TIỂU LUẬN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH Giáo viên hướng dẫn PGS. TSKH Nguyễn Xuân Huy - Pdf 24

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

TIỂU LUẬN
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH
Giáo viên hướng dẫn : PGS. TSKH Nguyễn Xuân Huy
Lớp : Cao học K12E
2
MỤC LỤC
3
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nghiên cứu khoa học thì việc viết các báo cáo nghiên cứu khoa học,
luận văn hay luận án là việc cần thiết và ta phải tuân thủ theo một số quy định
chặt chẽ. Để việc làm luận văn, báo cáo nghiên cứu khoa học trở nên đơn giản và
đạt hiệu quả tốt nhất thì chúng ta cần phải nắm rõ các quy tắc cũng như kỹ năng và
phương pháp trình bày trong quá trình thực hiện.
Với nội dung môn học “Phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành”
đã được học, nhóm tác giả thực hiện bài báo cáo tiểu luận với các nội dung sau:
CHƯƠNG 1: PHÂN BIỆT CÁC KHÁI NIỆM
CHƯƠNG 2: PHÂN BIỆT CÁC THUẬT NGỮ
CHƯƠNG 3: KỸ NĂNG TRÌNH BÀY
CHƯƠNG 4: NHẬN XÉT ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
4
CHƯƠNG 1
PHÂN BIỆT CÁC KHÁI NIỆM
Sáng tạo, sáng chế, sáng tác, phát minh, phát kiến, phát hiện, ý tưởng, chế tác
1.1. Sáng tạo
Sáng tạo (Creativity): là hoạt động tạo ra bất kỳ cái gì có đồng thời tính
mới và tính lợi ích [1].
Trong định nghĩa khái niệm này, từ "hoạt động" được dùng với nghĩa rất

nghĩa thương mại, trong thực tế người ta có thể mua, bán sáng chế (chuyển
nhượng quyền sở hữu sáng chế) hoặc license sáng chế (chuyển quyền sử dụng
sáng chế).
Có 3 tiêu chí bắt buộc để một giải pháp kỹ thuật được cấp Bằng độc quyền
sáng chế (Patent), đó là: Có tính mới (so với thế giới); có trình độ sáng tạo; có khả
năng áp dụng công nghiệp.
Tính mới là một trong những tiêu chí hàng đầu của sáng chế (phát minh và
phát hiện không có tiêu chí này). Như vậy, một sáng chế không sử dụng tình trạng
kỹ thuật đã biết.
Tính sáng tạo của sáng chế được thể hiện trên 3 khía cạnh, đó là: Vấn đề
cần giải quyết, giải pháp cho vấn đề đó và các ưu điểm của sáng chế so với tình
trạng kỹ thuật đã biết.
6
Khả năng áp dụng công nghiệp của một sáng chế là vệc sản xuất, sử dụng
sáng chế đó bằng những phương tiện kỹ thuật ở một quy mô nhất định. Sáng chế
được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế
tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung
của sáng chế và thu được kết quả ổn định.
• Ví dụ
Johannes Gutenberg sáng chế ra máy in
năm 1450
Thomas Alva Edison sáng chế
ra bóng đèn sợi tóc năm 1879
1.3. Sáng tác
Sáng tác là việc tạo dựng nên tác phẩm văn học, nghệ thuật: sáng tác thơ,
nhạc, kịch bản phim. [5]
• Ví dụ
Văn Cao sáng tác bài Tiến quân ca năm 1944 và được sử dụng làm
quốc ca của nước CHXHCN Việt Nam từ năm 1976
Trong mỗi một lĩnh vực văn học, nghệ thuật đều vinh danh các nhà thơ,

1.5. Phát kiến
Phát kiến (Discovery): là tìm ra những gì còn xa lạ chưa biết tới để phục
vụ cho nhu cầu khám phá khoa học, lợi ích kinh tế, tìm hiểu văn hóa, tôn giáo,
hoạt động chính trị.[5]
• Ví dụ

Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học do nhà khoa học Nga Dmitri Mendeleev
soạn ra năm 1869 đã được chọn là phát kiến vĩ đại nhất trong lịch sử vật liệu mới.
• Đặc điểm: giống với phát minh.
1.6. Phát hiện
Phát hiện (Discovery): Là việc khám phá ra những vật thể, những quy
luật xã hội đang tồn tại một cách khách quan.[2]
• Ví dụ
9
Edward Jenner phát hiện ra vacxin
năm 1978
Marie Curie phát hiện nguyên tố phóng
xạ radium
• Đặc điểm
+ Nó chỉ khám phá ra các vật thể hoặc các quy luật xã hội;
+ Làm thay đổi nhận thức;
+ Chưa thể áp dụng trực tiếp vào đời sống;
+ Nó không có giá trị thương mại. Bởi vậy người ta không mua, bán,
chuyển quyền sử dụng các phát hiện.
1.7. Ý tưởng
Ý tưởng được biên dịch từ “Idea” tức là quan niệm, ý kiến, ý tưởng. Ý
tưởng là một lối suy nghĩ có thể tạo ra được một sản phẩm mới hay một ấn phẩm
khác biệt với những gì đang có và đang hiện hữu. Thậm chí ý tưởng là một phát
kiến của mình theo một lối tư duy có logic hợp lý.[6]
Xét về mặt khoa học, ý tưởng có thể là một giai đoạn tiền - giả thuyết hoặc

quy luật của tự nhiên. Định luật không được suy ra một cách logic từ các hệ tiên
đề như là "định lý". Do vậy định luật cần phải được kiểm chứng, và không nhất
thiết luôn đúng.[4]
• Ví dụ
Issac Newton – nhà vật lý người,
nhà toán học người Anh
• Định luật I Newton: Nếu một vật không
chịu tác dụng của lực nào hoặc chịu tác dụng
của các lực có hợp lực bằng 0 thì vật hoặc
đứng yên (nếu lúc đầu nó đang đứng yên) hoặc
chuyển động thẳng đều.
• Đặc điểm của định luật:
+ Là một phát biểu có tính khái quát hóa, dựa trên nhiều quan sát thực
nghiệm lâu dài, lặp đi lặp lại;
+ Định luật thường nói về một quy luật của tự nhiên;
+ Định luật không được suy ra một cách logic từ các hệ tiên đề như là "định
lý". Do vậy định luật cần phải được kiểm chứng, và không nhất thiết luôn đúng.
2.2. Định lý
Định lý là một phát biểu có ý nghĩa, có thể chứng minh một cách logic
chặt chẽ từ một hệ tiên đề cho trước [4].
Một định lý toán học là một mệnh đề toán học đã được, hoặc cần
được chứng minh dựa trên một số hữu hạn các tiên đề và quá trình suy luận.
Chứng minh các định lý là hoạt động chủ yếu trong ngành toán học.
12
• Ví dụ
Định lý bốn màu (còn gọi là định lý bản đồ bốn
màu): đối với bất kỳ mặt phẳng nào được chia
thành các vùng phân biệt, chẳng hạn như bản đồ
hành chính của một quốc gia, chỉ cần dùng tối đa
bốn màu để phân biệt các vùng lân cận với nhau.

• Đặc điểm: Nếu độ quan trọng, hay độ tổng quát thấp, chúng có thể được
gọi là hệ quả, tức là các kết luận dễ dàng suy ra từ định lý quan trọng hơn.
2.4. Tiên đề
Tiên đề là các quy ước ban đầu. Nếu có một hệ tiên đề thì nó phải thỏa
mãn một số quy tắc nhất định (tính độc lập, tính đầy đủ, đóng kín). Đôi khi trong
vật lý nó cũng gần nghĩa với định luật (vì đều là cái không thể chứng minh).[4], [5]
Một tiên đề trong toán học là một đề xuất được coi như luôn đúng mà
không thể và không cần chứng minh.
• Ví dụ
Eclid – nhà toán học
+ Nếu qua điểm M nằm ngoài đường thẳng a có 2
đường thẳng song song với a thì chúng trùng nhau.
+ Qua một điểm ở ngoài đường thẳng chỉ có một
đường thẳng song song với đường thẳng đó.
• Đặc điểm
+ Tiên đề cũng được sử dụng trong các ngành khoa học khác như: vật
lý, hoá học, ngôn ngữ học, v.v.
+ Tiên đề là điều kiện cần thiết để xây dựng bất cứ một lý thuyết nào. Bất
cứ một khẳng định (hay đề xuất) nào đưa ra đều cần được giải thích hay xác
minh bằng một khẳng định khác.
2.5. Bổ đề
14
Trong toán học, bổ đề là một giả thuyết đã được chứng minh hoặc chắc
chắn sẽ được chứng minh dùng làm nền tảng để từ đó các nhà toán học tiếp tục
nghiên cứu và đạt tới một kết quả cao hơn [4].
• Ví dụ
Ngô Bảo Châu là nhà toán học nổi tiếng
với công trình chứng minh Bổ đề cơ bản cho các
dạng tự đẳng cấu do Robert Langlands và Diana
Shelstad phỏng đoán.

