2 ĐỀ TÀI THUYẾT TRÌNH
LÝ THUYẾT DANH MỤC ĐẦU
TƯ Thực hiện : Nhóm 03
Lớp : CHKT K22 – Đêm 3
GVHD : TS. Diệp Gia Luật
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
lấy
dịch cúm gà ở châu Á vào cuối năm 2003 và đầu 2004 làm ví dụ. Việc đầu tư
vào
một
nhà hàng đặc sản gà sẽ cho kết quả tốt nếu tình huống xảy ra là không xảy ra
dịch
cúm
gà, nhưng có thể sẽ mất trắng nếu dịch cúm gà xảy ra. Tuy nhiên, ta nói
đây là
tình
trạng bất trắc vì không thể dựa vào số liệu lịch sử hay các phương pháp
ngoại suy
khác
để ước lượng xác suất xảy ra cúm gà trong một khoảng thời gian
nhất định là
bao
nhiêu. Ngược lại, ta đề cập đến rủi ro khi có thể ước lượng được xác
suất xảy ra
các
tình huống khác nhau. Ví dụ, lợi nhuận của một cửa hàng kem trong mùa
hè tới sẽ
tùy
thuộc vào việc thời tiết lúc đó sẽ như thế nào. Dựa vào số liệu lịch sử, ta có
thể tính
xác
suất cho các khoảng nhiệt độ bình quân khác nhau vào mùa hè. Trong
tài chính,
ta
thường cho rằng các hoạt động đầu tư là “rủi ro” vì có thể ước tính được xác
suất xảy
Sự lựa chọn giữa hai tài sản có cùng tỷ suất sinh lợi, nhà đầu tư sẽ chọn tài sản có mức
độ rủi ro thấp hơn.
Lý thuyết danh mục đầu tư cũng giả định rằng về cơ bản những nhà đầu tư luôn từ chối
rủi ro. Bằng chứng là hầu hết các nhà đầu tư không thích rủi ro thì họ luôn theo đuổi
những hình thức bảo hiểm khác nhau, bao gồm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm xe hơi, bảo
hiểm sức khỏe. Về cơ bản, mua bảo hiểm là khoản phí tổn được trả để phòng ngừa cho
những biến cố không chắc chắn trong tương lai. Khi chúng ta mua bảo hiểm, điều đó ngụ
ý rằng chúng ta đang sẵn lòng trả chi phí biết trước cho chính sách bảo hiểm đã được thỏa
thuận ở hiện tại để trách những chi phí tiềm ẩn lớn hơn trong tương lai, chẳng hạn như chi
phí cho một tai nạn xe hơi hay một bệnh nghiêm trọng nào đó. Thêm một bằng chứng của
thái độ rủi ro là sự khác biệt trong lợi tức mong đợi (tỷ suất sinh lợi mong đợi) đối với các
loại trái phiếu khác nhau, giả sử có sự khác biệt về mức độ rủi ro tín dụng. Đặc biệt, lợi tức
mong đợi trên trái phiếu chúng ta đang sở hữu tăng từ AAA đến AA đến A, và hơn thế nữa
– điều đó chỉ ra rằng, nhà đầu tư luôn yêu cầu một tỷ suất sinh lợi cao hơn để có thể chấp
nhận một mức độ rủi ro cao hơn.
Điều này không ám chỉ rằng mọi người đều từ chối rủi ro hay các nhà đầu tư hoàn toàn
từ chối rủi ro đối với tất cả các cam kết tài chính. Và sự thật là không một ai mua bảo
hiểm cho tất cả mọi thứ quanh mình. Thậm chí một vài người không mua bảo hiểm cho
bất kỳ điều gì, đó có thể là một sự lựa chọn hay bởi vì họ không có khả năng theo đuổi nó.
