tiểu luận phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên đề các hình thức nghiên cứu khoa học - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
 
TIỂU LUẬN
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
(Chương trình sau đại học)
CÁC HÌNH THỨC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
GVHD: PGS.TS. TRỊNH VĂN BIỀU
HVTH: LÊ VIẾT ÁI LAN

TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 03 NĂM 2013
Các hình thức nghiên cứu khoa học
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4
1.1. Khái niệm 4
1.2. Các chức năng cơ bản của nghiên cứu khoa học 5
1.3. Các đặc điểm của nghiên cứu khoa học 6
1.4. Các bước nghiên cứu khoa học 7
1.5. Các yêu cầu nghiên cứu khoa học 9
1.6. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu khoa học………………….10
CHƯƠNG 2: CÁC HÌNH THỨC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 10
2.1. Các loại hình nghiên cứu khoa học 10
2.1.1. Nghiên cứu cơ bản 10
2.1.2. Nghiên cứu ứng dụng 11
2.1.3. Nghiên cứu triển khai 11
2.1.4. Mối liên hệ giữa các hình thức nghiên cứu 12
2.2. Các hình thức công bố kết quả nghiên cứu 14
2.1. Tóm tắt khoa học 14
2.2. Tổng luận khoa học 14
2.3. Nhận xét khoa học 15
2.4. Bài báo khoa học 17

có phương pháp thì cũng có thể gọi là nghiên cứu khoa học.
 NCKH là một hoạt động xã hội, với chức năng tìm kiếm những điều mà
khoa học chưa biết, hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về
thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kĩ thuật mới để cải tạo thế
giới.
Theo Dương Thiệu Tống, NCKH là một hoạt động tìm hiểu có tính hệ thống đạt
đến sự hiểu biết được kiểm chứng. Nó là một hoạt động nỗ lực có chủ đích, có tổ chức
nhằm thu thập những thông tin, xem xét kỹ, phân tích xếp đặt các dữ liệu lại với nhau rồi
đánh giá các thông tin ấy bằng con đường quy nạp và diễn dịch.
 Vậy, NCKH là hoạt động tìm tòi, khám phá bản chất và các quy luật vận
động của thế giới, là quá trình phát minh, sáng tạo ra những tri thức mới cho nhân
loại.
 NCKH nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới:
Lê Viết Ái Lan Trang
4
Các hình thức nghiên cứu khoa học
- Khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật hoặc hiện tượng.
- Phát hiện qui luật vận động của sự vật, hiện tượng.
- Vận dụng qui luật để sáng tạo giải pháp tác động vào sự vật, hiện tượng.
1 Các chức năng cơ bản của NCKH [1]
 Mô tả : là trình bày bằng ngôn ngữ hình ảnh chung nhất của sự vật, cấu
trúc, trạng thái, sự vận động của sự vật. Nghiên cứu mô tả đưa ra một hệ thống tri thức về
sự vật, giúp con người nhận dạng thế giới, phân biệt được sự khác biệt về bản chất giữa
sự vật này với sự vật khác. Nội dung mô tả có thể bao gồm: mô tả hình thái bên ngoài, mô
tả cấu trúc sự vật, mô tả động thái của sự vật trong quá trình vận động, mô tả tương tác
giữa các yếu tố cấu thành sự vật, mô tả các tác nhân gây ra sự vận động của sự vật, mô tả
hậu quả của các tác động vào sự vật, mô tả các quy luật chung chi phối quá trình vận
động của sự vật, mô tả định tính chỉ rõ các đặc trưng về chất của sự vật; mô tả định lượng
nhằm chỉ rõ các đặc trưng về lượng của sự vật.
 Giải thích : là làm rõ nguyên nhân sự hình thành và qui luật chi phối quá

