Tiểu luận LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ CHUYÊN ĐỀ THUYẾT TRÌNH 2 LÝ THUYẾT DANH MỤC ĐẦU TƯ - Pdf 23

MÔN: LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
CHUYÊN ĐỀ THUYẾT TRÌNH 2
LÝ THUYẾT DANH MỤC ĐẦU

Thực hiện : Nhóm 02
Lớp : CHKT K23 – Đêm 11
GVHD : TS. Diệp Gia Luật
1
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11, năm 2013
MÔN: LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
CHUYÊN ĐỀ THUYẾT TRÌNH 2
LÝ THUYẾT DANH MỤC ĐẦU

2
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11, năm 2013
DANH SÁCH NHÓM
STT MSHV Họ và tên Giới tính Ngày sinh
1 7701231251 Đỗ Thùy Dung Nữ 25/01/1991
2 7701230389 Võ Khánh Duy Nam 20/08/1991
3
4 7701230412 Trần Quang Định Nam 09/07/1989
5 7701230556 Vi Thị Ngọc Huyền (nhóm
trưởng)
Nữ 11/05/1990
6 7701230636 Nguyễn Thị Trúc Linh Nữ 11/05/1990
7 7701231362 Phan Đức Lợi Nam 03/11/1976
8 7701230687 Nguyễn Thị Kiều My Nữ 27/01/1991
9 7701230752 Nguyễn Thị Bích Nhi Nữ 02/05/1990
10 7701231408 Lê Thị Hồng Nhung Nữ 01/10/1988
11 7701230795 Cao Hồng Phúc Nữ 03/11/1991
12 7701230948 Nguyễn Ngọc Hương Thảo Nữ 08/12/1988

để đạt được kết quả cao nhất? cần phải phân tích những yếu tố rủi ro hay xác đinh lợi tức
dự kiến như thế nào để có thể lựa chọn danh mục đầu tư hiệu quả? Trong khả năng cuả
nhóm, nhóm xin trình bày những luận điểm căn bản để các bạn có thể nắm bắt về “lý
thuyết danh mục đầu tư”.
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: RỦI RO VÀ TỶ SUẤT SINH LỢI 9
1.Tổng quan chung 9
1.1.Rủi ro 9
1.1.1.Định nghĩa rủi ro 9
1.1.2.Phân loại rủi ro 10
1.1.3.Nguyên nhân rủi ro trong kinh doanh chứng khoán 12
.1.1.3.1.Bản chất của hoạt động kinh doanh chứng khoán 12
.1.1.3.2. Tính thanh khoản thấp của chứng khoán được kinh doanh 13
.1.1.3.3.Vấn đề thông tin bất cân xứng 13
.1.1.3.4.Về bản thân các chủ thể hoạt động kinh doanh chứng khoán 14
1.2.Tỷ suất sinh lợi 14
1.3.Đo lường rủi ro 15
1.4.Đo lường lợi tức 15
1.4.1.Đo lường lợi tức của một chứng khoán 15
1.4.2.Lợi tức trung bình của một chứng khoán: 16
1.4.3. Lợi tức kỳ vọng của một chứng khoán: 18
CHƯƠNG 2: ĐA DẠNG HÓA VÀ LÝ THUYẾT DANH MỤC ĐẦU TƯ 19
2.Đa dạng hóa danh mục đầu tư 19
2.1.Đa dạng hóa đầu tư 19
2.2.Lợi ích của đa dạng hóa đầu tư 20
3.Xây dựng danh mục đầu tư 20
3.1.Danh mục đầu tư 20
3.2.Xây dựng danh mục đầu tư 20
4.Lý thuyết danh mục đầu tư 21
4.1.Các lý thuyết về đầu tư tài chính hiện đại 21