Thêm vào đó, một vài cá nhân mua bảo hiểm liên quan đến một vài rủi ro như: tai nạn ô
tô hay bệnh tật, nhưng họ cũng mua vé số và chơi game, đánh bạc tại các casino, nơi được
biết đến như những khoản sinh lợi mong đợi tiêu cực, chúng ta có thể hiểu những sự tham
gia đó là sự sẵn lòng chi trả cho tình trạng bị kích động bao hàm cả rủi ro. Việc kết hợp
thái độ ưa thích hay không ưa thích rủi ro có thể được giải thích bởi thái độ quan tâm đến
rủi ro phụ thuộc vào lượng tiền hiện có. Friedman và Savage đã nghiên cứu và cho rằng
đây là trường hợp con người thích mạo hiểm cho những khoản tiền nhỏ (như vé số) nhưng
lại mua bảo hiểm để bảo vệ cho chính họ chống lại những thất thoát to lớn tiềm ẩn như
Lý thuyết danh mục đầu tư Nhóm 03 – Đêm 3 – K22
3
sau:
E(π)
=
π
=
p
G
π
G
+
p
B
π
B
= 0,6*(0,2) + 0,4*(-0,1) = 0,08
tr.đ
Tuy nhiên, nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến việc dự án cho lợi nhuận kỳ vọng là
bao
nhiêu, mà còn muốn tìm hiểu về mức độ rủi ro của nó. Thước đo rủi ro của dự án
là
mức độ biến thiên của lợi nhuận so với giá trị kỳ vọng. Đó là phương sai của lợi
nhuận.
Độ lệch chuẩn của lợi nhuận
(σ
π
)
bằng 0,147 tr.đ. Liệu mức lợi nhuận kỳ vọng
80.000
= (0,9 – 1,0)/1,0 =
-10%
Suất sinh lợi kỳ
vọng:
Lý thuyết danh mục đầu tư Nhóm 03 – Đêm 3 – K22
4
E(r) = r = p
G
r
G
+ p
B
r
B
= 0,6*(20%) + 0,4*(-10%) =
8%
Phương sai của suất sinh
lợi:
Var(r) = σ
2
= p
G
[r
G
– E(r
G
)]
ro.
Như vậy, suất sinh lợi kỳ vọng càng cao thì độ thỏa dụng của nhà đầu tư
càng
lớn;
nhưng phương sai (hay độ lệch chuẩn) của suất sinh lợi càng cao thì
độ thỏa dụng
của
nhà đầu tư càng nhỏ. Ta có thể biểu diễn phương trình độ
thỏa dụng của nhà đầu
tư
theo dạng thông dụng
sau:
U = E(r)
–
1
A
σ
2
(1) (A =
1,2)
2
E(r)
σ
Hình 1: Đường đẳng dụng
dU
=
∂
U
∂
E
(
r
)
dE(r)
)=
A
σ (2)
Lý thuyết danh mục đầu tư Nhóm 03 – Đêm 3 – K22
5 Đường đẳng dụng có dạng lõm thông thường: khi độ lệch chuẩn tăng thêm 1 đơn vị,
rồi
1 đơn vị, thì để giữ độ thỏa dụng không đổi, nhà đầu tư yêu cầu mức tăng thêm
của
suất
sinh lợi kỳ vọng ngày một cao hơn. Theo hướng tây-bắc, độ thỏa dụng của
nhà đầu
tư
sẽ tăng lên: U
3
> U
2
>
U
1
.
Lý thuyết danh mục đầu tư Nhóm 03 – Đêm 3 – K22
6
Hình 2: Quỹ Magellan tháng 1/1973 đến tháng 9/1994
Đ
Độ lệch chuẩn là phương pháp đo lường độ rộng của sự phân tán so với giá trị
trung bình.
Như vậy một trong những phương pháp ước lượng rủi ro được biết đến nhiều nhất là
phương sai, hay độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi mong đợi. Nó là một ước lượng bằng
thống kê của sự phân tán tỷ suất sinh lợi xung quanh giá trị mong đợi, nhờ đó một phương
sai hoặc độ lệch chuẩn lớn hơn sẽ biểu thị độ phân tán lớn hơn. Ý kiến này được hiểu là
sự phân tán của tỷ suất sinh lợi mong đợi càng cao thì tỷ suất sinh lợi không chắc chắn
trong tương lai càng cao.
