vai trò của phiếu điều tra 15
2.2. Các loại câu hỏi dùng trong phiếu điều tra[1],[2],[5] 17
2.2.1. Câu hỏi theo nội dung 17
2.2.2. Câu hỏi có hay không có các câu trả lời được chuẩn bị trước 18

Thu Thập Thông Tin Bằng Phiếu Điều Tra PGS.TS Trịnh Văn Biều
TÓM TẮT 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
MỞ ĐẦU

Trong thời đại ngày nay, khoa học chiếm một vị trí quan trọng trong nền văn minh
của nhân loại. Nó là động lực chủ yếu để tạo ra các giá trị vật chất tăng gấp bội so với các
thời kì trước cộng lại. Nhờ có tri thức khoa học mà con người có thể tìm tòi khám phá thế
giới tự nhiên, điều khiển thế giới tự nhiên nhằm phục vụ lợi ích con người. Khoa học góp
phần vào việc nghiên cứu thế giới quan đúng đắn, duy vật, giải phóng con người khỏi
mọi tín ngưỡng, mê tín, mở rộng tầm mắt, hoàn thiện khả năng trí tuệ. Xét theo bản chất,
khoa học có sứ mệnh giảm nhẹ lao động làm cho đời sống con người dễ chịu hơn, chỉ ra
những con đường để cải thiện cuộc sống. Tất cả những điều đó cho thấy rằng khoa học đã
và sẽ chiếm vị trí ngày càng cao trong tương lai. Do đó, để tránh tụt hậu so với các nước
trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam cần đẩy mạnh hơn nữa phong trào nghiên cứu
khoa học, phải xem nghiên cứu khoa học là một trong những nhiệm vụ quan trọng và cần
thiết.
Quá trình nghiên cứu khoa học có đạt hiệu quả tốt hay không phụ thuộc rất nhiều
vào cách thức nghiên cứu, các phương tiện kỹ thuật nghiên cứu. Do đó, việc tìm hiểu về
các phương pháp nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ hết sức cần thiết. Có rất nhiều tiêu chí
để phân loại các phương pháp nghiên cứu khoa học, tùy theo nội dung nghiên cứu mà
người nghiên cứu có thể sử dụng những phương pháp khác nhau.
PPNCKH - Hoàng Bích Trâm Trang 4
Thu Thập Thông Tin Bằng Phiếu Điều Tra PGS.TS Trịnh Văn Biều
Trong phương pháp nghiên cứu khoa học, phương pháp nghiên cứu thực tiễn đóng
một vai trò hết sức quan trọng. Vì đó là nhóm các phương pháp trực tiếp tác động vào đối
tượng có trong thực tiễn để làm bộc lộ bản chất và các qui luật vận động của các đối
tượng ấy. Phương pháp này giúp người nghiên cứu có được những thông tin, cơ sở cần
thiết để hoàn tất công trình nghiên cứu: đặt giả thuyết, kiểm chứng giả thuyết…
Và một trong các phương pháp điều tra, thu thập thông tin quan trọng nhất là lập

