tiểu luận phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên đề Các phương pháp nghiên cứu khoa học - Pdf 25

1
MỤC LỤC

2
MỞ ĐẦU
Theo các nhà thống kê, sự phát triển của xã hội loài người
nửa cuối thế kỷ 20 bằng tổng sự phát triển của xã hội loài người
trước đó. Điều đó cho thấy tri thức đã là một trong những động lực
quan trọng mang tính quyết định sự tồn tạo và phát triển của xã hội.
Xã hội trở thành một “xã hội của tri thức”. Điều đó làm cho việc nghiên cứu khoa học,
tập dượt nghiên cứu khoa học thành một hoạt động cần thiết cho sinh viên, học viên trong
các trường đại học, học viện, viện nghiên cứu, bên cạnh đó, công tác nghiên cứu của cán
bộ, giảng viên cũng đã được xem trọng hơn rất nhiều.
Để những công trình nghiên cứu này có hiệu quả cao, có thể giúp người đọc am
hiểu và vận dụng được vào thực tiễn, thì người nghiên cứu phải phải vận dụng một cách
chính xác phương pháp cụ thể cho từng công trình nghiên cứu. Để có thế lựa chọn đúng
thì chí ít cũng phải nắm được một cách khái quát là hiện nay có những loại phương pháp
nghiên cứu nào để từ đó mới đi sâu tìm hiểu đặc điểm, chức năng, ưu và nhược điểm của
từng phương pháp cụ thể, và đó cũng chính là lý do tôi xin trình bày đề tài: “Các phương
pháp nghiên cứu khoa học”.
Do thời gian có hạn và giới hạn của nội dung tiểu luận, trong đề tài này, tôi chỉ xin
giới thiệu tổng quan về các phương pháp nghiên cứu khoa học hiện nay, không đi quá sâu
vào phân tích từng loại phương pháp cụ thể. Nếu có gì sơ sót tôi rất mong nhận được sự
đóng góp chân tình từ thầy PGS.TS. Trịnh văn Biều và các bạn. Xin chân thành cảm ơn!
3
Chương 1. CƠ SỞ CHUNG CỦA PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1.1. Khái niệm khoa học và nghiên cứu khoa học
Theo Từ điển Tiếng Việt “Khoa học là hệ thống tri thức tích lũy trong quá trình
lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những quy luật
khách quan của thế giới bên ngoài cũng như về hoạt động tinh

và được tiến hành dựa trên một hệ thống
các phương pháp khoa học. Không giống
như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học
dựa trên kết quả quan sát, thu thập được
qua những thí nghiệm và qua các sự kiện
xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội,
trong tự nhiên. Tri thức khoa học được tổ
chức trong khuôn khổ các ngành và bộ
4
hết các thuộc tính của sự vật và mối quan
hệ bên trong giữa sự vật và con người. Vì
vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến
một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri
thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình
thành tri thức khoa học.
môn khoa học như: triết học, sử học, kinh
tế học, toán học, sinh học,…
Theo từ điển tiếng Việt “Nghiên cứu là xem xét, làm cho
nắm vững vấn đề để nhận thức, tìm cách giải quyết.“Nghiên cứu khoa học là sự tìm kiếm
những điều mà khoa học chưa biết: hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận
thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật
mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người”
Mục đích của nghiên cứu khoa học là tìm tòi, khám phá bản chất và các quy luật vận
động của thế giới, tạo ra thông tin mới, nhằm ứng dụng chúng vào sản xuất vật chất hay
tạo ra những giá trị tinh thần, để thoả mãn nhu cầu cuộc sống của con người. Nhiều
nghiên cứu khoa học không chỉ là nhận thức thế giới mà còn cải tạo thế giới, khoa học
đích thực luôn vì cuộc sống con người. Quá trình nghiên cứu khoa học được tổ chức hết
sức chặt chẽ, luôn phải chọn lọc và sử dụng các phương pháp nghiên cứu. Phương
pháp gắn liền với hoạt động có ý thức của con người, là một trong những yếu tố quyết
định sự thành công của hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới.

Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là hệ thống lý thuyết về phương pháp, bao
gồm những quan điểm tiếp cận đối tượng nghiên cứu, các lý thuyết về cơ chế sáng tạo, hệ
thống lý thuyết về phương pháp, kỹ thuật tiến hành nghiên cứu một công trình khoa học
cùng với phương pháp tổ chức, quản lý quá trình ấy. Phương pháp luận được chia thành
phương pháp bộ môn – lý luận về phương pháp được sử dụng trong một bộ môn khoa
học và phương pháp luận chung cho các khoa học. Phương pháp luận là một trong 3 bộ
phận quan trọng của khoa học, đó là:
- Hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật, lý thuyết, học thuyết khoa học.
6
- Hệ thống các tri thức ứng dụng các thành tựu khoa học vào thực tiễn.
- Hệ thống lý thuyết về phương pháp nghiên cứu khoa học.
Trong nghiên cứu khoa học, phương pháp và phương pháp luận là hai khái niệm
gần nhau nhưng không đồng nhất. Phương pháp luận thuần túy lý luận, phương pháp
vừa lý luận vừa thực tiễn, phương pháp luận chỉ đạo phương pháp, phương pháp xuất
phát từ phương pháp luận trong sự thống nhất chung.
1.2.3. Đặc điểm và đặc trưng của phương pháp nghiên cứu khoa học [2],[10]
1.2.3.1 Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học
- Phương pháp có tính mục đích vì hoạt động của con người đều có mục đích,
mục đích nghiên cứu các đề tài nghiên cứu khoa học chỉ đạo việc tìm tòi và lựa chọn
phương pháp nghiên cứu và ngược lại nếu lựa chọn phương pháp chính xác, phù hợp sẽ
làm cho mục đích nghiên cứu đạt tới nhanh hơn, và đôi khi vượt qua cả yêu cầu mà mục
đích đã dự kiến ban đầu.
- Phương pháp nghiên cứu gắn chặt với nội dung của các vấn đề cần nghiên cứu.
Phương pháp là hình thức vận động của nội dung. Nội dung công việc quy định phương
pháp và phương pháp là cách thực hiện nội dung, là yếu tố quyết định chất lượng của
công việc. Trong mỗi đề tài khoa học đều có phương pháp cụ thể, trong mỗi ngành khoa
học có một hệ thống phương pháp đặc thù.
- Phương pháp là cách làm việc của chủ thể, cho nên
nó gắn chặt với chủ thể và như vậy phương pháp có tính chủ
quan. Tính chủ quan của phương pháp chính là năng lực

chú ý tới phương pháp nhận thức khoa học. Phương pháp gắn liền với hoạt động có ý
thức của con người là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của hoạt động
nhận thức và cải tạo thế giới. Phương pháp là phạm trù phức tạp, có phạm vi bao quát
rộng, với nhiều cấp độ và rất phong phú về nội dung và chủng loại. Phương pháp
nghiên cứu khoa học có ba đặc trưng quan trọng:
8
- Một là: Phương pháp luôn gắn với những tư tưởng cơ bản, có tính nguyên
tắc, định hướng chỉ đạo hoạt động, đó chính là các quan điểm tiếp cận đối tượng, là
thế giới quan của nhà nghiên cứu.
- Hai là: Phương pháp là một hệ thống các phương thức hoạt động, bao gồm
thủ pháp, các thao tác hoạt động có tính kỹ thuật. Đó là các phương pháp cụ thể.
- Ba là: Phương pháp là hệ thống các quy trình hoạt động, là trình tự các bước
đi, bao gồm logic tiến trình và logic nội dung của hoạt động. Phương pháp có tính quy
trình.
1.2.4. Phân loại phương pháp nghiên cứu khoa học [1],[2]
Dựa trên những đặc điểm cơ bản của phương pháp và phương pháp luận nghiên
cứu khoa học, người ta tìm cách phân loại chúng. Trong thực tế có nhiều cách phân loại
phương pháp:
a) Dựa vào phạm vi sử dụng
• Nhóm phương pháp chung nhất dùng cho tất cả các lĩnh vực khoa học
• Nhóm phương pháp chung dùng cho một nhóm khoa học
• Nhóm phương pháp đặc thù chỉ dùng cho một lĩnh vực cụ thể
b) Dựa trên trình độ nghiên cứu và tính chất của đối tượng
• Nhóm các phương pháp mô tả
• Nhóm các phương pháp giải thích
• Nhóm các phương pháp phát hiện
c) Dựa vào lý thuyết thông tin
• Nhóm các phương pháp thu thập thông tin
• Nhóm các phương pháp xử lý thông tin
• Nhóm các phương pháp trình bày và lưu trữ thông tin