5.2.2.Phân loại 39
5.2.3.Vai trò 40
5.2.4.Nhân tố tác động đến giá Tài sản tài chính 40
5.3.Chủ thể cung cầu tài sản tài chính 41
5.3.1.Khái niệm chủ thể 41
5.3.2.Các loại hình định chế tài chính trung gian 41
.5.3.2.1.Các tổ chức nhận ký gửi 41
.5.3.2.2.Các tổ chức không nhận ký gửi 41
5.3.3.Chức năng các định chế tài chính trung gian 42
.5.3.3.1.Chuyển đổi thời gian đáo hạn của các tài sản tài chính 42
.5.3.3.2.Giảm rủi ro bằng hình thức đa dạng hoá danh mục đầu tư 43
.5.3.3.3.Giảm chi phí hợp đồng và chi phí xử lý thông tin 43
.5.3.3.4.Cung cấp phương thức thanh toán 44
6.Các mô hình định giá tài sản tài chính 44
6.1.Lý thuyết thị trường vốn: 44
6.1.1.Các giả định của lý thuyết thị trường vốn 44
6.1.2.Kết hợp một tài sản phi rủi ro với một danh mục tài sản rủi ro 45
.6.1.2.1.Tài sản phi rủi ro 45
.6.1.2.2.Hiệp phương sai với tài sản phi rủi ro 46
.6.1.2.3.Tỷ suất sinh lợi mong đợi 46
.6.1.2.4.Độ lệch chuẩn 47
6.1.3.Kết hợp rủi ro và tỷ suất sinh lợi 47
6.1.4.Đường CML và nguyên lý phân cách 49
6.2.Mô hình CAPM 50
6.2.1.Giới thiệu chung 51
6.2.2.Giả định 51
6.2.3.Nội dung 52
.6.2.3.1.Quan hệ giữa lợi nhuận cá biệt và lợi nhuân thị trường - đường đặc thù chứng khoán (the security
characteristic line) 52
.6.2.3.2.β - thước đo tiêu chuẩn hóa của rủi ro hệ thống 54

không chỉ đơn giản là sự kết hợp của nhiều đầu tư riêng lẻ mà còn có cả những đặc trưng
rủi ro – tỷ suất sinh lợi mong đợi. Đặc biệt, điều đó đã chỉ ra rằng chúng ta cần phải xem
xét mối quan hệ giữa những phương thức đầu tư nếu chúng ta đang xây dựng một danh
mục tối ưu mà danh mục đó sẽ đáp ứng những mục tiêu đầu tư của chúng ta. Điều quan
trọng là sự thừa nhận trong việc thiết lập danh mục đã được giải thích trong lý thuyết đa
dạng hóa danh mục đầu tư.
1.1. Rủi ro
1.1.1. Định nghĩa rủi ro
Rủi ro là những điều không chắc chắn của những kết quả trong tương lai hay là
những khả năng của kết quả bất lợi.
Rủi ro còn được định nghĩa là sự sai biệt của lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ
vọng.
Hoạt động đầu tư thường gắn liền với tình trạng không chắc chắn vì kết quả thu
được có thể rơi vào các tình huống khác nhau. Các nhà kinh tế tài chính phân biệt giữa
khái niệm “bất trắc” và khái niệm “rủi ro”. Bất trắc là khi có nhiều tình huống khác nhau
có thể xảy ra, nhưng ta không thể biết được xác suất xảy ra các tình huống này. Hãy lấy
dịch cúm gà ở châu Á vào cuối năm 2003 và đầu 2004 làm ví dụ. Việc đầu tư vào một
nhà hàng đặc sản gà sẽ cho kết quả tốt nếu tình huống xảy ra là không xảy ra dịch cúm gà,
nhưng có thể sẽ mất trắng nếu dịch cúm gà xảy ra. Tuy nhiên, ta nói đây là tình trạng bất
trắc vì không thể dựa vào số liệu lịch sử hay các phương pháp ngoại suy khác để ước
lượng xác suất xảy ra cúm gà trong một khoảng thời gian nhất định là bao nhiêu. Ngược
lại, ta đề cập đến rủi ro khi có thể ước lượng được xác suất xảy ra các tình huống khác
nhau. Ví dụ, lợi nhuận của một cửa hàng kem trong mùa hè tới sẽ tùy thuộc vào việc thời
tiết lúc đó sẽ như thế nào. Dựa vào số liệu lịch sử, ta có thể tính xác suất cho các khoảng
nhiệt độ bình quân khác nhau vào mùa hè. Trong tài chính, ta thường cho rằng các hoạt
động đầu tư là “rủi ro” vì có thể ước tính được xác suất xảy ra các tình huống khác nhau
dựa vào số liệu lịch sử, giống như ví dụ về nhiệt độ mùa hè. Tuy nhiên, ta luôn cần lưu ý
rằng ước lượng rủi ro dựa vào thông tin quá khứ có thể không đúng bởi vì các con số quá
khứ có thể thay đổi trong tương lai.
Trang: 9/75