Thu Thập Thông Tin Bằng Phiếu Điều Tra PGS.TS Trịnh Văn Biều
Mức độ những gì hiểu biết của bạn dự kiến sẽ được hiển thị?
- Một khi đã xác định được lý do tại sao ta muốn có thông tin, ta sẽ cần phải làm
việc trong những thông tin ta cần nhuư thế nào? Câu hỏi này có thể được trả lời thông
qua các câu hỏi tìm kiếm cụ thể sau:
Có một bằng sáng chế về ?
Các nhà cung cấp ai là chính ?
Cho phương trình là gì ?
Tôi có thể tìm một mô tả của ?
Đã có bất kỳ nghiên cứu ?
1.1.1.3. Xác định khu vực thu thập
Sau khi đã xác định được những gì ta cần phải tìm. Bước tiếp theo ta cần phải tìm
hiểu làm thế nào ta có thể tìm thấy chúng. Hãy trả lời những câu hỏi thuộc những tiêu chí
dưới đây để xác định một cách chính xác nhất:
 Môn học/ Chủ đề
Thông tin của ta rơi vào loại đối tượng nào?
- Sẽ rất nguy khi cả hai quá chung chung và quá cụ thể.
- Cần phải linh hoạt xác định chủ đề thu thập bởi vì không phải tất cả thông tin được
lưu trữ hoặc thiếu thông tin.
- Hãy suy nghĩ của một loạt các từ tương tự cũng có thể mô tả hoặc bao gồm các
vấn đề khi quyết định rằng nguồn của ta có chứa ít hoặc không có thông tin sử dụng.
 Tác giả
Bạn có (hoặc bạn bè của bạn, gia sư, ) biết bằng văn bản của bất cứ ai trong lĩnh vực
này cụ thể không?
Khi xem xét tác giả, bạn sẽ cần phải xem xét:
- Nhà chuyên môn (nghệ sĩ, nhà thiết kế, các nhà nghiên cứu, )
- Thông tin thứ cấp (các nhà phê bình, nhà sử học )
 Nguồn
PPNCKH - Hoàng Bích Trâm Trang 7
Thu Thập Thông Tin Bằng Phiếu Điều Tra PGS.TS Trịnh Văn Biều

bổ sung thêm vào lí thuyết đã có.
1.1.3. Nguyên tắc khuyết danh trong thu thập thông tin [2]
1.1.3.1. Nguyên tắc khuyết danh đối với người được nghiên cứu
Nguyên tắc khuyết danh có một vai trò quan trọng trong việc đảm bào độ tin cậy
của thông tin, vì nó ảnh hưởng một cách tích cực đến người được nghiên cứu, kể cả
những người đi thu thập thông tin.
Đa số những người được nghiên cứu họ không cần biết những thông tin mà họ
cung cấp được sử dụng để khái quát và lập nên một mô hình cho cà nhóm lớn như thế
nào. Họ chỉ quan tâm xem người khác có biết những thông tin riêng tư của họ hay không,
các thông tin riêng tư của họ được giữ gìn và bảo vệ như thế nào.
Thông thường , khi họ đã được khẳng định rằng những thông tin mà họ cung cấp
sẽ được giữ kín tối đa và họ không cần cung cấp tên, địa chỉ, thì người được nghiên cứu
sẽ cởi mở, chân thành hơn.
Bằng việc đảm bảo tính khuyết danh, chúng ta sẽ tạo được lòng tin ở người được
nghiên cứu rằng cuộc ghiên cứu ít nhất không làm phương hại đến mọi lợi ích của họ.
Thậm chí họ còn có lợi khi tham gia vào cuộc nghiên cứu đó. Việc tạo nên lòng tin ở
người nghiên cứu không những chỉ quan trọng trong việc khuyến khích họ nói thật, nói
thẳng những điều họ nghĩ, những cái họ thấy, mà còn có ý nghĩa lớn trong việc hình
thành ở họ sự quan tâm, sự hứng thú, sự nhiệt tình đến vấn đề nghiên cứu.
1.1.3.2. Nguyên tắc khuyết danh đối với nhà nghiên cứu
Nguyên tắc khuyết danh cũng ảnh hưởng đến người đi thu thập thông tin. Khi
được củng cố bởi nềm tin rằng, nghiên cứu trong mối quan hệ nào đó hoàn toàn không
PPNCKH - Hoàng Bích Trâm Trang 9
Thu Thập Thông Tin Bằng Phiếu Điều Tra PGS.TS Trịnh Văn Biều
đụng chạm đến quyền lợi của người được nghiên cứu, thì những người đi thu thập thông
tin khi tiếp xúc trực tiếp với người được nghiên cứu sẽ cảm thấy tự tin hơn, tiến hành
công việc bình tĩnh và có kết quả hơn. Qua sự tiếp xúc họ cũng dễ dàng truyền cảm niềm
tin này của mình cho đối tượng được nghiên cứu.
1.1.3.3. Biểu hiện của tính khuyết danh
 Thứ nhất: tính khuyết danh được biểu hiện ở khía cạnh là những thông tin thu thập