trường phái khoa học.
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận bao gồm các phương pháp sau:
• Đọc và nghiên cứu tài liệu
• Phương pháp phân tích và tổng hợp
• Phương pháp diễn dịch và qui nạp
• Phương pháp phân loại, hệ thống hóa
• Phương pháp xây dựng giả thuyết
• Phương pháp lịch sử
2.1.1. Đọc và nghiên cứu tài liệu[1],[2],[3],[5]
2.1.1.1. Khái niệm
Để làm tốt việc nghiên cứu tài liệu trong nghiên cứu khoa học, không chỉ đòi hỏi
biết cách tìm kiếm và tìm được nhiều tài liệu tham khảo có giá trị, mà còn có yêu cầu cao
về phương pháp đọc tài liệu, kĩ thuật ghi chú và khai thác hiệu quả các thông tin từ tài
liệu đó.
Đọc tài liệu có nghĩa là phân tích, phê phán tóm tắt, trích lục, … các sách vở, tạp
chí, báo chí tư liệu, văn kiện bản thảo,… nói chung là các loại văn bản đã hoặc chưa xuất
bản, có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài, giúp ta giải quyết các nhiệm vụ
nghiên cứu.
11
2.1.1.2. Tầm quan trọng của việc đọc và nghiên cứu tài liệu
Trong nghiên cứu khoa học, thông tin có vai trò hết sức quan trọng. Vì thế đọc và
nghiên cứu tài liệu là một công việc quyết định sự thành công của đề tài.
Đọc tài liệu giúp ta có thêm kiến thức sâu sắc về các phương diện khác nhau thuộc
chủ đề nghiên cứu, hiểu rõ hơn về đề tài.
Đọc tài liệu có vai trò đặc biệt quan trọng trong mọi giai đoạn nghiên cứu khoa học,
từ khâu lựa chọn đề tài, soạn đề cương nghiên cứu, thu thập tài liệu, sự kiện trong giai
đoạn triển khai việc nghiên cứu cho đến lúc xử lí các tài liệu và cả sau đó, khi viết kết
quả nghiên cứu và đưa nó vào thực tiễn.
Đọc tài liệu nhằm mục đích giúp ta thừa kế được kết quả nghiên cứu của những
người đi trước và phương pháp nghiên cứu của họ để giải quyết những vấn đề liên quan

• Các bước đọc tài liệu
• Trước khi đọc
 Một đề tài nghiên cứu khoa học nghiêm túc đòi hỏi người nghiên cứu phải đọc
nhiều tài liệu tham khảo liên quan đến chủ đề đang quan tâm, một cách có
chiến lược và hiệu quả. Tự đặt những câu hỏi để xác định rõ ràng mục đích đọc
tài liệu, đánh giá sơ bộ tài liệu cần đọc trước khi đi vào từng chi tiết.
 Mục đích, động cơ đọc tài liệu? - Giải trí, tìm hiểu tổng quát hay chuyên
sâu làm sáng tỏ một vấn đề,
 Vấn đề nào cần quan tâm? - Đó là những khía cạnh của vấn đề đã được
xác định trong quá trình lựa chọn đề tài nghiên cứu, chủ đề cần tìm hiểu.
 Những thắc mắc đang cần tìm câu trả lời?
 Kiểu thông tin nào đang cần có? - Số liệu thống kê, kết quả nghiên cứu,
hình ảnh minh hoạ, báo cáo tổng hợp,
 Cần đọc lướt qua toàn bộ tài liệu để đánh giá sơ bộ mức độ phù hợp của tài
liệu với nhu cầu đề tài, phạm vi giới hạn và trọng tâm của tài liệu.
13
 Xem kĩ nội dung phần tóm tắt của tài liệu, đọc các đề mục chính và phụ
trong bài để tạo một mối liên hệ chung giữa toàn bộ các khái niệm quan trọng,
các từ khoá.
• Trong khi đọc
Cần tập trung và chú ý cao độ , sử dụng phương pháđọc thích hợp với các mục đích
đặt ra :
 đọc gạn lọc: chỉ đọc những gì quan trọng, cốt lõi, mới mẻ, hấp dẫn nhất
 chỉ đọc tựa, các tựa phụ, đoạn đầu và đoạn cuối, câu đầu và câu cuối
của các đoạn khác, ghi nhớ các ý chính,
 chú ý đặc biệt đến những từ nối quan trọng tạo mối liên hệ trong lập
luận suốt toàn bài,
 không đọc các chi tiết nhỏ cụ thể;
 đọc định vị: đọc lướt qua tài liệu để tìm các thông tin chính xác, một
mẩu trích dẫn, khái quát các yếu tố liên quan, đòi hỏi xác định rõ