• Các hoạt động đầu cơ, tung tin đồn thất thiệt, gây nhiễu thông tin và tự
“đánh bóng”, thổi giá hoặc thậm chí lừa đảo và thông đồng có tổ chức của một số nhà đầu
tư chuyên nghiệp có tiềm lực tài chính và sức mạnh khác đủ tạo nên động thái thăng, trầm
của thị trường để trục lợi.
• Các chấn động thị trường khác từ nước ngoài. Tiêu biểu là các cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu như cuộc cuộc khủng hoảng tài chính – tiền lệ những năm cuối
thập kỷ 80 của thế kỷ XX ở châu Á, hay mới đây nhất là cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu 2008 bắt nguồn từ Mĩ và lan rộng ra khắp thế giới đã kéo chỉ số VN-INDEX xuống
Trang: 10/75
Lý thuyết danh mục đầu tư Chương 1: Rủi ro và tỷ suất sinh lợi
mức thấp kỉ lục, nhà đầu tư ào ạt rút vốn khỏi thị trường, tính thanh khoản giảm mạnh, rất
nhiều công ty chứng khoán làm ăn thua lỗ.
ª Rủi ro phi hệ thống:
• Rủi ro từ tính thanh khoản thấp của chứng khoán đầu tư.
Tính thanh khoản thấp mà chủ thể kinh doanh chứng khoán đang sở hữu có thể do
chứng khoán đó khó và thậm chí không thể bán được hoặc không được phép bán hay
chuyển nhượng nhằm thu hồi vốn đầu tư. Hàng hóa thông thường không thể bán được
phần nhiều do: chất lượng và tiện ích của hàng hóa không đáp ứng nhu cầu; không phù
hợp với “gu” của người mua; cung vượt quá cầu; có hàng hóa khác thay thế tương đương,
thậm chí có sức hấp dẫn hơn.
• Rủi ro từ thông tin chứng khoán và thị trường.
Ra đời cách đây trên 200 năm, bất chấp những thăng trầm của các ngành, nghề, sản
phẩm kinh doanh khác, kinh doanh chứng khoán ngày càng trở thành một bộ phận không
thể thiếu được của nền kinh tế hiện đại với đặc trưng cơ bản là kinh tế thông tin. Hiếm có
hoạt động kinh doanh nào mà sự thành bại của nhà đầu tư lại gắn bó mật thiết, thậm chí
phụ thuộc vào sự đa dạng, hệ thống, toàn diện, cập nhật và chính xác các thông tin có liên
quan trực tiếp và gián tiếp như đầu tư chứng khoán.
Pha chút hóm hỉnh, khôi hài, nhưng không phải không có lý khi có người đã phác
họa chân dung nhà đầu tư chứng khoán: luôn háo hức trước mọi tin đồn và hăng hái góp
phần vào tin đồn; luôn cảnh giác đề phòng nhưng cũng dễ nhẹ dạ, cả tin; tinh khôn và

