TIỂU LUẬN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ CHUYÊN ĐỀ 6 SUY THOÁI KINH TẾ - Pdf 24



TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC TIỂU LUẬN: LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
CHUYÊN ĐỀ 6: SUY THOÁI KINH TẾ 1. Võ Phương Thúy Anh
2. Nguyễn Thị Ngọc Diễm
3. Lê Trung Hiếu
4. Trần Văn Hội
5. Hồ Thái Yên Kha
6. Trần Thị Linh GVHD: TS. DIỆP GIA LUẬT
7. Nguyễn Thị Ngọc LỚP: NGÀY 2 - K23
8. Đặng Hữu Phước
9. Trần Thanh Tâm
10. Nguyễn Phương Thảo
11. Nguyễn Hữu Thuận
12. Võ Thị Thanh Trúc

1.4.3. Bất ổn cán cân thanh toán 10
1.4.4. Vấn đề an sinh xã hội 10
1.4.5. Sự suy sụp của hệ thống tài chính và các thị trường bong bóng 10
1.5. GIẢI PHÁP CHUNG CHO SUY THOÁI KINH TẾ 11
1.5.1. Chính sách tài khóa 11
1.5.2. Chính sách tiền tệ 12
1.5.3. Điều tiết kinh tế vĩ mô hiệu quả - sự bảo đảm của ổn định kinh tế . 14

ii

2. CÁC CUỘC SUY THOÁI KINH TẾ TRÊN THẾ GIỚI 16
2.1. ĐẠI SUY THOÁI Ở MỸ 1929-1933 16
2.1.1. Tình hình kinh tế xã hội 16
2.1.2. Nguyên nhân 18
2.1.3. Tác động 20
2.1.4. Các giải pháp 23
2.2. SUY THOÁI KINH TẾ NĂM 1971-1975 25
2.2.1. Tình hình kinh tế xã hội 25
2.2.2. Nguyên Nhân 26
2.2.3. Tác động 26
2.2.4. Các giải pháp 29
2.3. SUY THOÁI KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC CHÂU MỸ LA TINH THẬP
NIÊN 1980 30
2.3.1. Tình hình kinh tế xã hội 30
2.3.2. Nguyên nhân 30
2.3.3. Tác động 31
2.3.4. Các giải pháp 33
2.4. SUY THOÁI KINH TẾ 2008 - 2012 33
2.4.1. Tình hình kinh tế xã hội 33
2.4.2. Nguyên nhân 33

Không ai trong chúng ta mong đợi nhưng “suy thoái kinh tế” có lẽ là từ
được nhắc đến nhiều nhất trên thị trường tài chính thế giới trong khoảng thời
gian dài vừa qua từ năm 2008 đến nay. Trong thời đại giao thương mở cửa và
toàn cầu hóa, sự suy thoái kinh tế ở một quốc gia hay khu vực sẽ ảnh hưởng lớn
đến phần còn lại của thế giới và sẽ gây ra tác động trực tiếp đến đời sống của
những người lao động khắp nơi trên thế giới, trong đó có chúng ta.
Suy thoái kinh tế là một thực tế không thể nào tránh được trong thời đại
ngày nay, tuy nhiên mỗi cuộc suy thoái kinh tế đã từng xảy ra trong lịch sử đều
có những nguyên nhân và giải pháp cụ thể để vượt qua nó. Cho nên việc nghiên
cứu các kiến thức về suy thoái kinh tế, các cuộc suy thoái kinh tế trong lịch sử sẽ
cho chúng ta các bài học quý báu và để giúp chúng ta vững tin hơn trước những
thử thách của cuộc sống. Đề tài này khá rộng và trong tiểu luận này nhóm nghiên
cứu và trình bày ba phần:
Phần 1: Tổng quan về sự suy thoái kinh tế.
Phần 2: Tìm hiểu một số cuộc suy thoái kinh tế trong lịch sử
- Đại suy thoái 1929-1933
- Suy thoái kinh tế 1971-1975
- Suy thoái kinh tế ở các nước châu Mỹ Latinh thập niên 80
- Khủng hoảng kinh tế 2008 - 2012
Phần 3: Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến Việt Nam & kiến nghị giải pháp 2

1. TỔNG QUAN VỀ SỰ SUY THOÁI KINH TẾ
1.1. KHÁI NIỆM
Suy thoái kinh tế (recession/economic downturn) là sự suy giảm của tổng
sản phẩm quốc nội thực trong thời gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp trong năm,
nói cách khác là tốc độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quý. Theo cơ
quan nghiên cứu kinh tế quốc gia (NBER) của Hoa Kỳ thì suy thoái kinh tế là sự