cũng có thể được thực hiện với sự trợ giúp của các công cụ đặc biệt như
phỏng vấn trao đổi, bảng hỏi.
 Phương pháp thực nghiệm là phương pháp tạo tình huống trong đó nguưười
gnhie6n cứu kiểm tra sự thay đổi của hiện tượng dưới sự tác động của các
yếu tố được người nghiên cứu chủ động đưa vào, tức là xác định mối liên hệ
giữa những thay đổi của các biến số.
Theo Caplow (1970) đã tiến hành việc phân chia các nghiên cứu theo sơ đồ sau:
 Quan sát trực tiếp
+ Quan sát bên ngoài, quan sát có tham gia
 Thực nghiệm
+ Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm
+ Thực nghiệm trên hiện trường
 Phân tích tài liệu
+ Phân tích định tính
+ Phân tích định lượng
 Trao đổi miệng
PPNCKH - Hoàng Bích Trâm Trang 11
Thu Thập Thông Tin Bằng Phiếu Điều Tra PGS.TS Trịnh Văn Biều
+ Trao đổi miệng cấu trúc
+ Trao đổi miệng bán cấu trúc
+ Trao đổi miệng phi cấu trúc
 Bảng hỏi
+ Bảng hỏi đóng (Cấu trúc)
+ Bảng hỏi theo mức độ (bán cấu trúc)
+ Bảng hỏi mở (phi cấu trúc)
 Phân tích lặp lại các tài liệu đã có
 Những nguồn đặc biệt
+ Điều tra thống kê
+ Các ghi chép thường xuyên
 Những thể thức đặc biệt

5. Trắc nghiệm
6. Nghiên cứu tâm sinh lí
7. Nghiên cứu y học
Khía cạnh tâm sinh lí và ý thức của người được nghiên
cứu
8. Nghiên cứu tài liệu
9. Phân tích nội dung
Tài liệu về người được nghiên cứu hay tài liệu của họ
Các phương pháp tổng hợp
10. Trưng cầu gián tiếp Tất cả các nguồn thông tin
11. Thực nghiệm xã hội học Tất cả các nguồn thông tin
Trường hợp đặc biệt
12. Nghiên cứu quỹ thời gian Hành vi hoặc ý thức của người được nghiên cứu
Theo Therese L. Baker (1994) và Martin Bulmen (1984)
PPNCKH - Hoàng Bích Trâm Trang 13
Thu Thập Thông Tin Bằng Phiếu Điều Tra PGS.TS Trịnh Văn Biều
 Phương pháp điều tra, trong đó chủ yếu nói về các phương pháp thu thập thông tin
bằng bảng hỏi và phỏng vấn.
 Phương pháp thực nghiệm trong đó có các loại thực nghiệm cổ điển và bán thực
nghiệm.
 Phương pháp điền dã trong đó chủ yếu trình bày về các loại quan sát trên hiện
trường.
 Phân tích tài liệu có sẵn, trong đó có đề cập đấn hàng loạt các phương pháp như
phân tích nội dung, nghiên cứu lịch sử, phân tích các số liệu thống kê…
1.2.2. Cơ sở lựa chọn phương pháp thu thập thông tin[2]
 Thứ nhất: Phụ thuộc vào nội dung được nghiên cứu thể hiện trong chương trình
nghiên cứu, chính điều đó xác định những yếu tố nào, những mối quan hệ xã hội
nào của thực tiễn xã hội sẽ được nghiên cứu. Rõ ràng cái đó có mối quan hệ trực
tiếp với phương pháp cụ thể của việc thu thập thông tin, vì được gắn chặt chẽ với
đặc tính thông tin cần tìm kiếm, với nguồn thông tin…