Khác với lựa chọn đối nghịch, rủi ro đạo đức xuất hiện sau cuộc giao dịch khi một bên
thực hiện những hành động ẩn giấu và có ảnh hưởng đến lợi ích của phía đối tác. Có
nhiều cách định nghĩa về rủi ro đạo đức:
- Rủi ro đạo đức là tình trạng một bên tham gia thị trường không thể giám sát hoạt
động của phía bên kia. Vì lý do này, rủi ro đạo đức còn được gọi là vấn đề hành động ẩn
giấu (hidden action).
- Rủi ro đạo đức là một cách gọi khác của hành động ẩn giấu theo đó người được
thông tin có thể thực hiện những hành động “sai trái”.
- Rủi ro đạo đức phát sinh khi những người sở hữu thông tin riêng thực hiện những
hành động có ảnh hưởng đối lập đến xác suất đưa đến những hậu quả xấu.
Qua những khái niệm trên có thể thấy rủi ro đạo đức có những đặc điểm chính sau
đây:
Thứ nhất, có sự xuất hiện của hành động ẩn giấu (hidden action).
Thứ hai, bên có hành động ẩn giấu, dù vô tình hay cố ý, sẽ làm tăng xác suất xảy ra
hậu quả xấu.
Ví dụ: Những người lãnh đạo công ty có thể hành động vì lợi ích cá nhân mà đi
ngược lại lợi ích của các cổ đông. Các hành động này bao gồm việc tăng chi phí phục vụ
cho lợi ích của người quản lí công ty như trang bị đồ dùng văn phòng tốt, xe hơi đắt tiền,
chi phí phúc lợi cho nhân viên cao. Ngoài việc theo đuổi những lợi ích cá nhân, người
quản lý công ty có thể theo đuổi những chiến lược của công ty nhằm đề cao quyền lực cá
nhân mà không làm tăng lợi ích của công ty.
1.1.3. Nguyên nhân rủi ro trong kinh doanh chứng khoán.
.1.1.3.1. Bản chất của hoạt động kinh doanh chứng khoán.
Tính rủi ro thể hiện ngay ở bản chất của hoạt động đầu tư vốn. Cũng như bất kì
hoạt động đầu tư, kinh doanh nào khác, việc kinh doanh chứng khoán là “ đầu tư một
lượng tiền trong hiện tại và chỉ có thể thu hồi trong tương lai” thì cả quãng thời gian đó
cũng chính là thời gian chưa đựng rủi ro. Mức độ rủi ro tiềm tàng đến đâu phụ thuộc vào
rất nhiều yếu tố, như thời gian đầu tư, chủ thể nhận vốn cùng các cam kết khác chính là
Trang: 12/75
Lý thuyết danh mục đầu tư Chương 1: Rủi ro và tỷ suất sinh lợi

.1.1.3.3. Vấn đề thông tin bất cân xứng.
Trong các giao dịch tài chính luôn xuất hiện một mâu thuẫn cơ bản và cố hữu, một
mâu thuẫn tạo nên cơ sở tồn tại của các điều kiện cho vay trong các tổ chức tài chính, đó
là sự không cân xứng về thông tin giữa người cho vay và người đi vay. Người cho vay
đóng vai trò cung cấp vốn trong giao dịch tài chính và thường không có sự khác biệt lớn
về đồng vốn giữa những người cho vay (sự khác biệt chủ yếu nằm ở thời hạn cho vay và
Trang: 13/75
Lý thuyết danh mục đầu tư Chương 1: Rủi ro và tỷ suất sinh lợi
các ràng buộc liên quan). Nói cách khác, những thông tin về phía đối tác của mình mà
người đi vay có được là tương đối đồng nhất. Người đi vay có thể huy động từ một trong
những người cung cấp vốn mà không cần quan tâm nhiều đến bên cho vay vì chỉ cần vay
được vốn là họ đã đạt được gần như hoàn toàn mục đích của một giao dịch tài chính.
Mọi chuyện hoàn toàn khác đối với người cho vay. Họ có quyền lựa chọn một
trong số những người hỏi vay, lúc này họ có cả quyền sử dụng và định đoạt đối vơi đồng
vốn, nghĩa là họ có quyền sở hữu đầy đủ. Nhưng ngay sau khi giao dịch tài chính diễn ra,
quyền sở hữu đó bị chia đôi, quyền sử dụng vốn đã được chuyển sang phía người vay
vốn! Nếu không có vật thế chấp hoặc bảo lãnh của một tổ chức tài chính mạnh, người cho
vay chỉ còn sự thừa nhận về mặt pháp lý đối với khoản tiền đó, họ không cầm giữ và cũng
không sử dụng nó. Điều này đồng nghĩa với việc rủi ro thu hồi vốn tăng lên và mức độ rủi
ro phụ thuộc hoàn toàn vào người vay vốn.
Do vậy, những gì người cho vay phải làm để hạn chế rủi ro là phải thu thập và
phân tích các thông tin liên quan đến người vay vốn. Họ cần biết người đi vay sử dụng
đồng vốn như thế nào, mức độ rủi ro cao hay thấp, sức mạnh tài chính, mức độ tin tưởng,
nguy cơ dẫn đến việc sử dụng vốn không đúng cam kết của người vay, … Tuy nhiên
những thông tin như thế đến với người cho vay thường không đầy đủ hoặc thiếu chính
xác dẫn đến những lựa chọn của người cho vay có thể là một “lựa chọn đối nghịch”, hay
phải gánh chịu những “rủi ro đạo đức”.
.1.1.3.4. Về bản thân các chủ thể hoạt động kinh doanh
chứng khoán.
Sự thiếu hiểu biết, thiếu kĩ năng tổng hợp , phân tích và phản ứng thị trường một