Một phương pháp ước lượng rủi ro khác là phạm vi tỷ suất sinh lợi. Phạm vi tỷ suất
sinh lợi cho rằng một phạm vi lớn hơn của tỷ suất sinh lợi mong đợi, từ tỷ suất sinh lợi
thấp nhất đến tỷ suất sinh lợi cao nhất, nghĩa là sự không chắc chắn lớn hơn và rủi ro tùy
5%
10
%
1
5%
20
%
5
%
10
%
15
%
10%
25
%
30
%
35
%
và tương quan giữa những tài sản thì chúng ta có thể tính toán được độ lệch chuẩn của
danh mục đầu tư. Độ lệch chuẩn có khuynh hướng tương đối ổn định theo thời gian (đặc
biệt khi so sánh với giá trị trung bình của tỷ suất sinh lợi và những thước đo quan trọng
khác của sự phân phối) và những nhà kinh tế tài chính đã phát triển những công cụ rất
mạnh để dự báo chính xác độ lệch chuẩn.
Nhưng trước khi chúng ta thảo luận chi tiết về độ lệch chuẩn, chúng ta nên thảo luận
một số định nghĩa thay thế. Quan điểm phê bình độ lệch chuẩn cho thấy độ lệch chuẩn là
tiêu chuẩn đánh giá khả năng của tỷ suất sinh lợi cả trên và dưới giá trị trung bình. Hầu
hết các nhà đầu tư đều định nghĩa về rủi ro như sự liên quan tỷ suất sinh lợi thấp hoặc âm
(mặc dù những nhà bán khống có quan điểm đối lập). Điều này đã làm phát sinh một tiêu
chuẩn đánh giá rủi ro khác. Bán phương sai hoặc rủi ro sụt giá.
Bán phương sai tương tự với phương sai nhưng chỉ sử dụng tỷ suất sinh lợi dưới
giá trị trung bình.
Nếu như tỷ suất sinh lợi cân xứng, nghĩa là tỷ suất sinh lợi đó gần như bằng nhau và
bằng x% trên hoặc dưới giá trị trung bình, thì bán phương sai chính xác bằng ½ phương
sai. Nhiều tác giả phân biệt định nghĩa về rủi ro sụt giá. Một cách định nghĩa về rủi ro sụt
giá là bằng căn bậc hai của bán phương sai, tương tự với mối quan hệ giữa độ lệch chuẩn
và phương sai.
Từ tháng 1/1973 đến tháng 9/1994, quỹ Magellan đã có bán phương sai thực hiện là
21,6 bằng 55% phương sai 39,5. Theo như hình 1.1 thì sự phân phối hơi lệch về bên trái
(tỷ suất sinh lợi âm) hơn là lệch về bên phải (tỷ suất sinh lợi dương), và vì vậy bán
phương sai hơi lệch hơn nửa của phương sai.
Một biến thể của định nghĩa này là bán phương sai mục tiêu, là tổng quát hóa của bán
phương sai được tập trung vào tỷ suất sinh lợi dưới mục tiêu, thay vì chỉ nằm dưới giá trị
trung bình.
Rủi ro sụt giá chỉ tập trung hoàn toàn vào tỷ suất sinh lợi không mong đợi
Rủi ro sụt giá chỉ tập trung hoàn toàn vào tỷ suất sinh lợi không mong đợi. Tuy nhiên,
có nhiều vấn đề về rủi ro sụt giá. Thứ nhất, định nghĩa về rủi ro sụt giá không rõ ràng như
định nghĩa về độ lệch chuẩn hoặc phương sai, và chúng cũng không có giá trị về mặt
5% là khả năng tỷ suất sinh lợi thấp nhất và chuyển xác suất này thành tỷ suất sinh lợi
tương ứng. Đối với quỹ Magellan, chỉ có ít nhất 1% của tất cả các tỷ suất sinh lợi vượt
quá mức lỗ 20,8%. Cứ 1000$ đầu tư của quỹ thì giá trị có rủi ro là 208$.
Giá trị có rủi ro tương đương với k hả năng thâm hụt
Giá trị có rủi ro quan hệ mật thiết với khả năng thâm hụt và cùng có những thuận lợi
và bất lợi.
Phân phối chuẩn phù hợp với phần nào trong thảo luận về số liệu thống kê rủi ro? Phân
phối chuẩn là giả thiết chuẩn về nghiên cứu đầu tư mang tính học thuật và là một phân
phối xuyên suốt khoa học thống kê. Nó hoàn toàn được định nghĩa bằng giá trị trung bình
và độ lệch chuẩn. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng tỷ suất sinh lợi đầu tư không theo
đúng với phân phối chuẩn, nhưng thay vào đó chúng có những phân phối rộng hơn, tức là,
khả năng của những kết quả đặc biệt đối với đầu tư thực lớn hơn một phân phối chuẩn thể
hiện.