chứng minh, còn bản thân định đề không được chứng minh trong khuôn khổ của lí
thuyết ấy. Trong khoa học cổ đại, người ta dùng khái niệm tiên đề cho những luận
đề có quan hệ với mọi đại lượng, còn khái niệm định đề được dùng cho những
luận đề có quan hệ với một đại lượng của một ngành cụ thể nào đó. Trong lôgic
học và phương pháp luận khoa học hiện đại, chúng được sử dụng như những khái
niệm đồng nghĩa, đồng thời khái niệm định đề ít được dùng hơn khái niệm tiên đề.
Đôi khi người ta cũng phân biệt việc sử dụng các thuật ngữ này theo cách của thời
cổ đại: tiên đề là nguyên lí lôgic xuất phát, định đề là nguyên lí xuất phát của một
lí thuyết cụ thể.
2.7. Mệnh đề
Mệnh đề là một khái niệm cơ bản trong lôgic học và triết học. Tùy theo
ứng dụng mà có những định nghĩa khác nhau của mệnh đề.
Mệnh đề toán học là khái niệm cơ bản của toán học không được định
nghĩa mà chỉ được mô tả. Mệnh đề toán học (gọi tắt là mệnh đề) là một khẳng
định có giá trị chân lý xác định (đúng hoặc sai, nhưng không thể vừa đúng vừa
sai) [1], [4].
Ví dụ:
16
1. "Mặt trời mọc đằng đông" ← là mệnh đề đúng.
2. " Mặt trời mọc đằng tây" ← là mệnh đề sai.
3. "Thứ 5 là ngày đầu tuần" ← là mệnh đề sai.
4. "Một năm có 12 tháng và mỗi tuần có 7 ngày" ← là mệnh đề đúng.
8. Các câu sau:
"Cuốn sách này giá bao nhiêu tiền?"
"Ôi! ngôi nhà mới đẹp làm sao!"
đều không phải là mệnh đề.
2.8. Nguyên lí
Nguyên lý thường là một quy luật liên hệ dễ nhớ và nhiều ứng dụng. Về cơ
bản nó chỉ là một định lý (có thể chứng minh được, ví dụ: nguyên lý Đi-rích-lê),
hoặc là một định luật (không chứng minh được, ví dụ: Nguyên lý nhân quả).[4]

mình, củng cố cho sự tự tin khi báo cáo.
Khi viết báo cáo phải trả lời một số câu hỏi:
Mục đích và mục tiêu của bài báo cáo này là gì?
Phải xác định được mục đích của bài báo cáo. Khi mục đích của bài báo
cáo đã rõ ràng lúc này bạn đã có thể xác định mục tiêu của bài báo cáo. Bạn muốn
truyền đạt gì trong đây, bạn muốn người đọc có được kiến thức gì khi đọc bài báo
cáo của bạn. Bạn nên trình bày phần này ở phần giới thiệu của bài báo cáo.
Phạm vi và đối tượng của bài báo cáo.
Bài báo cáo chỉ giới hạn kiến thức cơ bản cho bạn bè bạn hay đó là một bài
báo cáo khoa học mà bạn phải bảo vệ trước hội đồng. Xác định được phạm vi, đối
tượng sẽ xác định được dữ liệu thông tin bạn cần tìm hiểu đến đâu. Ví dụ bạn báo
cáo về kỹ năng giao tiếp cho trẻ nhỏ thì nên chú trọng vào sự lễ phép cho trẻ nhỏ.
Còn nếu đối tượng của bạn là sinh viên thì kỹ năng giao tiếp là làm sao duy trì mối
quan hệ, nói chuyện tự tin, thể hiện mình…
Hiệu quả của bài báo cáo đến đâu?
Trình bày: Bài báo cáo phải được trình bày một cách khoa học, dễ nhìn.
Sử dụng font chữ gì, kích cỡ ra làm sao, tiêu đề, mục lục bạn trình bày như thế
nào. Một bài báo cáo lộn xộn sẽ làm người đọc mởi mắt và không muốn đọc.
18
Ngữ nghĩa: Bởi vì sẽ có nhiều người đọc bài báo cáo của bạn thế nên từ
ngữ sử dụng nên đơn giản dễ hiểu, đừng sử dụng những từ ngữ quá bác học. Làm
thế nào thông tin mà bạn truyền tải ai cũng có thể hiểu được.
Giá trị: Người đọc phải cảm thấy họ được cái gì khi đọc bài báo cáo của
bạn, bạn cung cấp gì trong bài báo cáo này.
3.1.2. Chuẩn bị bài trình diễn
Trong công việc cũng như mọi hoạt động khác, kỹ năng thuyết trình đóng
một phần quan trọng dẫn đến sự thành công của mỗi cá nhân cũng như tập thể. Có
được kỹ năng thuyết trình tốt, bạn sẽ dễ dàng truyền tải được ý tưởng và mong
muốn của mình đến người nghe.
Nhưng để đạt được điều đó, nắm vững nội dung thuyết trình là chưa đủ,

