Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ĐỂ TÀI TRỢ CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - Pdf 22

Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: Ts.Diệp Gia Luật
MỤC LỤC
PHẦN I: CÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH – CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1
PHẦN II: ĐÁNH GIÁ CÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TÀI TRỢ CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
CỦA VIỆT NAM 3
II.1.1 Tình hình kinh tế Việt Nam trong thời gian qua 3
II.1.2 Vai trò của các nguồn lực tài chính trong phát triển kinh tế ở Việt Nam 5
II.2 VAI TRÒ CỦA CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH TÀI TRỢ CHO SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VIỆT NAM 6
II.2.1 Thuế 6
II.2.2 Vay nợ trong nước và vay nợ nước ngoài 8
II.2.3 Nguồn vốn tín dụng ngân hàng 14
II.2.4 Nguồn lực tài chính huy động vốn qua thị trường chứng khoán 16
II.2.5 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 21
III.1 GIẢI PHÁP CHUNG 27
III.1.1 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách 27
III.1.2 Giải quyết về thủ tục hành 27
III.1.4 Xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, công nhân kỹ thuật có trình độ 27
III.2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ĐỂ TÀI TRỢ
CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ 27
III.2.1 Giải pháp về thuế 27
III.2.2 Giải pháp vay nợ trong nước và nước ngoài 28
III.2.3 Giải pháp vốn tín dụng ngân hàng 28
III.2.4 Giải pháp huy động vốn qua thị trường chứng khoán 30
III.2.5 Giải pháp huy động vốn FDI 31
PH Ầ N I: CÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH – CƠ SỞ LÝ
LUẬN CHUNG
I.1 KHÁI NIỆM
1.1. Thuế
Thuế là khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo mức độ
và thời gian được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng

cân thanh toán.
I.2 PHÂN LOẠI NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH
Các nguồn tài chính tài trợ cho phát triển kinh tế của Việt Nam bao gồm:
- Các nguồn tài chính trong nước: Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, Nguồn vốn huy
động từ các doanh nghiệp, nguồn vốn tiết kiệm trong các hộ gia đình…
- Các nguồn tài chính huy động từ nước ngoài: bao gồm đầu tư trực tiếp và đầu tư
gián tiếp. Hiện nay có ba hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu sau: doanh nghiệp
Nhóm thực hiện: Nhóm 3 – Cao học đêm 9 – K.19 Trang 2
Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: Ts.Diệp Gia Luật
100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp
tác kinh doanh.
Hình thức của đầu tư gián tiếp phụ thuộc vào chính nguồn vốn của chủ đầu tư.
Nguồn vốn đầu tư gián tiếp rất đa dạng, có thể là của các Chính phủ, các tổ chức quốc tế, các
tổ chức phi Chính phủ… Các nguồn vốn này có thể dưới hình thức viện trợ hoàn lại và không
hoàn lại, cho vay ưu đãi và không ưu đãi. Các doanh nghiệp và tư nhân cũng có thể đầu tư
gián tiếp dưới hình thức mua cổ phiếu và chứng khoán ở mức không quá lớn, chưa đạt đến tỷ
lệ cổ phần khống chế để phải tự đứng ra điều hành một dự án đầu tư. Trong các nguồn vốn
đầu tư gián tiếp, một bộ phận quan trọng là viện trợ phát triển chính thức ODA của Chính
phủ một số nước công nghiệp phát triển.
Trong hai nguồn vốn huy động như trên, nguồn tài chính trong nước giữ vai trò quyết
định, nguồn tài chính nước ngoài giữ vai trò quan trọng, hỗ trợ nguồn lực tài chính trong
nước. Chủ trương phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực là đúng đắn để thực hiện kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội.
PH Ầ N II : ĐÁNH GIÁ CÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH
TÀI TRỢ CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA VIỆT
NAM
II.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
II.1.1 Tình hình kinh tế Việt Nam trong thời gian qua
Trong thời gian qua tình hình kinh tế đã có những biến đổi thăng trầm, sau khi thực

dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến giảm tỷ trọng công nghiệp khai thác
khoáng sản, tài nguyên thiên nhiên. Kinh tế đối ngoại phát triển toàn diện cả về thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài và mở rộng thị trường xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ. Trong 2
Nhóm thực hiện: Nhóm 3 – Cao học đêm 9 – K.19 Trang 4
Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: Ts.Diệp Gia Luật
năm 2007 và 2008, cả nước đã thu hút 2116 dự án FDI đăng ký mới với số vốn 81.105 triệu
USD, chiếm 21% số dự án, 54,59% tổng số vốn đăng ký cả nước. Qua đó cho thấy sau khi
gia nhập WTO, Việt Nam thực sự là điểm đến đầu tư hấp dẫn của nhiều tập đoàn kinh tế
hàng đầu thế giới và khu vực.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, kinh tế Việt Nam còn bộc lộ những điểm hạn
chế, bất cập. Kinh tế tăng trưởng chưa vững và chưa đều, hiệu quả và tính bền vững chưa
cao. Điều đó được thể hiện khá rõ nét qua quy mô và tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế
cũng như giá trị gia tăng của từng ngành sản xuất, hoạt động dịch vụ. Nguyên nhân của thực
tế đó, bên cạnh yếu tố khách quan còn có tác động của một số yếu tố chủ quan liên quan đến
cơ chế chính sách về tổ chức, quản lý và đầu tư của từng ngành.
Trong sản xuất công nghiệp, tăng trưởng chưa vững, nhất là khu vực kinh tế nhà
nước. Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng của giá trị tăng thêm ngành công nghiệp 2 năm vào WTO
vẫn chưa có tiến bộ so với các năm trước: năm 2007 tăng 10,22%, năm 2008 tăng 6,11%
trong khi đó năm 2006 là 10,38%. Do chi phí trung gian cao, nên sức cạnh tranh của sản
phẩm công nghiệp còn thấp, khó đứng vững trên thị trường trong nước với hàng ngoại nhập
trong bối cảnh giảm thuế suất nhập khẩu theo cam kết WTO. Trình độ kỹ thuật nói chung còn
lạc hậu. Năng suất lao động, năng suất máy móc, trình độ của công nhân công nghiệp còn
thấp, chưa theo kịp yêu cầu tăng sức cạnh tranh.
Ở khu vực nông, lâm, thủy sản, tốc độ tăng GDP chưa bền vững: năm 2007 tăng
3,76%, năm 2008 tăng 4,07% trong khi đó năm 2006 là 4,02%.
Nhập siêu hàng hoá tăng cao so với các năm trước đó. Năm 2006 là 6,6 tỷ USD, chiếm
15,5% kim ngạch xuất khẩu, năm 2007 tăng lên 14,2 tỷ USD, chiếm 29,5% và năm 2008 là
17 tỷ USD, chiếm 27,7 % tổng kim ngạch xuất khẩu.
Du lịch tăng chậm do sản phẩm còn nghèo, chất lượng phục vụ chậm được cải tiến, cơ
sở vật chất kỹ thuật còn nghèo, giá cả thuê phòng cao.

tài sản quốc gia và đánh thuế để huy động nguồn lực nhằm duy trì sự tồn tại của bộ máy và
trang trải các chi phí thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Phát hành tiền để chi tiêu
là biện pháp đơn giản nhất, song việc phát hành tiền thiếu cơ sở vật chất đảm bảo sẽ gây hậu
quả tiêu cực đối với các quá trình kinh tế, xã hội. Vay nợ trong nước hay ngoài nước, suy cho
cùng thì cũng phải tìm nguồn để trả nợ, không chỉ trả gốc mà cả tiền lãi và nếu vay ngoài
nước còn bị lệ thuộc vào bên ngoài về chính trị - kinh tế ở mức độ nhất định. Tài sản quốc gia
cũng chỉ có giới hạn nhất định, nên việc bán tài sản quốc gia không thể coi là biện pháp chủ
yếu để huy động nguồn lực cho Nhà nước. Do vậy, ở hầu hết các quốc gia, thuế là công cụ
giữ vai trò chủ yếu trong việc huy động nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà
nước.
Trong nền kinh tế thị trường, cùng với việc mở rộng chức năng của Nhà nước, thuế đã
trở thành công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế quốc dân :
Nhóm thực hiện: Nhóm 3 – Cao học đêm 9 – K.19 Trang 6
Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: Ts.Diệp Gia Luật
 Tuỳ thuộc vào thực trạng nền KT- XH trong từng thời kỳ, Nhà nước có thể chủ động
điều chỉnh chính sách thuế nhằm thực hiện mục tiêu điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế
quốc dân như điều chỉnh chu kỳ kinh tế, cơ cấu kinh tế theo ngành và theo vùng lãnh
thổ, giá cả, tiết kiệm, đầu tư, việc làm, xuất nhập khẩu, phân phối lại thu nhập, tổng
cung, tổng cầu…
 Sự phát triển của một nền kinh tế luôn mang tính chu kỳ. Giai đoạn suy thoái kinh tế,
Nhà nước có thể giảm thuế để tăng cầu, khuyến khích đầu tư mở rộng sản xuất kinh
doanh nhằm khôi phục sự tăng trưởng của nền kinh tế. Ngược lại, giai đoạn kinh tế
phát triển quá nóng có nguy cơ dẫn đến mất cân đối, mất ổn định. Nhà nước có thể
tăng thuế để thu hẹp đầu tư nhằm đảm bảo các quan hệ cân đối và giữ nhịp độ tăng
trưởng bền vững của nền kinh tế.
 Bằng việc ban hành các sắc thuế cụ thể với những quy định về đối tượng, phạm vi
điều chỉnh, thuế suất, các trường hợp ưu đãi và miễn giảm thuế; Nhà nước có thể
thực hiện được mục tiêu điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo ngành và vùng lãnh thổ, đều
chỉnh quan hệ xuất nhập khẩu, khuyến khích tiêu dùng hoặc tiết kiệm, điều tiết thu
nhập giữa các tầng lớp dân cư, giảm sự bất bình đẳng về thu nhập trong xã hội.