Việc chọn lựa cách định nghĩa rủi ro thì tách biệt với việc chọn lựa cách thể hiện
về rủi ro
Lý thuyết danh mục đầu tư Nhóm 03 – Đêm 3 – K22
9
Tất cả những định nghĩa về rủi ro ở trên đều đã cố gắng nắm bắt được rủi ro vốn có
trong phân phối “thực” của tỷ suất sinh lợi. Một hướng tiếp cận khác sẽ giả sử tỷ suất sinh
lợi được phân phối chuẩn. Lúc đó giá trị trung bình và độ lệch chuẩn đúng với những con
số thống kê khác: rủi ro sụt giá, bán phương sai, khả năng thâm hụt và giá trị có rủi ro.
Một cách tiếp cận như vậy có lẽ đánh giá thiết thực các số liệu định lượng mà các nhà đầu
tư cá nhân quan tâm nhất bằng cách sử dụng các ước lượng chính xác nhất và một số giả
thiết hợp lý.
Tổng quát hơn, điều này cho thấy rằng việc chọn lựa cách định nghĩa rủi ro thì tách
biệt với việc chọn lựa cách thể hiện về rủi ro. Bất kỳ cách nào dựa vào phân phối chuẩn sẽ
thúc đẩy chúng ta tập trung vào độ lệch chuẩn ở mức tài sản mà chúng ta có thể tính gộp
vào mức độ rủi ro danh mục đầu tư. Lúc đó việc thể hiện con số cuối cùng độ lệch chuẩn
hoặc theo phép biến đổi về toán học nào đó của độ lệch chuẩn là một vấn đề tùy theo ý
Bảng 3: Tính toán tỷ suất sinh lợi với tài sản rủi ro cụ thể
Khả năng Tỷ suất sinh lợi (% )
Tỷ suất sinh lợi mong đợi
(% )
0,25
0,25
0,25
0,25
0,08
0,10
0,12
0,14
0,0200
0,0250
0,0300
0,0350 E(R) = 0,1100 Lý thuyết danh mục đầu tư Nhóm 03 – Đêm 3 – K22
11
PHẦN II: ĐA DẠNG HÓA VÀ LÝ THUYẾT DANH MỤC ĐẦU TƯ
1.
Khái ni
ệm về đa dạng hóa danh mục đầu t
nh doanh áo
đi mưa và một công ty chuyên sản xuất và kinh doanh kem chống nắng. Hệ số t
ương quan
lợi nhuận của hai công ty này là r1,2 = - 1, vì sáu tháng mùa n
ắng công ty sản xuất kem
chống nắng thu được lợi nhuận cao trong khi công ty sản xuất áo đi mưa không có l
ợi
nhuận. Ngược lại, sáu tháng mùa mưa, công ty sản xuất áo đi mưa thu đư
ợc lợi nhuận cao
trong khi công ty sản xuất kem chống nắng không có lợi nhuận. Là nhà đầu t
ư khôn
ngoan, thay vì dồn toàn bộ vốn đầu tư vào một trong hai công ty, bạn nên đầu tư vào m
ột
danh mục gồm 50% cổ phiếu công ty sản xuất kem chống nắng và 50% c
ổ phiếu công ty
sản xuất áo đi mưa. Như vậy, quanh năm dù mùa mưa hay mùa nắng bạn đều có cơ h
ội
kiếm được lợi nhuận từ danh mục đầu tư trên.
2. Lý thuyết về danh mục đầu tư
Một danh mục đầu tư tốt nhất là danh mục tối ưu về mặt số lượng và ch
ủng loại
chứng khoán, tức là danh mục có kỳ vọng lợi nhuận cao nhất. Nhà đầu tư cần nghiên c
ứu
các loại chứng khoán khác nhau, so sánh kỳ vọng lợi nhuận và ch
ọn loại chứng khoán có
kỳ vọng lợi nhuận cao nhất. Điều này phụ thuộc vào nhận định riêng của nhà đầu tư, đ
òi
hỏi nhà đầu tư phải luôn động não, khả năng tư duy, ý chí và bản lĩnh khi phân tích v
à
đưa ra quyết định.