P
i
: xác xuất nhận được R
i

ª Phương sai của tỷ suất lợi tức (σ
2
):
Trong các phần trên, tỷ suất lợi tức kỳ vọng và rủi ro của chứng khoán được xác
định trên cơ sở phân tích những tình huống nhất định trong tương lai. Ngoài ra, các nhà
đầu tư cũng có thể dựa vào những dữ liệu quá khứ để ước lượng tỷ suất lợi tức kỳ
vọng và phương sai (hoặc độ lệch chuẩn) để sử dụng cho việc đầu tư trong tương lai.
Phương sai được ước lượng từ những dữ liệu quá khứ được xác định như sau:
Trong đó: - R : Tỷ suất lợi tức trung bình cộng
- n: Số lượng tỷ suất lợi tức từ mẫu được quan sát trong quá khứ.
ª Một số chỉ tiêu đo lường rủi ro khác: Ngoài chỉ tiêu phương sai (hoặc độ
lệch chuẩn) được trình bày ở phần trên, các nhà đầu tư còn có thể sử dụng thêm một số
chỉ tiêu khác để đo lường rủi ro, gồm một số chỉ tiêu như:
- Bán phương sai (semivariance): Chỉ tiêu này được tính toán từ những giá trị lợi
tức có thể thấp hơn lợi tức kỳ vọng.
- Một chỉ tiêu khác (được mở rộng từ chỉ tiêu bán phương sai) là chỉ tiêu được tính
toán từ những giá trị lợi tức thấp hơn giá trị zero (lợi tức âm), hoặc có thể được tính từ
những giá trị lợi tức thấp hơn một giá trị chuNn nào đó.
Mặc dù có một số chỉ tiêu đo lường rủi ro khác nhau, chỉ tiêu phương sai (hoặc độ
lệch chuẩn) vẫn là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất trong thực tế đầu tư cũng như các
nghiên cứu về lý thuyết đầu tư.
1.4. Đo lường lợi tức
1.4.1. Đo lường lợi tức của một chứng khoán
Trang: 15/75
Lý thuyết danh mục đầu tư Chương 1: Rủi ro và tỷ suất sinh lợi