các giả thuyết sẽ thu nhận được qua các câu trả lời các câu hỏi trong phiếu điều
tra.
+ Những yếu tố, những khía cạnh của thực tiễn xã hội thuộc vấn đề nghiên cứu,
đo lường sẽ không được nghiên cứu nếu trong phiếu điều tra không có một số
lượng đầy đủ các câu hỏi thích hợp.
+ Chính vì vậy, khi nhìn một phiếu điều tra người ta sẽ biết ngay được chương
trình nghiên cứu đó như thế nào.
 Phiếu điều tra là công cụ đo lường quan trọng
+ Nhờ có nó người ta đo được các biến số nhất định có quan hệ tới đối tượng của
công trình nghiên cứu, cụ thể là, đo những nhân tố quyết định có liên quan đến
cá nhân người trả lời (Osipov, 1988).
+ Vì vậy phiếu điều tra soạn thảo tốt sẽ cho ta thông tin đầy đủ, tin cậy và việc
đo lường sẽ đạt được độ chính xác, khoa học. Còn nếu trong phiếu điều tra các
câu hỏi được lập ra không đáp ứng được các yêu cầu thì khả năng thu thập
thông tin sẽ giảm, thậm chí chúng ta còn nhận được những thông tin méo mó,
xuyên tạc so với thực tế.
 Ở một góc độ khác, phiếu điều tra được xem là phương tiện để lưu trữ thông tin vì
thông tin cá biệt được ghi nhận trên phiếu điều tra, nên phiếu điều tra là cơ sở vật
chất tồn tại của thông tin. Trong các nghiên cứu khác sau này thông tin được lưu
trữ lại vẫn có thể được sử dụng.
 Trong giai đoạn thực hiện: việc xây dựng phiếu điều tra là một trong những
nhiệm vụ rất quan trọng cho việc xây dựng chương trình nghiên cứu. Trong giai
đoạn thực hiện: toàn bộ công việc thu thập thông tin đều được thực hiện nhờ vào
phiếu điều tra. Trong giai đoạn xử lí thông tin: phiếu điều tra có vai trò như người
mang thông tin.
PPNCKH - Hoàng Bích Trâm Trang 16
Thu Thập Thông Tin Bằng Phiếu Điều Tra PGS.TS Trịnh Văn Biều
 Phiếu điều tra là chiếc cầu nối giữa người nghiên cứu và người trả lời. Chiếc cầu
nối đó có đảm bảo hay không phụ thuộc rất nhiều vào sự chuẩn bị.
+ Nó chịu sự tác động của người nghiên cứu khi đưa ra các vấn đề, các mục tiêu

hay bị thay đổi.
2.2.1.3. Nhược điểm
 Thông tin từ loại câu hỏi này thường có độ chính xác không cao, mang đậm dấu
ấn chủ quan cá nhân của người trả lời.
 Những mong muốn, đánh giá thường nằm trong ý thức của cá nhân riêng biệt,
chúng không phải luôn luôn tìm được sự thể hiện bên ngoài phù hợp, nghĩa là lời
nói, câu chữ đôi khi không diễn đạt nổi, hoặc không diễn đạt hết những nhận định,
những ý muốn trong tư duy của con người.
 Những ý muốn, ý thích của cá nhân nhiều khi là một cái gì đó mạng tính riêng tư
không phải luôn luôn trao hết cho người khác được, nhất là liên quan đến những
vấn đề thầm kín của cá nhân.
 Điều này gây khó khăn lớn cho việc thu thập thông tin, thậm chí trong một vài
trường hợp nó làm cho việc thu thập thông tin là không có khả năng.
2.2.2. Câu hỏi có hay không có các câu trả lời được chuẩn bị trước
2.2.2.1. Câu hỏi mở
 Khái niệm: Đó là những câu hỏi mà không kèm theo các câu trả lời chuẩn bị
trước, nghĩa là với người trả lời ta chỉ nêu câu hỏi và không hướng dẫn cách trả
lời.
Ví dụ: Theo anh, chị đặc điểm nổi bật của sinh viên hiện nay là gì?
 Đặc điểm của câu hỏi mở
PPNCKH - Hoàng Bích Trâm Trang 18
Thu Thập Thông Tin Bằng Phiếu Điều Tra PGS.TS Trịnh Văn Biều
+ Người được hỏi trả lời các câu hỏi như họ thấy, họ cảm thấy và họ muốn thông
qua các phương tiện thể hiện như ngôn ngữ, chữ viết.
+ Phụ thuộc vào trình độ văn hóa, ý thức cá nhân, trình độ hiểu biết và ngay cả tâm
trạng của người trả lời ở vào thời điểm đó mà chúng ta có được câu trả lời với sự
khác biệt khá lớn cả về hình thức và nội dung.
+ Câu trả lời sẽ có độ dài ngắn khác nhau: một số người câu trả lời chỉ là một từ,
một số người khác có câu trả lời là một câu hay vài câu; một số người khác tả lời
rất dài, hàng trang giấy.