N
.
N
w
w
w
2
1
W
;
N
N
21
22221
11211
Δ
Tổng của các trọng số là 100%:
N
i
i
w
1
=
1 11
rrr
21
N
w
w
w
2
1
=
T
R
W =
P
r
Phương sai của suất sinh lợi của danh mục:
21
22221
11211
N
w
w
w
2
1
= W
T
W +
(1 – 1
T
W) +
(
P
r
–
T
R
W) (3)
Điều kiện cần của tối thiểu hóa:
T
ừ
(4), ta có các t
ỷ
tr
ọ
ng tài s
ả
n t
ố
i ưu:
W
*
=
-1
1 +
-1
R
(7)
Thế (7) vào (5) và (6) ta được hệ phương trình với hai ẩn số là
và
T
-1
1; C =
R
T
-1
R
; và D = AC – B
2
. Ta có:
P
rCB
BA
1
D
rBC
P
1 +
W
T
R
=
+
P
r
Phương trình đường tập hợp các cơ hội đầu tư:
2
P
=
D
CrBrA
PP
2
2
(8)
D
CrBrA
PP
P
2
2
2
(1/A)
1/2
B/A
Lý thuyết danh mục đầu tư Nhóm 03 – Đêm 3 – K22
14
2.2 Xây dựng danh mục đầu tư với các tài sản rủi ro và tài sản phi rủi ro
Tài sản phi rủi ro có suất sinh lợi r
f
. Tỷ lệ đầu tư vào tài sản phi rủi ro: w
0
Tỷ lệ đầu tư vào các tài sản rủi ro: w
1
, w
2
, …, w
N
T
W)
+
T
R
W
P
r
= r
f
+ (
R
– r
f
1)
T
W (9)
Đối với mỗi suất sinh lợi kỳ vọng nhất định theo yêu cầu, nhà đầu tư muốn xây
dựng một danh mục sao cho phương sai của suất sinh lợi có giá trị nhỏ nhất.
Vậy, nhà đầu tư muốn tối thiểu hóa
2
P
= W
T
W trên cơ sở thỏa mãn ràng buộc (9).
Phương trình Lagrangian:
L =
Các tỷ trọng tài sản rủi ro tối ưu:
W
*
=
-1
(
R
– r
f
1) (12)
Thế (7) vào (9):
P
r
= r
f
+ (
R
– r
f
1)
T
-1
(
R
– r
(A
2
f
r
– 2Br
f
+ C)
Vậy:
CBrAr
rr
ff
fP
2
2
(13)
Phương trình phương sai của suất sinh lợi danh mục đầu tư:
2
P
= W
T
W = W
T
[
r
r
ff
fP
P
2
2
(15)
Đường thị trường vốn (CML) là một tia đi từ vị trí của tài sản phi rủi ro và tiếp xúc với
đường IOS tại một danh mục có tên gọi là danh mục tiếp xúc T.
2.3 Xác định danh mục đầu tư tiếp xúc T
T vừa nằm trên CML vừa nằm trên IOS. T không chứa tài sản phi rủi ro nên ta có
1
T
W
t
= 1 và W
t
=
-1
(
R
– r
f
-1
Vậy,
W
t
= (B – Ar
f
)
-1
-1
(
R
– r
f
1)
Suất sinh lợi kỳ vọng của danh mục T:
t
r
=
T
R
W
t
=
f
f
ArB
Br
CLý thuyết danh mục đầu tư Nhóm 03 – Đêm 3 – K22
16
U
Đường thị
trường vốn
t
ft
rr
Danh m
ụ
c t
ố
i
ưu
t
r
t
P
r
P
Đường tập hợp
các cơ hội đầu
tư
Lý thuyết danh mục đầu tư Nhóm 03 – Đêm 3 – K22
R1: tỷ suất lợi nhuận trung bình của cổ phiếu 1
R2: tỷ suất lợi nhuận trung bình của cổ phiếu 2
3. Một số cách đa dạng hoá danh mục đầu tư
Đa dạng hoá chứng khoán: Nếu đầu tư tất cả vốn vào một loại cổ phiếu, mà tình
hình kinh doanh của công ty đó không được tốt, thậm chí đi đến phá sản thì nhà đầu tư
không những không thu được cổ tức, mà còn bị mất cả vốn. Vậy nên, đầu tư vào nhiều
loại chứng khoán, cho dù có một vài loại chứng khoán trong số đó gặp rủi ro thì vẫn có
thể thu được lợi từ những chứng khoán khác để bù đắp thiệt hại.