4

1.2. CÁC KIỂU SUY THOÁI
Các nhà kinh tế học hay miêu tả kiểu suy thoái kinh tế theo hình dáng của
đồ thị tăng trưởng theo quý. Có các kiểu suy thoái sau hay được nhắc đến:
1.2.1. Suy thoái hình chữ V
Đây là kiểu suy thoái mà pha suy thoái ngắn, tốc độ suy thoái lớn; đồng
thời, pha phục phồi cũng ngắn và tốc độ phục hồi nhanh; điểm đổi chiều giữa hai
pha này rõ ràng. Đây là kiểu suy thoái thường thấy.

Suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ năm 1953
1.2.2. Suy thoái hình chữ U
Đây là kiểu suy thoái mà pha phục hồi xuất hiện rất chậm. Nền kinh tế sau
một thời kỳ suy thoái mạnh tiến sang thời kỳ vất vả để thoát khỏi suy thoái.
Trong thời kỳ thoát khỏi suy thoái, có thể có các quý tăng trưởng dương và tăng
trưởng âm xen kẽ nhau.

5 Suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ trong các năm 1973-1975
1.2.3. Suy thoái hình chữ W
Đây là kiểu suy thoái liên tiếp. Nền kinh tế vừa thoát khỏi suy thoái được
một thời gian ngắn lại tiếp tục rơi ngay vào suy thoái. 6
1.3.3. Trường phái tiền tệ
Quan điểm của trường phái tiền tệ cho rằng suy thoái kinh tế là hệ quả của
sự quản lý tiền tệ yếu kém, họ chỉ trích sự can thiệp của chính phủ vào thị trường.
Theo họ thị trường vốn dĩ tự điều chỉnh, khi có sự can thiệp của chính phủ trong
chính sách tiền tệ làm tổng cầu biến động.
1.3.4. Xem xét từ thực tế
Sau khi điểm qua các quan điểm của các trường phái về nguyên nhân của
suy thoái, chúng tôi rút ra một nhận xét: các quan điểm trên đều chỉ tập trung
nhấn mạnh các yếu tố nội sinh của nền kinh tế mà đã bỏ qua một tác động không
nhỏ của các yếu tố ngoại sinh.
Vậy các yếu tố ngoại sinh là gì và chúng có tác động như thế nào? Các
yếu tố ngoại sinh bao gồm:
1.3.4.1. Khủng hoảng tài chính
Đây là một yếu tố quan trọng và là nguyên nhân chủ yếu của các cuộc suy
thoái kinh tế. Khủng hoảng tài chính diễn ra đối với một quốc gia sẽ nhanh chóng
lây lan qua các quốc gia khác do tính toàn cầu hóa của hệ thống tài chính. Nó còn
là nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm tổng cầu trên quy mô toàn thế giới.
VD: Khủng hoảng tài chính tại Mỹ 2008 đã nhanh chóng lay lan sang các
nước khác. Mặt khác Mỹ là quốc gia có tỷ trọng tiêu dùng lớn trên thế giới, như
vậy khi người dân Mỹ giảm chi tiêu làm ảnh hưởng đến tổng cầu của các quốc
gia khác.
1.3.4.2. Giá nguyên liệu đầu vào gia tăng đột biến
Giá nguyên liệu đầu vào gia tăng làm giá đầu ra gia tăng theo, trong khi
mức độ gia tăng của thu nhập không theo kịp mức độ gia tăng của giá cũng dẫn

9

đến tổng cầu giảm. Tổng cầu giảm một lần nữa sẽ tác động ngược trở lại tổng
cung. VD: Cuộc suy thoái giá dầu tại Trung Đông giai đoạn 1973 - 1975.
1.3.4.3. Chiến tranh