= $350 sau hai năm. Cổ phiếu không trả cổ tức (D = 0). Khi đó tỷ suất lợi tức/năm sẽ là:
1.4.2. Lợi tức trung bình của một chứng khoán:
Khi nhà đầu tư nắm giữ một chứng khoán qua nhiều năm, lợi tức mà chứng khoán
đó có thể mang lại thường là khác nhau (ví dụ: một vài năm có lợi tức cao, một vài năm
Trang: 16/75
Lý thuyết danh mục đầu tư Chương 1: Rủi ro và tỷ suất sinh lợi
khác có lợi tức thấp). Bên cạnh việc xem xét lợi tức trong mỗi năm cụ thể, nhà đầu tư còn
quan tâm đến lợi tức trung bình hàng năm của chứng khoán đó trong toàn bộ thời gian
đầu tư. Có hai cách tính tỷ suất lợi tức trung bình hàng năm của một chứng khoán: trung
bình cộng (Arithmetic Mean - AM) và trung bình nhân (Geometric Mean - GM).
+ Trung bình cộng:

+ Trung bình nhân:
Trong đó:
- AHPYi: tỷ suất lợi tức của năm thứ i.
- n: Số năm nắm giữ chứng khoán.
Tỷ suất lợi tức trung bình cộng ≥ Tỷ suất lợi tức trung bình nhân
Ví dụ 3: Có dữ liệu của một chứng khoán như sau:
Năm Giá trị bắt đầu Giá trị kết thúc Tỷ suất lợi tức
1 100 115 0,15
2 115 138 0,20
3 138 110,4 -0,20
- Tỷ suất lợi tức trung bình cộng:
AM = [0,15 + 0,20 + (-0,20)]/3 = 0,05 hay 5%/năm
- Tỷ suất lợi tức trung bình nhân:
GM = [(1,15)*(1.20)*(0,80)]
1/3
- 1 = 0,03353 hay 3,353%/năm
Tỷ suất lợi tức trung bình cộng là chỉ tiêu phản ánh xu hướng trung tâm của một
phân phối bao gồm nhiều tỷ suất lợi tức được tính trong một khoảng thời gian cụ thể. Nó

)
Tỷ suất lợi tứ
c
(R
i
)
Tăng trưởng mạnh 0,25 44%
Tăng trưởng bình thường 0,50 14%
Suy thoái 0,25 -16%
⇒ E(R) = 0,25*44% + 0,5*14% + 0,25*(-16%) = 14%
Trang: 18/75
Lý thuyết danh mục đầu tư Chương 2: Đa dạng hóa và lý thuyết danh mục đầu tư
CHƯƠNG 2: ĐA DẠNG HÓA VÀ LÝ THUYẾT DANH
MỤC ĐẦU TƯ
2. Đa dạng hóa danh mục đầu tư
2.1. Đa dạng hóa đầu tư
Đầu tư chứng khoán là chuyển hoá nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội thành vốn đầu
tư dài hạn có lợi cho việc huy động tập trung vốn. Thông qua thị trường chứng khoán,
hoạt động này phân bổ một cách hữu hiệu các nguồn lực, thực hiện phân phối hợp lý và
sử dụng có hiệu quả nguồn vốn xã hội, nâng cao hiệu suất sử dụng vốn…nhưng những ai
tham gia vào sân chơi này cũng phải nếm trải những rủi ro mà thị trường gây ra. Tuy
nhiên có những nguyên tắc cơ bản của đầu tư chứng khoán để một nhà đầu tư có thể tối
thiểu hoá được rủi ro và tối đa hoá được lợi ích, một trong đó là phân tán đầu tư.
Đa dạng hóa đầu tư chính là phân tán rủi ro, việc bỏ vốn đầu tư vào các trái
phiếu, cổ phiếu có độ rủi ro khác nhau dựa trên những tỷ lệ đầu tư không giống nhau trên
thị trường, xây dựng lên một cơ cấu tài sản hợp lý để có thể hạn chế tối đa rủi ro đầu tư.
Đa dạng hóa danh mục đầu tư là khái niệm ít được coi trọng và hiểu rõ nhất trong đầu tư.
Phân tán hoá đầu tư chứng khoán tuy không hoàn toàn có thể xoá bỏ được hết các
rủi ro nhưng nó có thể làm giảm bớt mức rủi ro đó, “không nên để tất cả trứng vào cùng
một rổ” là câu nói minh chứng cho trường hợp này. Khi tiến hành phân tán đầu tư, ta cần