 Những người trả lời đã không xem xét hiện tượng được hỏi dưới cùng một gốc
độ. Ngay bản thân câu hỏi mở cũng ít khả năng để tạo cho mọi người hiểu về
nó một cách như nhau.
VD: khi trả lời về lao động nghề nghiệp có người lại nhìn nó từ góc độ của đặc tính
lao động như lao động chân tay, lao động trí óc; có người nhìn nhận nó từ góc độ đào tạo
trong mối quan hệ giữa lao động đơn giản, lao động tay nghề.
 Những câu trả lời cũng thường được sử dụng với những từ, những thuật ngữ
rất khác nhau, nhiều từ, nhiều thuật ngữ mang tính đa nghĩa.
+ Câu hỏi mở đòi hỏi người trả lời có khả năng diễn đạt bằng lời nói hay bằng văn
viết, và một cách tổng quát đòi hỏi một trình độ học vấn cao.
+ Câu hỏi mở thường có tính cách tổng quát nhằm khám phá các khía cạnh của vấn
đề, do đó có thể mơ hồ với người trả lời.
+ Câu hỏi mở thường có thể đòi hỏi nhiều thời gian và nổ lực của người trả lời do
đó có thể có tỉ lệ bị từ chối cao.
+ Câu hỏi mở chiếm nhiều giấy và do đó có thể làm cho phiếu dài ra hơn, làm một
số người không muốn trả lời.
PPNCKH - Hoàng Bích Trâm Trang 20
Thu Thập Thông Tin Bằng Phiếu Điều Tra PGS.TS Trịnh Văn Biều
2.2.2.2. Câu hỏi đóng
 Khái niệm: Loại câu hỏi này luôn luôn kèm theo các câu trả lời được chuẩn bị
trước. Ở đây tính chủ động của người được hỏi bị hạn chế. Người trả lời không chỉ
quan tâm câu hỏi mà còn tất cả các phương án trả lời được nêu ra, để sau đó chỉ ra
các phương án trả lời nào đó mà họ thấy phù hợp nhất.
VD: Kết quả trung bình điểm thi các môn học trong học kì vừa qua của bạn được xếp
vào loại:
1. Xuất sắc  4. Trung bình 
2. Giỏi  5. Yếu 
3. Khá  6. Kém 
 Phân loại: Căn cứ vào các phương án trả lời được đưa ra như các khả năng cho sự
lựa chọn thì tốt nhất nên chia làm hai loại: câu hỏi đóng lựa chọn và câu hỏi đóng