trực tiếp và gián tiếp suy giảm vì những lo ngại về bất ổn kinh tế, các nhà đầu tư
có xu hướng rút vốn về do lo ngại rủi ro đầu tư.
1.4.3. Bất ổn cán cân thanh toán
Suy thoái kinh tế dẫn đến sự sụt giảm nhanh chóng về nhu cầu nhập khẩu
trên thế giới do người tiêu dùng trên thế giới thắt chặt chi tiêu dẫn đến hoạt động
xuất khẩu ra thị trường quốc tế bị suy giảm.
1.4.4. Vấn đề an sinh xã hội
Suy thoái kinh tế tác động tiêu cực lên nền kinh tế dẫn đến xu hướng bất
bình đẳng về thu nhập và phân hóa giàu nghèo trong xã hội có khả năng gia tăng.
Đồng thời gây ra những bất ổn trong xã hội do tội phạm tăng.
1.4.5. Sự suy sụp của hệ thống tài chính và các thị trường bong bóng
Sự suy sụp của hệ thống tài chính:Suy thoái kinh tế xảy ra làm cho tình
hình tài chính cũng có nhiều bất ổn, các nhà đầu tư bắt đầu gặp khó khăn về dòng
tiền do vòng xoáy nợ nần gây ra, làn sóng bán tháo do không có đối tác nào có
thể bán tại mức giá chào bán cao được niêm yết trước đó, dẫn đến một sự suy
giảm thanh khoản nặng nề và sụp đổ bất ngờ theo chiều thẳng đứng của thị
trường tài chính, làm cho giá cổ phiếu giảm mạnh, nhà đầu tư hoảng sợ, thị
trường chứng khoán đi xuống và chứng khoán bị bán ra ồ ạt. Bên cạnh việc có
những tác động tiêu cực lên thị trường chứng khoán, suy thoái kinh tế cũng làm
cho các ngân hàng gặp nhiều khó khăn, một số ngân hàng mất khả năng thanh
khoản, có thể gây ra sự sụp đổ của các ngân hàng do nợ xấu tăng lên, người vay
vốn không còn khả năng trả nợ và người gửi tiền hoảng loạn đua nhau rút tiền
gởi, làm cho chất lượng tín dụng suy giảm và nợ xấu tăng nhanh hơn tốc độ tăng
trưởng tín dụng.

11

Sự suy sụp của các thị trường bong bóng: Các thị trường bong bóng
trước suy thoái như thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản sẽ có nguy
cơ tan vỡ sau một thời gian tăng trưởng quá nóng.

dùng cận biên lớn hơn không và nhỏ hơn một). Trong điều kiện bình thường,
khoản tiết kiệm được chuyển sang khu vực doanh nghiệp để đầu tư, nhưng trong
thời kỳ suy thoái doanh nghiệp không muốn đầu tư nữa vì không có lợi. Trong
giả thuyết thứ nhất, Keynes cho rằng nền kinh tế suy thoái vì tạm thời không đủ
cầu cho cung đang dư thừa. Do đó, bài toán sẽ được giải quyết nếu xuất hiện một
lượng cầu đủ lớn.
1.5.1.2. Tác động của chính sách tài khóa mở rộng
Việc theo đuổi chính sách tài khóa mở rộng bằng các khoản chi lớn thực
hiện các chương trình tài trợ là gia tăng các dịch vụ hàng hóa công cộng như cơ
sở hạ tầng và giáo dục… tác động của những khoản chi này có thể đẩy nhanh
tăng trưởng kinh tế thông qua việc làm tăng sức mua của người dân như lý thuyết
của trường phái Keynes. Tuy nhiên, khi Chính phủ mở rộng chi tiêu quá lớn cũng
sẽ có tác động ngược chiều làm giảm tăng trưởng kinh tế, bởi vì nó sẽ dịch
chuyển nguồn lực từ khu vực sản xuất hiệu quả trong nền kinh tế sang khu vực
Chính phủ kém hiệu quả. Việc mở rộng chi tiêu công sẽ làm phức tạp thêm
những nỗ lực thực hiện các chính sách thúc đẩy tăng trưởng như chính sách thuế
và an sinh xã hội, được Chính phủ tài trợ bằng nguồn ngân sách sẽ làm mức bội
chi ngân sách tăng lên quá lớn. Và thực tế cho thấy, thời gian cần thiết để đưa ra
và thực thi các chính sách lại khá dài. Mặt khác, chính sách tài khóa chỉ phát huy
được trong điều kiện áp lực về nợ của các Chính phủ không lớn.
1.5.2. Chính sách tiền tệ
Từ những năm 1980 trở lại đây, chính sách tiền tệ trở nên giữ vai trò rõ rệt
hơn bởi vì:
 Thứ nhất, có quan điểm cho rằng chính sách tài khoá dựa trên cơ sở học
thuyết lợi thế tương đối của D. Ricardo là không hiệu quả.