Đa dạng hóa tổ chức phát hành: Nếu danh mục đầu tư chỉ bao gồm toàn bộ trái
phiếu chính phủ thì nhà đầu tư không cần phải đa dạng hoá chủ thể phát hành, bởi vì trái
phiếu chính phủ gần như không có rủi ro. Tuy nhiên, nếu nhà đầu tư mua trái phiếu công
ty, trái phiếu địa phương hoặc cổ phiếu thì việc đa dạng hoá chủ thể phát hành là một vấn
đề cần được cân nhắc, bởi các loại chứng khoán này luôn tiềm ẩn một số rủi ro nhất định.
Ngoài ra, có thể đa dạng hoá theo lĩnh vực kinh doanh, nguồn thu hoặc đa dạng hoá
Lý thuyết danh mục đầu tư Nhóm 03 – Đêm 3 – K22
18
theo vị trí địa lý.
4. Lợi ích của đa dạng hóa danh mục đầu tư
Một là mở rộng phạm vi đầu tư vào nhiều công ty, nhiều lĩnh vực không có nhiều
sự liên kết với nhau, nhà đầu tư có thể kiềm chế bớt sự biến động giá cả với danh mục
của mình do thực tế, rất hiếm khi xảy ra trường hợp: tất cả các ngành đi lên hay đi xuống
với cùng một tốc độ và trong cùng một thời kỳ. Do đó, đa dạng hóa sẽ đảm bảo sự hoạt
động ổn định hơn, ít rủi ro hơn cho nhà đầu tư.
Hai là đa dạng hóa hầu như luôn luôn có lợi cho nhà đầu tư không ưa mạo hiểm do
nó giảm rủi ro trừ khi lợi tức của những chứng khoán diễn biến theo nhau một cach hoàn
hảo (rất hiếm xảy ra)
Ba là những lợi tức của hai chứng khoán càng không đi kèm với nhau nhiều thì lợi
ích của việc đa dạng hóa càng nhiều hơn (giảm rủi ro)
5. Hạn chế của đa dạng hóa danh mục đầu tư
- Công cụ vốn: là loại công cụ mà buộc người phát hành phải trả cho người nắm giữ
nó một số tiền dựa vào kết quả đầu tư (nếu có) sau khi đã thực hiện xong các nghĩa
vụ đối với công cụ nợ (equity instrument). Công cụ vốn thường thấy nhất là cổ
phiếu phổ thông (cổ phiếu thường).
Việc đầu tư vào công cụ tài chính bị ảnh hưởng bởi những rủi ro sau đây:
- Rủi ro lạm phát (purchasing risk, inflation risk): rủi ro liên quan đến sự trượt giá (mất
giá) của cash flow kỳ vọng.
- Rủi ro tín dụng (credit risk) hay rủi ro sai hẹn (default risk): là rủi ro mà người phát
hành hay người mượn trể hạn giao ước
- Rủi ro tỷ giá (foreign-exchange risk): là loại rủi ro xảy ra khi có sự chuyển đổi giá cả
sẽ làm thay đổi một cách bất lợi, kết quả là làm giảm số tiền được nhận.
Tài sản tài chính có 2 chức năng kinh tế chủ yếu:
- Là công cụ để chuyển vốn từ những người có vốn nhàn rỗi đến những người cần vốn để
đầu tư vào tài sản hữu hình.
- Bằng một phương thức chuyển vốn nào đó từ người có vốn sang người cần vốn đã làm
phân bổ lại những rủi ro không thể tránh khỏi do dòng tiền mà tài sản hữu hình tạo ra giữa
người gọi vốn và người cung cấp vốn.