Một là mở rộng phạm vi đầu tư vào nhiều công ty, nhiều lĩnh vực không có nhiều
sự liên kết với nhau, nhà đầu tư có thể kiềm chế bớt sự biến động giá cả với danh mục
của mình do thực tế, rất hiếm khi xảy ra trường hợp: tất cả các ngành đi lên hay đi xuống
với cùng một tốc độ và trong cùng một thời kỳ. Do đó, đa dạng hóa sẽ đảm bảo sự hoạt
động ổn định hơn, ít rủi ro hơn cho nhà đầu tư.
Hai là đa dạng hóa hầu như luôn luôn có lợi cho nhà đầu tư không ưa mạo hiểm do
nó giảm rủi ro trừ khi lợi tức của những chứng khoán diễn biến theo nhau một cách hoàn
hảo (rất hiếm xảy ra)
Ba là những lợi tức của hai chứng khoán càng không đi kèm với nhau nhiều thì lợi
ích của việc đa dạng hóa càng nhiều hơn (giảm rủi ro)
3. Xây dựng danh mục đầu tư
3.1. Danh mục đầu tư
Danh mục đầu tư (portfolio) là sự kết hợp nắm giữ các loại cổ phiếu, trái phiếu,
hàng hóa, bất động sản hay các tài sản khác bởi một nhà đầu tư cá nhân hay nhà đầu tư tổ
chức. Mục đích của danh mục đầu tư là làm giảm rủi ro bằng cách đa dạng hóa đầu tư.
3.2. Xây dựng danh mục đầu tư
Quá trình xây dựng danh mục đầu tư bao gồm các bước sau đây:
ª Thiết lập mục tiêu:
Mỗi nhà đầu tư đều có những mức độ chấp nhận rủi ro khác nhau. Bên cạnh đó thì
dựa vào thời gian đầu tư và các yếu tố khác như nhu cầu về thanh khoản hay nghĩa vụ về
thuế của nhà đầu tư mà họ sẽ xác định những mục tiêu khác nhau. Ngoài ra các khái niệm
Trang: 20/75
Lý thuyết danh mục đầu tư Chương 2: Đa dạng hóa và lý thuyết danh mục đầu tư
về đa dạng hoá danh mục đầu tư và danh mục đầu tư hiệu quả cũng được xem xét khi
thiết lập mục tiêu đầu tư.
ª Xác định chiến lược đầu tư:
Có hai chiến lược đầu tư chính là: chiến lược đầu tư chủ động (Active strategy) và
chiến lược đầu tư bị động (Passive strategy).
• Chiến lược đầu tư chủ động: bao gồm việc dự đoán xu hướng thay đổi về
hiệu quả của các loại tài sản đầu tư khác nhau trong tương lai để lựa chọn được các tài