• Đọc một cuốn sách khoa học
Ngoài các nguyên tắc chung và các bước đọc tài liệu đã trình bày ở các phần trên, đối với
một số loại tài liệu khoa học phổ biến, có thể mô tả một số chi tiết cụ thể hơn.
Đối với một cuốn sách khoa học, khi đánh giá sơ bộ cần chú ý các phần sau:
Trang bìa trước
Cung cấp các thông tin nhận diện như tựa sách, tựa phụ (xác định
hướng chuyên sâu của sách), tên tác giả, nhà xuất bản.
Trang bìa sau
Thường có tiểu sử tóm tắt của tác giả, có khi có tóm tắt nội dung
sách hoặc các lời bình luận.
Trang nhan đề
Đây là trang chính cung cấp thông tin xuất bản để trình bày tham
khảo, chứ không phải trang bìa trước.
Sau trang này, trong các sách nước ngoài, thường là phần giới thiệu
các lần xuất bản trước, thông tin bản quyền, lưu chiểu, số hiệu sách
ISBN, số hiệu tái bản và năm xuất bản.
Mục lục
Đây là việc quan trọng khi đọc sơ bộ một cuốn sách, vì trong đó thể
hiện cấu trúc ý tưởng, hướng lập luận và trình bày vấn đề của tác
giả. Mục lục cho phép xác định, với nhu cầu đang có, cần đọc toàn
bộ nội dung hay chỉ lựa chọn vài phần đáng quan tâm.
15
Mở đầu,
lời giới thiệu
Trong phần mở đầu, tác giả thường giới thiệu mục đích, đại ý, cách
trình bày các ý tưởng, các giả thuyết đưa ra và các phương pháp
giải quyết vấn đề, Lời giới thiệu đôi khi có những lời bình luận,
nhận xét, đánh giá tổng quát của những người có uy tín, dựa vào đó
có thể xác nhận giá trị khoa học của sách.
Kết luận

2.1.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp [1],[2],[4],[5],[6]
2.1.2.1. Khái niệm
Phương pháp phân tích lý thuyết là phương pháp nghiên cứu các văn bản, tài
liệu lý luận khác nhau về một chủ thể bằng cách phân tích chúng thành từng bộ
phận, từng mặt theo lịch sử thời gian, để hiểu chúng một cách đầy đủ toàn diện.
Phân tích lý thuyết còn nhằm phát hiện ra những xu hướng, những trường phái nghiên
cứu của từng tác giả và từ đó chọn lọc những thông tin quan trọng phục vụ cho đề tài
nghiên cứu của mình.
Khi chúng ta đứng trước một đối tượng nghiên cứu, chúng ta cảm giác được nhiều
hiện tượng đan xen nhau, chồng chéo nhau làm lu mờ bản chất của nó.Vậy muốn hiểu
17
được bản chất của một đối tượng nghiên cứu chúng ta cần phải phân chia nó theo cấp
bậc. Nhiệm vụ của phân tích là thông qua cái riêng để tìm ra được cái chung, thông qua
hiện tượng để tìm ra bản chất, thông qua cái đặc thù để tìm ra cái phổ biến.
Khi phân chia đối tượng nghiên cứu cần phải:
+ Xác định tiêu thức để phân chia.
+ Chọn điểm xuất phát để nghiên cứu.
+ Xuất phát từ mục đích nghiên cứu để tìm thuộc tính riêng và chung.
Bước tiếp theo của phân tích là tổng hợp. Tổng hợp là quá trình ngược với quá
trình phân tích, nhưng lại hỗ trợ cho quá trình phân tích để tìm ra cái chung cái khái
quát.
Phương pháp tổng hợp lý thuyết là những phương pháp liên kết từng mặt, từng
bộ phận thông tin từ các lý thuyết đã thu thập được để tạo ra một hệ thống lý thuyết
mới đầy đủ và sâu sắc về chủ đề nghiên cứu. Tổng hợp lý thuyết được thực hiện khi ta
đã thu thập được nhiều tài liệu phong phú về một đối tượng. Tổng hợp cho chúng ta
tài liệu toàn diện và khái quát hơn các tài liệu đã có.
Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp có chiều hướng đối lập nhau song
chúng lại thống nhất biện chứng với nhau. Phân tích chuẩn bị cho tổng hợp và tổng hợp
lại giúp cho phân tích càng sâu sắc hơn.
Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp gắn bó chặt chẽ quy định và bổ sung