sáng tạo các giải pháp cải tạo thế giới. Sáng tạo ở đây chứa đựng một ý nghĩa chung nhất,
bao gồm các phương pháp và phương tiện. Đó có thể là một sản phẩm mới, một phương
pháp mới, có thể là những giải pháp tác nghiệp trong hoạt động xã hội,…
1 Các đặc điểm của NCKH [1]
 Tính mới: Tính mới ở đây có thể hiểu là trước đó chưa ai biết, biết chưa
chính xác, chưa đầy đủ và chưa sâu sắc. Hướng tới cái mới đòi hỏi sự sáng tạo và nhạy
bén của tư duy. Đây là đặc điểm quan trọng nhất của lao động khoa học.
 Tính tin cậy: Kết quả nghiên cứu phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều
lần do nhiều người khác nhau trong điều kiện giống nhau. Tính tin cậy còn thể hiện ở tài
liệu tham khảo.
 Tính thông tin: Đây là đặc điểm quan trọng của NCKH. Bất kỳ sản phẩm
nào của NCKH đều mang đặc trưng là những thông tin về qui luật vận động của sự vật
hoặc hiện tượng, thông tin về qui trình công nghệ và các tham số đi kèm qui trình đó. Đặc
Lê Viết Ái Lan Trang
6
Các hình thức nghiên cứu khoa học
điểm này phản ánh trình độ và năng lực của người nghiên cứu: phải biết tìm thấy trong
các nguồn thông tin những giá trị hữu ích phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
 Tính khách quan: vừa là một đặc điểm của NCKH vừa là tiêu chuẩn của
người NCKH. Khách quan tức là mọi cái đưa ra đều có thể xác nhận được bằng các giác
quan hoặc bằng máy móc. Để đảm bảo tính khách quan, người NCKH không được nhận
định vội vã theo cảm tính, không được đưa ra kết luận thiếu các xác nhận bằng kiểm
chứng, mà cần phải tự trắc nghiệm lại những kết luận tưởng như đã hoàn toàn được xác
nhận.
 Tính rủi ro: Một nghiên cứu có thể thành công, có thể thất bại. Thất bại có
thể do nhiều nguyên nhân khác nhau: thiếu thông tin cần thiết và đủ tin cậy để xử lý vấn
đề đặt ra; trình độ kỹ thuật của thiết bị không đủ đáp ứng nhu cầu kiểm chứng giải quyết;
khả năng thực hiện của người nghiên cứu chưa đủ tầm xử lý vấn đề; giả thuyết nghiên cứu
đặt ra sai; những tác nhân bất khả kháng…
 Tính kế thừa: Có ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận nghiên cứu.

tự nhiên, các hoạt động xảy ra trong xã hội hàng ngày.
* Tính tò mò của nhà khoa học về điều gì đó cũng đặt ra các câu hỏi hay
“vấn đề” nghiên cứu.
 Bước 2: Xây dựng giả thuyết ⇔ xác định luận đề ⇔ nhận định sơ bộ về bản
chất sự vật, hiện tượng.
Một giả thuyết cần đơn giản, cụ thể và rõ ràng về khái niệm. Giả thuyết đặt ra phải
dựa trên sự quan sát, kiến thức vốn có, các nguyên lý, kinh nghiệm trước đây hoặc dựa
vào nguồn tài liệu tham khảo, kết quả nghiên cứu tương tự trước đây để phát triển nguyên
lý chung hay bằng chứng để giải thích, chứng minh câu hỏi nghiên cứu. Xét về bản chất
logic, giả thuyết được đặt ra từ việc xem xét bản chất riêng, chung của sự vật và mối quan
hệ của chúng hay gọi là quá trình suy luận. Quá trình suy luận là cơ sở hình thành giả
thuyết khoa học.
Kiểm chứng giả thuyết khoa học chính là chứng minh hoặc bác bỏ giả thuyết.
Lê Viết Ái Lan Trang
8
Các hình thức nghiên cứu khoa học
∗ Chứng minh : sử dụng những phương pháp và quy tắc logic (luận chứng),
dựa vào phán đoán đã được công nhận (luận cứ), để khẳng định tính chính xác của
phán đoán cần chứng minh (luận đề). Nguyên tắc chứng minh:
- Luận đề phải rõ ràng và nhất quán. Trả lời câu hỏi “cần chứng minh điều
gì?”
- Luận cứ chính xác và có liên hệ trực tiếp với luận đề. Trả lời câu hỏi
“chứng minh bằng cái gì?”
-Luận chứng không vi phạm các nguyên tắc suy luận. Trả lời câu hỏi
“chứng minh bằng cách nào?”
∗ B ác bỏ: là chứng minh khẳng định tính không chính xác của phán đoán.
Chứng minh bác bỏ một trong ba yếu tố: hoặc luận đề sai, hoặc luận cứ sai hoặc
luận chứng sai
 Bước 3: Lập kế hoạch thu thập thông tin, chọn mẫu khảo sát, dự kiến tiến
độ, phương tiện và phương pháp nghiên cứu