13

 Thứ hai, chính sách tiền tệ có thể duy trì khoảng cách ổn định và nhỏ nhất
giữa mức sản lượng thực tế với mức sản lượng tiềm năng.

thực tế so với lạm phát mục tiêu; chênh lệch giữa sản lượng thực tế so với sản
lượng tiềm năng; mức lãi suất ngắn hạn, tại đó nền kinh tế đạt mức toàn diện
nhân công. Trong trường hợp nền kinh tế suy thoái, quy tắc Taylor khuyến nghị
xác định mức lãi suất tương đối thấp để thúc đẩy tăng trưởng. Thực tiễn của cuộc
khủng hoảng cho thấy tỷ lệ lạm phát thấp mà tất cả các NHTW theo đuổi đã
không cho phép các NHTW đưa ra những giải pháp chống khủng hoảng hiệu
quả.
Tác động: Khi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng sẽ làm tăng
tổng phương tiện thanh toán. Một mặt, làm cho khả năng cung ứng tín dụng của
hệ thống các NHTM tăng lên, các doanh nghiệp có thể tiếp cận đượcnguồn vốn
tín dụng dễ dàng tài trợ cho các dự án đầu tư. Sự thay đổi tỷ giá khi đồng tiền
trong nước bị đánh giá thấp hơn ngoại tệ cũng góp phần hỗ trợ cho hoạt động
xuất khẩu hàng hóa. Tuy nhiên, chính sách tiền tệ mở rộng cũng có những tác
động tiêu cực đối với sự phát triển của nền kinh tế như: việc tăng trưởng tín dụng
nhanh, có sự dễ dàng khi xét duyệt tín dụng, cũng như các doanh nghiệp có tư
tưởng ỷ lại vì được sựhỗ trợ lãi suất nên thường chấp nhận những dự án đầu tư
mạo hiểm hoặc hiệu quả thấp, sẽ làm tăng rủi ro cho hệ thống ngân hàng. Với áp
lực tăng cầu quá mức, do tác động của các gói kích thích kinh tế của Chính phủ
với độ trễ nhất định kết hợp với chính sách tiền tệ mở rộng có thể đẩy chỉ số giá
lên cao quá tầm kiểm soát của Chính phủ gây thương hại cho nền kinh tế.
1.5.3. Điều tiết kinh tế vĩ mô hiệu quả - sự bảo đảm của ổn định kinh tế
Để ổn định kinh tế cần kết hợp cả hai chính sách tài khóa và tiền tệ một
cách hợp lý. Việc lý giải về kết quả sử dụng các công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô
trong các cuộc khủng hoảng vừa qua còn rất nhiều điều phải bàn, nhưng có điều
đã rõ là cần phải điều chỉnh chính các cơ chế thực thi chính sách kinh tế vĩ mô.
 Thứ nhất: NHTW đặc biệt ở các nước đang phát triển cần thực thi chính
sách tiền tệ minh bạch, cam kết theo các nguyên tắc khoa học như Quy tắc
Taylor, cơ chế Operation Twist để ổn định giá, ổn định tỷ lệ lạm phát, góp phần

15

kỳ hậu khủng hoảng, cần hạn chế các khoản mua lại trực tiếp của Chính phủ để

16

không làm tăng tỷ trọng sở hữu của Chính phủ trong nền kinh tế, trên cơ sở hoàn
thiện hệ thống điều tiết, xây dựng danh mục những tài sản được sử dụng làm tài
sản thế chấp, cấp thanh khoản bổ sung cho các tổ chức tài chính với những qui
định nghiêm ngặt hơn.
 Thứ sáu: Hoàn thiện hệ thống điều tiết tự động theo hướng xây dựng
thang đánh thuế lũy tiến chặt chẽ hơn và thang trợ cấp xã hội rộng rãi hơn, trên
cơ sở hài hòa phát triển xã hội và đưa ra các qui tắc cho phép thay đổi mức thuế
và trợ cấp khi nền kinh tế chuyển sang giai đoạn mới của chu kỳ kinh tế. Nghĩa là
các khoản thuế và trợ cấp sẽ được tăng lên khi một chỉ tiêu kinh tế vĩ mô nào đó
giảm xuống dưới mức quy định.
 Thứ bảy: Trong điều kiện kinh tế vĩ mô biến động, cần sử dụng chính
sách tài khóa ở mức độ cao hơn, và bảo đảm sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng
giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, tăng cường trao đổi thông tin giữa
các cơ quan chủ trì thực thi chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ nhằm kiểm
soát cung tiền, bảo đảm mục tiêu về lạm phát, thực hiện dự toán ngân sách nhà
nước, xác định quy mô thâm hụt dự kiến, hỗ trợ tài chính, nhu cầu vay nước
ngoài, phát hành trái phiếu Chính phủ.
2. CÁC CUỘC SUY THOÁI KINH TẾ TRÊN THẾ GIỚI
2.1. ĐẠI SUY THOÁI Ở MỸ 1929-1933
2.1.1. Tình hình kinh tế xã hội
Sau chiến tranh thế giới lần 1 (1914-1918), nền kinh tế của Mỹ phát triển
mạnh trong thập niên 1920s. Từ năm 1921-1929, sản lượng công nghiệp tăng
khoảng 40%, ngành nông nghiệp ứng dụng các thành tựu khoa học & công nghệ
vào sản xuất, người nông dân vay mượn để đầu tư vào sản xuất nông nghiệp dẫn
đến sản lượng nông nghiệp dư thừa. Ngân hàng phát triển tín dụng cho phép
người dân vay mua sắm các loại hàng hóa tiêu dùng lâu bền, xe hơi, nhà cửa.