(2) Tài liệu nguồn cấp 2: gồm những tài liệu được tóm tắt, xử lý, biên soạn, biên
dịch trích dẫn từ tài liệu gốc cấp 1.
Trong nghiên cứu khoa học người ta ưu tiên sử dụng tài liệu gốc cấp 1. Chỉ trong
trường hợp không tìm được tài liệu gốc cấp 1 thì mới sử dụng tài liệu gốc cấp 2.
19
2.1.3. Phương pháp diễn dịch và qui nạp [1]

Phương pháp diễn dịch là phương pháp suy luận từ cái chung đến cái riêng. Đó là
phương pháp đi từ cái bản chất, nguyên tắc, nguyên lý đã được thừa nhận để tìm ra các
hiện tượng, các biểu hiện, cái trùng hợp cụ thể trong sự vận động của đối tượng.
Phương pháp diễn dịch nhờ vậy có ý nghĩa rất quan trọng trong những bộ môn
khoa học thiên về nghiên cứu lý luận, ở đây người ta đưa ra những tiền đề, giả thuyết, và
bằng những suy diễn logic để rút ra những kết luận, định lý, công thức.
Phương pháp quy nạp ngược lại với phương pháp diễn dịch. Đó là phương pháp
đi từ cái riêng đến cái chung, từ những hiện tượng riêng lẻ, rời rạc, độc lập ngẫu nhiên
rồi liên kết các hiện tượng ấy với nhau để tìm ra bản chất của một đối tượng nào đó.
Từ những kinh nghiệm, hiểu biết các sự vật riêng lẻ người ta tổng kết quy nạp
thành những nguyên lý chung. Cơ sở khách quan của phương pháp quy nạp là sự lặp lại
của một số hiện tượng này hay hiện tượng khác
do chỗ cái chung tồn tại, biểu hiện thông qua
cái riêng. Nếu như phương pháp phân tích -
tổng hợp đi tìm mối quan hệ giữa hình thức và
nội dung thì phương pháp quy nạp đi sâu vào
mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng. Một
hiện tượng bộc lộ nhiều bản chất. Nhiệm vụ của
khoa học là thông qua hiện tượng để tìm ra bản chất, cuối cùng đưa ra giải pháp. Phương
pháp quy nạp đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện ra các quy luật, rút ra từ
những kết luận tổng quát đưa ra các giả thuyết.
Trong nghiên cứu khoa học, người ta còn có thể xuất phát từ những giả thuyết hay
từ những nguyên lý chung để đi sâu nghiên cứu những hiện tượng cụ thể nhờ vậy mà có

đã có yếu tố hệ thống hóa, hệ thống hóa phải dựa trên cơ sở của phân loại và hệ thống
21
hóa làm cho phân loại được đầy đủ và chính xác hơn. Phân loại và hệ thống hóa là
hai bước tiến để tạo ra những kiến thức mới sâu sắc và toàn diện.
2.1.5. Phương pháp xây dựng giả thuyết [1],[2],[4]
, [4 ]
Giả thuyết là nhận định sơ bộ, là kết luận giả định của nghiên cứu, là luận điểm
khoa học mà người nghiên cứu đặt ra. Giả thuyết còn là một phán đoán về quan hệ nhân
quả. Một giả thuyết là một phát biểu tạm thời, có thể đúng và cũng có thể không đúng.
Vì vậy, cần phải kiểm nghiệm để chấp nhận hay bác bỏ.
Phương pháp xây dựng giả thuyết là phương pháp nghiên cứu đối tượng bằng
cách dự đoán bản chất của đối tượng và tìm cách chứng minh các dự đoán đó.
Như vậy phương pháp giả thuyết có hai chức năng: chức năng dự đoán và chức năng
chỉ đường, trên cơ sở dự đoán mà tìm bản chất của sự kiện. Với hai chức năng đó giả
thuyết đóng vai trò là một phương pháp nhận thức.
Trong nghiên cứu khoa học khi phát hiện ra các hiện tượng lạ mà với kiến thức
đã có, không thể giải thích được, người ta thường tiến hành bằng so sánh hiện tượng
chưa biết với các hiện tượng đã biết, tri thức cũ với trí tưởng tượng sáng tạo mà hình
dung cái cần tìm. Đó chính là thao tác xây dựng giả thuyết.
Trong giả thuyết, dự đoán được lập luận theo lối giả định - suy diễn, có tính xác
suất, cho nên cần phải chứng minh. Chứng minh giả thuyết được thực hiện bằng hai
cách: chứng minh trực tiếp và chứng minh gián tiếp. Chứng minh trực tiếp là phép
chứng minh dựa vào các luận chứng chân thực và bằng các quy tắc suy luận để rút ra
luận đề. Chứng minh gián tiếp là phép chứng minh khẳng định rằng phản luận đề là
gian dối và từ đó rút ra luận đề chân thực.
Với tư cách là phương pháp biện luận, giả thuyết được sử dụng như là thực
nghiệm của tư duy, thử nghiệm thiết kế các hành động lý thuyết. Suy diễn để rút ra các
kết luận chân thực từ giả thuyết là thao tác logic quan trọng của quá trình nghiên cứu
khoa học.
22