Như vậy, tài sản tài chính là việc giữ một giá trị, cho phép nhận một khoản tiền (hoặc có
tính thanh khoản như tiền) trong tương lai, hoặc khi kỳ hạn chấm dứt, hoặc khi bán lại tài
sản đó cho bên thứ 3 một cách trực tiếp hay thông qua trung gian. Tài sản tài chính vừa
chứa đựng tính rủi ro nhưng cũng vừa hứa hẹn một khoản lợi nhuận, một khả năng sinh
lợi hay một giá trị thặng dư. Hoạt động quản lý danh mục tài sản tài chính nhằm cân bằng
giữa rủi ro và sinh lợi.
Lý thuyết danh mục đầu tư Nhóm 03 – Đêm 3 – K22
20
Tuy nhiên, tính thanh khoản và chuyển đổi của tài sản tài chính còn phụ thuộc vào sự tồn
tại của thị trường mà ở đó người ta có thể trao đổi, mua bán.
2. Thị trường tài chính
2.1 Khái niệm
tính trung lập này - là nơi để người mua, người bán đến đó tìm gặp nhau, là nơi cung cấp
các thông tin một cách công khai và đầy đủ - nên có khối lượng giao dịch và giá trị giao
dịch lớn vì thế nó cho phép giảm đến mức thấp nhất những khoản chi phí trên.
Lý thuyết danh mục đầu tư Nhóm 03 – Đêm 3 – K22
21
Thị trường tài chính phát triển cùng với trình độ phát triển của nền kinh tế, đi từ đơn giản
đến phức tạp. Ở trình độ phát triển ngày càng cao, thị trường tài chính ngày càng có nhiều
loại trung gian tài chính tham gia. Các trung gian tài chính ngày càng tạo ra nhiều loại sản
phẩm tài chính đa dạng, đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu của các bên tham gia thị
trường.
2.3 Phân loại thị trường tài chính
Có nhiều cách đến phân loại thị trường tài chính:
Nếu phân loại theo công cụ tài chính trên thị trường thì ta có:
- Thị trường nợ
- Thị trường chứng khoán
Nếu phân loại theo thời gian luân chuyển vốn, ta có:
- Thị trường tiền tệ: thị trường có thời gian luân chuyển vốn không quá 1 năm
- Thị trường vốn: thị trường có thời gian luân chuyển vốn trên 1 năm trở lên
Nếu phân loại theo hình thức phát hành, thì ta có:
- Thị trường sơ cấp: thị trường phát hành chứng khoán lần đầu tiên
- Thị trường thứ cấp: thị trường mua đi bán lại các chứng khoán
2.4 Mối quan hệ giữa các loại thị trường
2.4.1 Mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn
* Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn. Hoạt động của thị trường tiền tệ diễn ra
chủ yếu thông qua hoạt động của ngân hàng và các tổ chức tín dụng, vì các ngân hàng
thương mại là chủ thể quan trọng nhất trong việc thu hút và cung cấp các nguồn vốn ngắn
hạn.
* Thị trường vốn là thị trường dành cho các khoản vốn dài hạn. Thị trường này cung cấp
vốn cho các khoản đầu tư dài hạn của chính phủ, các doanh nghiệp và các hộ gia đình. Do
nghịch: khi lãi suất của ngân hàng tăng cao hơn lãi suất trái phiếu, trái phiếu sẽ sụt giá và
tình hình ngược lại khi lãi suất ngân hàng hạ xuống hơn lãi trái phiếu.
Ngược lại, các thay đổi về chỉ số giá cổ phiếu của thị trường vốn cũng phản ảnh các hiện
tượng tốt hay xấu, đã đang hoặc sẽ xảy ra trên thị trường tiền tệ. Đối với thị trường vốn,
việc duy trì một lãi suất ổn định không thăng trầm quá đáng là cần thiết cho sự ổn định
của thị trường.
Trên thực tế, các hoạt động của thị trường tiền tệ và thị trường vốn được thực hiện đồng
bộ xen lẫn nhau, tác động và chịu sự ảnh hưởng của nhau, tạo thành cơ cấu hoàn chỉnh
của một thị trường tài chính.