nhất là chuyển nó thành câu hỏi đóng lựa chọn cân bằng hơn.
Ví dụ: Anh chị có hài lòng với tiền lương hiện nay không ?
Có  Không 
 Có thể chuyển thành: Trong cơ quan chúng ta có một số người hài lòng với
tiền lương hiện nay của mình, một số người khác không hài lòng, cón anh/chị
thì thế nào ?
Tôi hài lòng  Tôi không hài lòng 
Hoặc một câu hỏi khác: Anh/chị có xem chương trình thời sự các buổi tối trên ti vi ?
Có  Không 
Chúng ta có thể đặt: Anh/chị thường xuyên hay ít khi xem chương trình thời sự các
buổi tối trên ti vi ?
1. Thường xuyên ( hàng ngày) 
2. Thỉnh thoảng (1,2,3 tối/tuần) 
3. Ít khi xem (vài lần trong tháng) 
PPNCKH - Hoàng Bích Trâm Trang 22
Thu Thập Thông Tin Bằng Phiếu Điều Tra PGS.TS Trịnh Văn Biều
4. Không xem 
Với sự cân bằng của việc lựa chọn trong cách diễn đạt câu hỏi sẽ làm cho câu trả
lời ít dịch chuyển hơn nhiều.
+ Câu hỏi đóng tùy chọn
Khác với câu hỏi đóng lựa chọn ở chỗ: nếu ở câu hỏi đóng lựa chọn người trả lời
chỉ chọn một trong các câu trả lời được đưa ra, thì trong câu hỏi đóng tùy chọn, người trả
lời có thể được chọn một hay một vài câu trả lời được đưa ra.
VD: Anh/chị ưa thích môn thể thao nào trong các môn thể thao sau ?
Bóng đá 
Bóng chuyền 
Bóng bàn 
Bóng rỗ 
 Đặc điểm của câu hỏi đóng tùy chọn:
 Người được hỏi có thể đưa ra một hoặc hai hoặc ba hay hơn nữa trong số các

trả lời vì vậy họ không để lại bút tích gì trong phiếu điều tra.
+ Các câu trả lời được chuẩn hóa và so sánh với nhau.
+ Câu trả lời thường dễ được mã hóa và phân tích.
+ Người trả lời dễ dàng hiểu được ý nghĩa câu hỏi, bởi lẽ nếu không hiểu được
nghĩa của câu hỏi thì người trả lời cũng đoán được qua các phương án mà câu
trả lời đưa ra.
+ Các câu trả lời thường khá đầy đủ và do đó người nghiên cứu ít nhận được
các câu trả lời không thích hợp.
+ Đôi lúc câu hỏi đóng dễ được trả lời hơn các câu hỏi mở khi các biến có liên
quan đến một vài vấn đề nhạy cảm như lợi tức, số năm học đã hoàn thành,
tuổi tác hay vấn đề tình yêu, hôn nhân…
PPNCKH - Hoàng Bích Trâm Trang 24
Thu Thập Thông Tin Bằng Phiếu Điều Tra PGS.TS Trịnh Văn Biều
+ Câu hỏi đóng thường dễ trả lời vì người trả lời chỉ chọn một hay nhiều khả
năng đã được đưa ra.
- Nhược điểm
+ Vì các câu trả lời được chuẩn bị trước vì vậy sẽ làm bó hẹp tư duy, suy nghĩ
của người trả lời. Làm hạn chế khả năng sáng tạo, khả năng đánh giá và
hướng suy nghĩ của họ.
+ Trong một phiếu điều tra, nếu xếp đặt nhiều câu hỏi đóng liền kề nhau, thì
làm cho người trả lời “lười” suy nghĩ đi rất nhiều.
+ Đối với một người trả lời không có ý kiến hay không biết trả lời thế nào thì
cũng dễ có trường hợp họ chọn một phương án sẵn có nào đó.
+ Đôi lúc người trả lời cảm thấy bị gò bó vì không có câu trả lời thích hợp.
+ Không thể khám phá ra các lối giải thích khác nhau về câu hỏi, trong khi với
một câu hỏi mở có thể biết người trả lời có hiểu câu hỏi hay không.
+ Những dị biệt trong những câu trả lời của những người trả lời khác nhau đôi
lúc được che giấu một cách giả tạo bởi lẽ họ phải chọn một phương án trả lời
nào đó.
+ Cũng có trường hợp người trả lời khoanh số hay đánh dấu sai.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status