• Nó phải đi sâu vào tính muôn màu muôn vẻ của lịch sử, tìm ra cái đặc thù, cái cá
biệt ở trong cái phổ biến. Và trên cơ sở nắm được những đặc thù cá biệt đó mà
trình bày thể hiện cái phổ biến của lịch sử.
• Phương pháp lịch sử còn yêu cầu chúng ta phải tìm hiểu cái không lặp lại bên
cái lặp lại. Các hiện tượng lịch sử thường hay tái diễn, nhưng không bao giờ diễn
lại hoàn toàn như cũ. Phương pháp lịch sử phải chú ý tìm ra cái khác trước, cái
không lặp lại để thấy những nét đặc thù lịch sử. Thí dụ, cũng là khởi nghĩa nông
dân, nhưng khởi nghĩa nông dân Nguyễn Hữu Cầu có khác khởi nghĩa nông dân
Hoàng Hoa Thám về đối tượng, quy mô và hình thức đấu tranh…
• Phương pháp lịch sử lại yêu cầu chúng ta phải theo dõi những bước quanh co,
thụt lùi tạm thời…của phát triển lịch sử. Bởi vì lịch sử phát triển muôn màu
muôn vẻ, có khi cái cũ chưa đi hẳn, cái mới đã nảy sinh. Hoặc khi cái mới đã
chiếm ưu thế, nhưng cái cũ hãy còn có điều kiện và nhu cầu tồn tại trong một
chừng mực nhất định. Phương pháp lịch sử phải đi sâu vào những uẩn khúc đó.
• Phương pháp lịch sử yêu cầu chúng ta đi sâu vào ngõ ngách của lịch sử, đi sâu
vào tâm lý, tình cảm của quần chúng, hiểu lịch sử cả về điểm lẫn về diện, hiểu từ
cá nhân, sự kiện, hiện tượng đến toàn bộ xã hội.
• Phương pháp lịch sử phải chú ý những tên người, tên đất, không gian, thời gian,
thời gian cụ thể, nhằm dựng lại quá trình lịch sử đúng như nó diễn biến.
24
2.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn đó là nhóm các phương pháp trực
tiếp tác động vào đối tượng có trong thực tiễn để làm bộc lộ bản chất và các quy luật
vận động của các đối tượng ấy.
Nhóm này có các phương pháp cụ thể sau đây:
Phương pháp quan sát
Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn
Phương pháp điều tra thu thập thông tin
Phương pháp thực nghiệm
Phương pháp mô hình hóa

nghiên cứu và ghi lại bằng giấy bút, máy ảnh,…
• Dựa vào số lượng người tham gia quan sát:
• Quan sát cá nhân: chỉ một người quan sát thực hiện.
• Quan sát tập thể: việc quan sát do nhiều người cùng phối hợp thực hiện
• Dựa vào phương tiện quan sát:
• Quan sát bằng mắt thường.
• Quan sát bằng kính hiển vi điện tử.
• Quan sát bằng camera.
• Quan sát bằng đầu dò có gắn camera.
2.2.1.3. Chức năng
Quan sát khoa học có ba chức năng:
• Thu thập thông tin thực tiễn: là chức năng quan trọng nhất.
• Kiểm chứng các giả thuyết hay các lý thuyết đã có.
• Đối chiếu các kết quả trong nghiên cứu lý thuyết với thực tiễn để hoàn thiện lý

Trích đoạn Phương pháp thực nghiệm [1],[2],[4] Phân loại thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status