dung thuyết trình. Ví dụ: Buổi thuyết trình về Sở hữu trí tuệ cho các cán bộ của sở
khoa học Công nghệ tỉnh Phú Thọ thì địa điểm là phòng họp với khoảng 50 chỗ.
Trước buổi thuyết trình cần sắp xếp nội thất, khung cảnh địa điểm. Với
một bài thuyết trình về văn học nghệ thuật bạn có thể chọn địa điểm ngoài trời,
trang trí căn phòng ấn tượng với tranh, hoa, tượng Nhưng với một buổi thuyết
trình về đề tài khoa học bạn không cần sắp đặt căn phòng quá cầu kì với các đồ
trang trí rườm rà.
Tập nói trước ở địa điểm đã chọn. Nếu ở ngoài trời thì cần tăng âm thanh.
Nếu trong phòng nhỏ điều chỉnh âm lượng vừa phải là khôn ngoan. Lưu tâm đến
độ sáng của địa điểm để bạn có thể đọc được những ghi chú của bản thân và cả
người tham dự có thể theo dõi được những tư liệu bạn cung cấp.
3.1.2.2. Thiết bị hỗ trợ.
- Kiểm tra chất lượng các thiết bị hỗ trợ.
- Các thiết bị phải tương thích ăn khớp với nhau.
- Các thiết bị phải tương thích với không gian và thời gian của buổi thuyết
trình.
20
Không thể dùng 1 màn hình 19 inch khi có đến hơn 200 người tham gia.
3.1.3. Luyện tập và trang phục
3.1.3.1. Rèn luyện lâu dài:
Giọng nói chuẩn là cần thiết, bạn cũng nên tập thở bằng bụng để cho hơi
được dài, thường xuyên đọc văn và hành văn để có lời nói hay, cũng cần phải tập
sử dụng nhiều giọng điệu khác nhau. Không phải ai sinh ra cũng có giọng nói hay,
nhưng nếu kiên trì tập luyện, giọng nói của bạn sẽ có sức lôi cuốn khán giả.
Ứng khẩu: viết dàn bài ra giấy, tập nói một mình nhiều lần, bạn sẽ luyện
được khả năng xử lý ngôn từ nhanh. Đồng thời, thường xuyên thu thập dụng ngữ,
lời hay, cách dùng từ ngữ lạ từ sách báo, trong khi nói chuyện.
Cử chỉ: tập sử dụng các cử chỉ của tay, nét mặt để thể hiện tình cảm trong
khi thuyết trình.
Để quá trình rèn luyện này có hiệu quả, cách tốt nhất là cùng học theo

+ Truyền sự tin tưởng, tự tin.
+ Trả lời các câu hỏi rõ ràng.
• Người nghe muốn:
+ Hướng sự chú ý vào người nghe.
+ Bày tỏ sự tôn trọng với người nghe, tập trung vào người nghe xem xét
những ý kiến của họ thật kỹ lưỡng. Không nên tỏ ra coi thường người nghe, vẻ
mặt cũng không được thiếu tôn trọng.
+ Đôi lúc cũng phải để người nghe được nói ra ý kiến của mình.
+ Người nói tạo ra những câu nói dí dỏm hài hước mang tính gợi mở và dễ
hiểu cho người nghe.
+ Người nói sử dụng ngôn ngữ cơ thể: hãy cởi mở với người nghe. Mặt đối
mặt và nhìn họ. Đừng để vật gì tạo ra khoảng cách giữa mình và người nghe.
+ Đặt câu hỏi: người nghe sẽ có thắc mắc những gì đã nghe và khi gặp thời
điểm thích hợp họ có thể đưa ra những câu hỏi để xác nhận lại thông tin.
+ Đề cập đến vấn đề mà người nghe đặc biệt quan tâm.
+ Diễn giải nội dung trình bày.
+ Chuẩn bị tất cả các phương án trước khi nói.
22
+ Thông tin mới.
+ Phân loại thông tin, nói có trật tự.
+ Thông tin cũ nhưng quan trọng.
• Người nghe không muốn:
+ Diễn giải lan man, khô khan.
+ Không hướng sự chú ý vào người nghe.
+ Lời lẽ thiếu tôn trọng với người nghe.
+ Không xem xét ý kiến của họ một cách kỹ lưỡng.
+ Tỏ ra coi thường người nghe, vẻ mặt cũng lộ rõ sự coi thường.
+ Không cho người nghe có ý kiến.
+ Đặt ra các câu hỏi khó hiểu và không có thông tin gì để trả lời.
+ Nói đến các vấn đề mà người nghe không quan tâm.