b. NCKH đề xuất những lí thuyết mới, mô hình giáo dục mới, sử dụng phương pháp
mới làm cơ sở khoa học cho những chủ trương và biện pháp cải cách giáo dục.
c. NCKH góp phần quan trọng trong việc hình thành tính năng động, sáng tạo- một
trong những yêu cầu đặc biệt cần thiết trong xã hội hiện nay, là hoạt động không
thể thiếu của sinh viên trong các trường đại học, là một trong những yêu cầu cơ
bản đối với việc đào tạo cán bộ.
d. NCKH góp phần quan trọng trong việc bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ giảng
viên các trường cao đẳng, đại học, giáo viên các trường phổ thông. NCKH góp
phần nâng cao chất lượng dạy của gióa viên và chất lượng học của học sinh.
Lê Viết Ái Lan Trang
10
Các hình thức nghiên cứu khoa học
CHƯƠNG 2: CÁC HÌNH THỨC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
2.1 Các loại hình nghiên cứu khoa học [1]
2.1.1. Nghiên cứu cơ bản
Nghiên cứu cơ bản là những hoạt động nghiên cứu tìm ra những qui luật chung,
những hướng đi lớn (nghiên cứu nguồn gốc của sự sống, nghiên cứu hệ thống giáo dục
quốc dân, nghiên cứu mô hình kinh tế, nghiên cứu vật lí, hóa học ) tìm ra loại nguyên
liệu mới, tìm ra những công cụ toán học mới v.v
Nghiên cứu cơ bản nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái các sự vật,
tương tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ giữa sự vật với các sự vật khác. Kết quả của
nghiên cứu cơ bản là những phân tích lý luận, những kết luận về quy luật, những định
luật, những phát minh mới,… Nghiên cứu cơ bản luôn đi trước các loại hình nghiên cứu
khác.
Sản phẩm nghiên cứu cơ bản có thể là các khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn đến
viêc hình thành một hệ thống lý thuyết có giá trị tổng quát, ảnh hưởng đến một hoặc nhiều
lĩnh vực khoa học. VD: Newton phát minh ra định luật hấp dẫn
Nghiên cứu cơ bản được phân thành hai loại :
- Nghiên cứu cơ bản thuần túy (hay nghiên cứu cơ bản tự do hoặc nghiên
cứu cơ bản không định hướng): là những nghiên cứu về bản chất sự vật để nâng

Tuy nhiên trên thực tế, trong một đề tài có thể tồn tại cả ba loại hình nghiên cứu, hoặc tồn
tại hai trong ba loại hình nghiên cứu.
VD: quá trình biên soạn SGK:
- Nhà lí luận dạy học nghiên cứu quá trình dạy học, các nguyên tắc dạy
học (NCCB).
- Các nhà lí luận dạy học bộ môn vận dụng vào việc tìm kiếm một cấu trúc
sách giáo khoa với nội dung phù hợp cho lứa tuổi, cho thời đại (NC ứng dụng).
Lê Viết Ái Lan Trang
12
Các hình thức nghiên cứu khoa học
- Các nhà lí luận dạy học, giáo viên triển khai bộ SGK ở một số trường,
một số khu vực. Họ tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh để có bộ SGK cho toàn quốc
(NC triển khai).
Việc tạo ra lý thuyết mới về toán, giải được những phương trình phức tạp, hoặc
việc nghiên cứu tìm tòi những hạt cơ bản trong vật lý đều không trực tiếp làm ra sản
phẩm. Nhưng, những kiến thức cơ bản đó sẽ giúp ích rất lớn cho nghiên cứu ứng dụng,
làm tiền đề cho những nghiên cứu phát triển công nghệ mới tiên tiến hơn.
Toàn bộ các loại hình nghiên cứu và mối liên hệ giữa các loại hình nghiên cứu
được trình bày trong sơ đồ bên dưới:
Lê Viết Ái Lan Trang
Nghiên cứu cơ bản
Nghiên cứu
ứng dụng
Triển khai
Nghiên cứu cơ bản
thuần túy
Nghiên cứu cơ bản
định hướng
Triển khai trong
phòng thí nghiệm