Trang: 21/75
Lý thuyết danh mục đầu tư Chương 2: Đa dạng hóa và lý thuyết danh mục đầu tư
• Giả thuyết thích ứng thị trường (Adaptive Market Hypothesis - AMH).
4.2. Lý thuyết danh mục đầu tư của Harry Markowitz:
Lý thuyết danh mục đầu tư được Harry Markowitz giới thiệu năm 1950. Năm
1952, Markowitz đưa ra mô hình lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại trong bài tham luận
“Lựa chọn danh mục đầu tư” trên tạp chí Journal of Finance. Năm 1959, ông đã xuất bản
cuốn sách cùng tên chính thức công bố lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại một cách có
hệ thống. Đến năm 1990, Harry Markowitz cùng với William Sharpe và Merton Miller
được nhận giải Nobel kinh tế về lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại.
4.2.1. Đặc điểm của lý thuyết Markowitz:
• Là nền tảng của lý thuyết danh mục đầu tư.
• Hạn chế đến mức tối đa những rủi ro phi hệ thống.
• Không sử dụng phương pháp phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật về sự
biến động giá chứng khoán mà dựa vào những mô hình toán học để xây dựng những danh
mục đầu tư gồm nhiều loại tài sản dựa trên sự kết hợp giữa yếu tố lợi nhuận và rủi ro.
• Chứng minh được rằng một danh mục đầu tư được đa dạng hóa tối ưu có
thể giảm thiểu rủi ro đến mức đáng kể mà không phải hy sinh hay chỉ hy sinh một phần
nhỏ lợi nhuận.
4.2.2. Các giả định
Mô hình Markowitz dựa trên những giả định cơ sở như sau:
• Các nhà đầu tư đều là những nhà đầu tư ngại rủi ro. Với một mức rủi ro cho
trước nhà đầu tư sẽ ưa thích phương án đầu tư nào có lợi nhuận kỳ vọng cao hơn. Tương
tự, với cùng một mức lợi nhuận kỳ vọng cho trước, nhà đầu tư sẽ ưa thích lựa chọn
những phương án nào có mức độ rủi ro thấp hơn.
• Các nhà đầu tư không đơn thuần theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận kỳ
vọng mà là mục tiêu tối đa mức hữu dụng của khoản đầu tư.
• Việc lựa chọn và quyết định phương án đầu tư của nhà đầu tư chỉ dựa trên
hai yếu tố là thu nhập kỳ vọng và rủi ro của thu nhập. Mức độ hữu dụng của khoản đầu tư
chỉ dựa vào hai yếu tố này.

E[Rp]là lợi nhuận kì vọng của danh mục
σ
2
là phương sai của danh mục
Hệ số ½ là hệ số đo lường điều chỉnh
Mức ngại rủi ro:
- Nhà đầu tư yêu thích rủi ro thì A < 0
- Nhà đầu tư bàng quang với rủi ro A = 0
- Nhà đầu tư ngại rủi ro A > 0
Ví dụ 5: Xác định một vài điểm nằm trên đường cong hữu dụng cụ thể cho một
nhà đầu tư có hệ số ngại rủi ro A = 4. Kết quả tính toán được trình bày trong bảng dưới
đây:
Một nhà đầu tư sẽ có rất nhiều đường bàng quan với mức xuất phát lợi nhuận khác
nhau thể hiện quan điểm của họ về rủi ro. Tập hợp toàn bộ những đường bàng quan trên
sẽ thể hiện được thái độ của từng cá nhân riêng biệt với rủi ro.
Trang: 23/75
Lý thuyết danh mục đầu tư Chương 2: Đa dạng hóa và lý thuyết danh mục đầu tư
Tỷ suất lợi tức kỳ
vọng E(R)
Độ lệch chuẩn
σ
Giá trị hữu dụng
U = E(R) - 0,005A
σ
2
10% 20% 10 - 0,005*4*400 = 2
15 25,5 15 - 0,005*4*650 = 2
20 30 20 - 0,005*4*900 = 2
25 33,9 25 - 0,005*4*1.150 = 2
Đồ thị biểu diễn đường cong hữu dụng:

- n: Số loại chứng khoán trong danh mục đầu tư.
Ví dụ 6: Xác định tỷ suất lợi tức kỳ vọng của một danh mục đầu tư với các dữ liệu
sau:
Tỷ trọng
c
ủa
chứng khoán i (w
i
)
Lợi tức kỳ vọng của
chứng khoán i [E(R
i
)]
w
i
*E(R
i
)
0,2 0,10 0,020
0,3 0,11 0,033
0,3 0,12 0,036
0,2 0,13 0,26
E(R
p
) = 0,1150
ª Rủi ro của danh mục đầu tư
Mở rộng việc đa dạng hóa bằng cách thêm nhiều loại chứng khoán khác vào
danh mục đầu tư, thành phần rủi ro riêng của tài sản càng được giảm thiểu, và do vậy,
rủi ro của danh mục đầu tư càng giảm dần. Vì vậy, rủi ro riêng của tài sản cũng còn được
gọi là rủi ro có thể đa dạng hóa (diversifiable risk). Tuy nhiên, rủi ro của danh mục đầu


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status