giản.
Tựa đề trên mỗi slide cũng giống như bảng chỉ đường. Bảng chỉ đường
dẫn dắt câu chuyện một cách logic và lí thú. Do đó, tác giả cần phải suy nghĩ cách
đặt tựa đề cho mỗi slide sao cho đơn giản nhưng đủ để khán giả biết mình đang ở
đâu trong câu chuyện.
Mỗi slide chỉ nên trình bày một ý tưởng. Đây là điều quan trọng không nên
nhồi nhét hơn một ý tưởng vào một slide. Do đó, tất cả những bullet, dữ liệu, hoặc
biểu đồ trong slide chỉ nên dùng để yểm trợ cho ý tưởng chính.
Ý tưởng của slide có thể thể hiện qua tựa đề của slide. Nếu tựa đề slide
không chuyển tải được ý tưởng một cách nhanh chóng, thì diễn giả sẽ phải tốn thì
giờ giải thích, và có thể làm loãng hay làm cho khán giả sao lãng vấn đề.
Một slides có quá nhiều chữ (text) sẽ làm khán giả khó theo dõi và ý tưởng
bị loãng. Mỗi slide, nếu chỉ có chữ, thì nên tuân thủ theo công thức n x n. Công
thức này có nghĩa là nếu quyết định mỗi slide có 5 dòng chữ thì mỗi dòng chỉ nên
có 5 chữ. Một slide không nên có quá 6 dòng chữ (n < 7).[7]
24
Có thể sử dụng thêm hình ảnh và âm thanh để tăng hiệu quả vì nó giúp
người nghe nhanh chóng hiểu nội dung của bài thuyết trình. Tuy nhiên lại phải bỏ
thời gian để giải thích chúng.
Tránh sử dụng quá nhiều hiệu ứng (animation) cho các slide. Khi sử dụng
thì càng đơn giản càng tốt.
Font và cỡ chữ: Có hai nhóm font chữ chính: nhóm chữ không có chân
(sans serif) và nhóm có chân. Nhóm sans serif bao gồm Arial, Comic Sans,
Papyrus, v.v. Nhóm font chữ có chân bao gồm Times New Roman, Courier,
Script, v.v. Nhiều nghiên cứu tâm lí chỉ ra rằng font chữ sans serif thường dễ
đọc. Người đọc tiêu ra ít thời gian để đọc các font chữ như Arial hơn là Times hay
Times New Roman. Chính vì thế mà các “đại gia” internet như Google, yahoo,
Firefox, YouTube, v.v. đều dùng font chữ Arial, hay các font tương tự.
Về cỡ chữ (size), phần lớn các chuyên gia khuyến cáo nên dùng cỡ (size)
từ 18 trở lên. Nếu dùng font chữ với cỡ <18 khán giả sẽ khó đọc, nhất là trong các

- Đứng thẳng người.
- Thái độ: thoải mái nhiệt tình trong
cách di chuyển, cách thể hiện.
- Đặt các câu hỏi dễ.
- Thường xuyên kiểm tra mức độ hiểu
của người nghe.
- Sử dụng cách giao tiếp bằng mắt để
thu nhận sự phản hồi của người nghe;
- Thay đổi các cử chỉ thể hiện.
- Giao lưu với người nghe.
- Ăn mặc phù hợp.
- Sử dụng ngôn ngữ đơn giản, súc tích để
đảm bảo bài thuyết trình rõ ràng, dễ hiểu;
- Ngắt nhịp dứt khoát và có chủ ý để
người nghe có thời gian chiêm nghiệm
những gì bạn nói.
- Khởi đầu thiếu tích cực.
- Lau bảng liên tục, cầm khăn lau bảng.
- Không nên đứng yên một chỗ.
- Không nên đi lại quá nhiều.
- Không đứng quay lưng hay nghiêng
người về phía người nghe.
- Không nên cho tay vào túi quần khi
nói.
- Không hiểu người nghe muốn gì.
- Sử dụng các cử chỉ khiếm nhã, thiếu
tôn trọng người nghe.
- Không nên chỉ giữ một cử chỉ thể hiện.
- Thờ ơ với người nghe.
- Ăn mặc luộm thuộm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status