hơn tóm tắt khoa học, nội dung đa dạng hơn: người nghiên cứu tóm tắt, đánh giá, tổng kết
nhiều tài liệu của một hội nghị, hội thảo khoa học, một tập san khoa học
Nội dung của một tổng luận khoa học thưòng gồm các phần sau:
- Lý do làm tổng luận.
- Giới thiệu chung về toàn bộ vấn đề được làm tổng luận.
Lê Viết Ái Lan Trang
14
Các hình thức nghiên cứu khoa học
- Tóm lược các thành tựu, các luận đề, cách tiếp cận, phương pháp nghiên
cứu và các trường phái khoa học.
- Nhận xét của người viết tổng luận về các thành tựu, cách tiếp cận, phương
pháp nghiên cứu và chỉ ra chỗ mạnh, chỗ yếu, những vấn đề chưa được giải quyết
hoặc giải quyết chưa đầy đủ, chưa trọn vẹn…
Có hai cách làm:
 Tổng luận theo bài viết: thâu tóm các bản tóm tắt khoa học cho từng bài
trong tập san hoặc từng báo cáo trong hội nghị khoa học. Ðể ngắn gọn và
mang tính khoa học, tác giả có thể vắn tắt giới thiệu những bài mà mình cho
là không có gì đặc sắc, còn những bài quan trọng (nội dung mới, nội dung
đáng quan tâm hoặc đang bàn cãi ) có thể tóm tắt đầy đủ như một tóm tắt
khoa học.
 Tổng luận theo chủ đề khoa học: tập trung các bài cùng một chủ đề để tóm
tắt như một TTKH. Mỗi chủ đề được tóm tắt thành một bài, các nội dung
của một chủ đề được tiếp nối một cách hệ thống, trong đó ý của tác giả nào
phải viết rõ tên tác giả đó. Các ý mới hoặc còn tranh luận cũng được đưa ra
chắc chắn và sắc bén.
2.2.3. Nhận xét khoa học [1,2,3]
2.2.3.1. Nhận xét phản biện khoa học:
Là một văn bản viết với mục đích phân tích, đánh giá công trình nghiên cứu, luận
văn, luận án.
a) Về hình thức trình bày của bản nhận xét phản biện:

triển; công trình được áp dụng…
2.2.3.2. Nhận xét luận án ở Hội đồng cơ sở
Theo hướng dẫn đánh giá luận án tiến sĩ số 8217/SĐH của Bộ Giáo dục và Đào tạo
ngày 01/9/2000, bản nhận xét luận án ở Hội đồng cơ sở cần nêu rõ các nội dung sau :
- Ý nghĩa khoa học của đề tài.
Lê Viết Ái Lan Trang
16
Các hình thức nghiên cứu khoa học
- Sự hợp lí và độ tin cậy của các phương pháp nghiên cứu.
- Đánh gía các kết quả đạt được, những đóng góp mới và giá trị của những đóng
góp đó.
- Những ưu điểm, thiếu sót; những điểm cần bổ sung, sửa chữa.
- Nhận xét về chất lượng các bài báo đã được công bố của nghiên cứu sinh. Khẳng
định các bài báo đó có chứa đựng nội dung chủ yếu của luận án hay chưa.
- Kết luận nội dung và hình thức của luận án có đáp ứng được yêu cầu của một
luận án tiến sĩ và có thể bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp nhà nước hay chưa.
2.2.4. Bài báo khoa học (BBKH)[2]
Bài báo khoa học là một ấn phẩm mà nội dung có chứa những thông tin mới (dựa
trên kết quả quan sát và thực nghiệm khoa học) có giá trị khoa học và thực tiễn được đăng
trên các tạp chí khoa học chuyên ngành với những mục đích khác nhau như: công bố một
ý tưởng khoa học; công bố từng kết quả riêng biệt của một công trình nghiên cứu dài hạn;
công bố kết quả nghiên cứu toàn bộ cồg trình; đề xướng một cuộc tranh luận hay tham gia
tranh luận trên các tạp chí hoặc hội nghị khoa học.
Bài báo khoa học là những bài thực sự là một công trình nghiên cứu, những bài
báo khác dưới dạng trao đổi kinh nghiệm, thông tin, định hướng hoạt động… không được
đánh giá là công trình nghiên cứu. Bài báo được chấp nhận là một công trình nghiên cứu
khoa học phải đạt 4 tiêu chuẩn sau:
Lê Viết Ái Lan Trang
17
Các hình thức nghiên cứu khoa học