phủ vào thập kỷ 1920. Sự dễ dãi trong tăng tín dụng đẩy các ngân hàng dễ dàng
cho vay, dẫn tới bùng nổ quá mức cung tiền ngay trước khi khủng hoảng, đẩy thị
trường chứng khoán bùng nổ quá mức, ngân hàng cho vay quá nhiều, rủi ro quá

19

mức không được quản lý. Khi thị trường chứng khoán sụp đổ, kéo theo sụp đổ
dây chuyền của các thể chế tài chính do các khoản nợ xấu không đòi được.
Theo trường phái Keynes: cơ chế tự điều chỉnh của thị trường tự do
không hoạt động được. Dù lãi suất giảm nhưng đầu tư không tăng được do kỳ
vọng về tương lai quá bi quan.
Theo trường phái của kinh tế tiền tệ: khủng hoảng là do sự xiết chặt quá
mức của cung tiền năm 1930, và rằng Cục dự trữ Liên Bang đã sử dụng sai chính
sách tiền tệ, đáng lẽ phải tăng cung tiền, thay vì đã giảm cung tiền.
Khủng hoảng nợ dưới chuẩn: Khi nợ bị đánh giá khó đòi, việc bán ra số
lượng lớn với giá rẻ, làm cho tài sản nhìn chung lại càng mất giá, khiến các
khoản nợ còn tồn lại càng giảm chất lượng (do tài sản thế chấp bị giảm giá).
Vòng xoáy này như quả bóng tuyết càng ngày càng to, đẩy cả thị trường nợ và tài
sản xuống, làm cho các thể chế tài chính và cá nhân trên thị trường vỡ nợ. Khi vỡ
nợ nhiều quá, đẩy sản xuất và lợi nhuận xuống thấp, đầu tư đình trệ, việc làm mất
và dẫn tới bẫy đói nghèo.
Sự bất công bằng trong giàu nghèo và thu nhập: Sự bất công bằng
trong giàu nghèo được Waddill Catchings và William Trufant Foster cho là
nguyên nhân của Đại Khủng Hoảng. Sản xuất ra quá nhiều hơn khả năng mua
của thị trường (vốn đa số là người nghèo). Lương tăng chậm hơn so với mức tăng
năng suất, dẫn tới lợi nhuận cao, nhưng lợi nhuận lại bị rót vào thị trường chứng
khoán, mà không phải đưa tới cho người tiêu dùng. Do thị trường chứng khoán
tăng nhanh, các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, FED lại để mức lãi xuất cho vay
rất thấp, làm đẩy mạnh đầu tư quá mức. Nền kinh tế tăng nóng trong một thập kỷ,
đến mức khả năng sản xuất quá cao so với mức hiệu quả và so với mức cầu. Như

làm việc làm và tiêu dùng giảm. Số lượng ngân hàng phá sản tăng mạnh do: nhà
đầu cơ chứng khoán không còn khả năng trả nợ do cổ phiếu đầu cơ không còn
giá trị và mặt khác những người gửi tiền tiết kiệm đua nhau rút tiền gửi. Từ năm
1931-1933, tại Mỹ đã có hơn 9000 ngân hàng bị phá sản, điều ngày góp phần

21

khiến các doanh nghiệp không tiếp cận được nguồn vốn vay để đầu tư và dẫn đến
số lượng việc làm mới tạo ra thấp. GDP của Mỹ giảm hơn 29%, xóa đi mọi thành
quả kinh tế đạt được của 1/4 thế kỷ trước đó. Sản lượng công nghiệp bị tác động
mạnh nhất, giảm đến 50%.

Biểu đồ dưới đây thể hiện tỉ lệ thất nghiệp tại Mỹ lên đến 25% trong khoảng thời
gian này:

Trích đoạn Một số kiến nghị cho chính sách tại Việt Nam trong thời gian tớ i
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status