Việc phân định thị trường tài chính thành 2 bộ phận là thị trường tiền tệ và thị trường vốn
chỉ là biện pháp để tạo thuận lợi cho quá trình nghiên cứu từng loại thị trường. Trên thực
tế, không phải dễ dàng có thể chỉ ra đâu là khu vực chuyên môn hoá của thị trường tiền tệ
và đâu là khu vực chuyên môn hoá của thị trường vốn. Hai thị trường này có mối quan hệ
hữu cơ với nhau. Các biến đổi về giá cả, lãi suất trên thị trường tiền tệ thường kéo theo
các biến đổi trực tiếp trên thị trường vốn. Ngược lại, các biến đổi về chỉ số chứng khoán
hoặc trị giá cổ phiểu của thị trường vốn cũng phản ảnh các hiện tượng tốt xấu đã đang và
sẽ xảy ra trên thị trường tiền tệ. Các chính sách của Nhà nước như chính sách lãi suất, tiền
tệ với mục đích phát triển thị trường tiền tệ đồng thời cũng là các yếu tố ngăn cản phạm vi
hoạt động của thị trường vốn. Xét trong tương lai, xuất phát từ những đòi hỏi thực tế,
không thể tồn tại một thị trường tiền tệ thuần tuý cũng như không thể tồn tài một thị
trường vốn thuần tuý mà phải tồn tại một thị trường tài chính bao gồm cả thị trường vốn
và thị trường tiền tệ hỗn hợp.
2.4.2 Mối quan hệ giữ thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
* Thị trường sơ cấp (primary market): Là nơi mua bán những chứng khoán mới phát
hành. Vì thế, trong thực tế người ta còn gọi thị trường phát hành chứng khoán.Nguồn vốn
Lý thuyết danh mục đầu tư Nhóm 03 – Đêm 3 – K22
23
chủ yếu của thị trường này là nguồn tiền tiết kiệm của công chúng cũng như một số tổ
chức phi tài chính.
- Giá hợp lý trên thị trường cấp hai ảnh hưởng đến giá phát hành chứng khoán trên thị
trường sơ cấp.
* Mối quan hệ giữ thị trường sơ cấp và thị trường thức cấp: Giữa thị trường sơ cấp và thị
trường thứ cấp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mối quan hệ giữa 2 thị trường này là
mối quan hệ nội tại, trong đó thị trường sơ cấp là thị trường cơ sở, là tiền đề để cho thị
trường thứ cấp hoạt động; thị trường thứ cấp là động lực. Nếu không có thị trường sơ cấp
Lý thuyết danh mục đầu tư Nhóm 03 – Đêm 3 – K22
24
thì không có chứng khoán cho thị trường thứ cấp hoạt động; và ngược lại, nếu không có
thị trường thứ cấp thì thị trường sơ cấp khó có thể hoạt động một cách trôi chảy được. Vì
khi đó các loại chứng khoán rất khó khăn khi phát hành, không ai dám đầu tư vào chứng
khoán vì chứng khoán không thể chuyển đổi thành tiền tệ khi cần, vốn của họ bị ứ động.
Việc phân biệt thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết.
Trong thực tế, hoạt động của thị trường chứng khoán chúng ta không thể chỉ rõ ra được
đâu là thị trường sơ cấp và đâu là thị trường thứ cấp, bởi vì trong hoạt động của thị trường
chứng khoán vừa diễn ra việc phát hành chứng khoán vừa diễn ra việc mua đi bán lại
chứng khoán.
3. Chủ thể cung cầu tài sản tài chính
3.1 Khái niệm
Các chủ thể trong nền kinh tế bao gồm các tổ chức tài chính và phi tài chính. Tổ chức phi
tài chính là các tổ chức sản xuất sản phẩm (xe, máy tính,mỹ phẩm, ) hoặc cung cấp các
dịch vụ phi tài chính (vận tải, du lịch, các dịch vụ công cộng khác, ). Các tổ chức tài
chính hay các tổ chức tài chính trung gian, là các tổ chức có cung cấp một (hoặc nhiều)
trong số các dịch vụ sau:
- Huy động các nguồn tài chính từ những người có vốn để cho những người cần vốn
vay.
- Làm môi giới mua bán tài sản tài chính theo sự uỷ quyền của khách hàng.
- Mua bán tài sản tài chính để kiếm lời cho chính công ty mình.
- Tham gia vào hoạt động đầu tư tài sản tài chính cho nhà đầu tư và sau đó bán chúng