Cho nên trong luận chứng cần trình bày rõ ràng từng luận cứ (sự kiện, hiện tượng,
lần làm thí nghiệm và kết quả ). Những chú ý khi viết luận chứng:
- Một bài báo dù là viết về một vấn đề đơn giản cũng cần ít nhất ba luận cứ
cho một kết luận (sơ đồ a).
- Các luận cứ cho một kết luận cần được làm rõ, tập trung vào một tiêu điểm
để đủ khái quát hóa cho kết luận ấy một cách vững chắc.
- Bài báo dài hay ngắn cũng do các luận cứ nhiều hay ít. Nếu nhiều luận cứ,
nhiều biểu bảng thì cần chọn lọc hoặc rút ngắn một cách hợp lí, đủ để thỏa mãn
yêu cầu về tính thuyết phục.
- Nếu một bài báo đưa ra nhiều kết luận quan trọng thì cần gom các luận cứ
cho một kết luận lại thành một đoạn. Có thể phân chia đề mục cho rõ ràng và dễ
nhận thức (sơ đồ b)
3. Kết luận chung của bài báo: Ðoạn này mang hai ý nghĩa: thâu tóm kết
quả để đề xuất ý kiến nào đó và phải nói lên được tư tưởng chính của tác giả.
2.2.5. Báo cáo khoa học (BCKH)
Báo cáo khoa học là một bài phát biểu được trình bày tại hội nghị khoa học chuyên
ngành; nội dung phải là một tài liệu có giá trị khoa học, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn- đó
là kết quả của quá trình nghiên cứu của tác giả hoặc đồng tác giả.
Lê Viết Ái Lan Trang
19
Các hình thức nghiên cứu khoa học
Nếu so sánh BBKH với một BCKH (cùng một nội dung) thì chúng giống nhau ở
cấu trúc song khác nhau ở chỗ một bên thì viết một bên thì nói. Viết thì bị giới hạn ở số
trang còn nói thì bị giới hạn ở thời gian. Thông thường, mỗi BCKH được dành cho
khoảng thời gian từ 10 đến 15 phút. Tạm phân biệt hai loại BCKH như sau:
2.2.5.1. BCKH trong hội thảo, hội nghị khoa học:
Đây không phải là việc đọc lại bài viết mà là nói trưóc Hội nghị. Một báo cáo
tham dự hội nghị, hội thảo khoa học cần nêu được những nội dung ngắn gọn, súc tích đi
thẳng vào chủ đề với đầy đủ các tài liệu lý thuyết và thực tế; có luận cứ và luận chứng; có
kết luận xác đáng; có đề xuất các giải pháp cho thực tiễn; tác giả có đề xuât ý kiến thảo

 Mở đầu: giới thiệu tên đề tài, người hướng dẫn và phản biện.
 Ðặt vấn đề: Tại sao nghiên cứu vấn đề này? (có thể nói tự do hoặc
đọc nguyên văn trong bài tóm tắt để đảm bảo thời gian). Giả thuyết của đề tài là
gì? Các bước làm đề tài? Các phương pháp nghiên cứu?
 Nội dung chính: những công việc nghiên cứu và kết quả
* Một số vấn vấn đề lí thuyết đã nghiên cứu để làm cơ sở chính cho
đề tài.
* Nếu là đề tài quan sát, điều tra thì giới thiệu mẫu quan sát, chọn
mẫu điều tra, bảng hỏi, kết quả công việc, nhận xét
* Nếu là công trình lí thuyết thì trình bày các luận cứ, các công đoạn
tính toán, các suy luận.
* Nếu là công trình thực nghiệm thì trình bày việc chọn mẫu thực
nghiệm (TNSP) bảng số liệu, hình ảnh, phương pháp xử lí số liệu, suy
luận
 Kết luận:
* Nhắc lại giả thuyết và khẳng định các giả thuyết đó.
* Những khó khăn, sai số, nguyên nhân sai số, hướng khắc phục.
* Kiến nghị (nếu có), hứa hẹn tiếp tục nghiên cứu.
Lê Viết Ái Lan Trang
21
Các hình thức nghiên cứu khoa học
 Chú ý:
- Tất cả các nội dung báo cáo đều phải chuẩn bị trên giấy trong (transparency) để
tiết kiệm thời gian. Những bản giấy trong này cần được chuẩn bị riêng, nếu là văn bản thì
chú ý tóm tắt nội dung cần trình bày và cỡ chữ cho phù hợp. Những bảng số liệu, đồ thị
thì có thể chụp nguyên trong LV hoặc thêm những hình ảnh bên ngoài cho bài báo cáo
thêm phong phú và sinh động.
- Một BCKH luôn có chất vấn của Hội đồng nghiệm thu (hay Hội đồng chấm luận
văn) hoặc trao đổi giữa tác giả và cử tọa. Vì vậy, khi trình bày, tác giả không cần nói tỉ mỉ
mọi chuyện mình đã làm cũng như không cần dừng lại lâu ở các hình chiếu, sơ đồ, biểu

Yêu cầu đối với luận văn thạc sĩ:
- Có độ dài khoảng 100 trang và được bảo vệ trước Hội đồng để lấy học vị thạc sỹ.
- Luận văn phải có ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn
- Số liệu và các nguồn trích dẫn phải chính xác và đáng tin cậy
- Văn phong mạch lạc, chuẩn xác
- Được trình bày đúng quy định và thể hiện người viết có phương pháp nghiên cứu.
Lê Viết Ái Lan Trang
23
Các hình thức nghiên cứu khoa học
2.2.6.3. Luận án Tiến sĩ:
Là công trình khoa học kết thúc quá trình đào tạo của nghiên cứu sinh, do tác giả
gần như tự lực hoàn toàn thực hiện. Luận án thể hiện khả năng độc lập, sáng tạo nghiên
cứu khoa học của nghiên cứu sinh. Luận án đánh dấu bước ngoặt của người làm khoa học,
nó chứng tỏ tác giả đã có khả năng làm việc khoa học độc lập. Không những thế, tác giả
còn có khả năng hướng dẫn hoặc chủ trì một công việc khoa học quan trọng sau này.
Luận án tiến sĩ phải có hai tính chất quan trọng:
a.Tính học thuật (academic)
- Triển khai bằng ngôn ngữ khoa học,những khung lý luận cơ bản trong ngành
- Gói ghém có phê phán tất cả các lý luận, các kết quả mà các công trình nghiên cứu
trước đã đạt được liên quan đến đề tài của mình
b.Tính độc sáng (originality)
-Đặt ra được những vấn đề mới
-Đưa ra được những giả thuyết hay lý luận mới
-Kiểm chứng bằng những tư liệu mới
Lê Viết Ái Lan Trang
24
Các hình thức nghiên cứu khoa học
KẾT LUẬN
Các kết quả nghiên cứu khoa học cần được viết ra dưói dạng các tài liệu khoa học
khác nhau để công bố (trừ những lĩnh vực phải giữ bí mật). Các tài liệu khoa học có thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status