 Bỏ sót đối tượng nộp thuế: Luật thuế thu nhập cá nhân số 04 ngày 21/11/2007
chưa có quy định chặt chẽ về các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực môi giới nhà đất.
 Thủ tục kê khai và nộp thuế còn rườm rà, phức tạp chưa mang tính phổ thông:
một số mẫu biểu kê khai thuế TNDN, TNCN còn dài dòng, phức tạp, khó hiểu.
II.2.2 Vay nợ trong nước và vay nợ nước ngoài
2.1.1 Vay trong nước
Trong nền kinh tế thị trường, cung của quỹ cho vay từ nhiều nguồn khác nhau:
 Tiết kiệm cá nhân. Thu nhập của cá nhân được chia làm hai phần là tiêu dùng
và tiết kiệm. Số thu về tiết kiệm cá nhân, một phần được sử dụng để mua nhà, đất, hoặc
đầu tư trực tiếp vào các chứng khoán; một phần còn lại được đầu tư gián tiếp vào thị
trường vốn và tiền tệ thông qua các ngân hàng, công ty tài chính, quỹ tiết kiệm, HTX tín
dụng…
 Tiết kiệm của nhà doanh nghiệp. Tổng số tiết kiệm của nhà doanh nghiệp là
phần lợi nhuận không chia và khấu hao; số tiền tiết kiệm này khi nhà doanh nghiệp chưa
sử dụng đến thì có thể trở thành một bộ phận của quỹ cho vay thông qua thị trường vốn và
tiền tệ.
 Mức thặng dư của ngân sách nhà nước. Mức thặng dư của NSNN bằng thu
nhập trừ đi chi phí về hàng hoá và dịch vụ.
Nguồn vốn trong nước thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia; ổn định, bền
vững, giảm thiểu được rủi ro và hậu quả xấu đối với nền kinh tế do những tác động từ bên
ngoài.
Nhóm thực hiện: Nhóm 3 – Cao học đêm 9 – K.19 Trang 8
Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: Ts.Diệp Gia Luật
Nguồn vốn trong nước chủ yếu được hình thành từ các nguồn tiết kiệm trong nền kinh
tế (ngân sách, doanh nghiệp, các hộ gia đình…).
2.1.1.1 Mặt tích cực
 Cơ cấu đầu tư đã có sự chuyển dịch theo hướng tập trung cho những mục tiêu
quan trọng về phát triển KT-XH, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất
kinh doanh, giải quyết việc làm và tăng thu NSNN.
 Là bộ phận quan trọng trong toàn bộ khối đầu tư, có vị trí quan trọng trong việc

 Nợ trong nước được coi là ít tác động hơn vì trên góc độ nền kinh tế là một
tổng thể thì chính chủ chỉ nợ công dân của chính nước mình, tuy vậy nếu nợ trong nước
lớn thì chính phủ buộc phải tăng thuế để trả lãi nợ vay. Thuế làm méo mó nền kinh tế, gây
ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội.
 Phát hành trái phiếu tuy có làm tăng tổng cầu, song mức tăng không lớn vì có
những tác động phụ làm giảm tổng cầu. Điều này gây ra áp lực lạm phát, vì thế tác động
tiêu cực tới tốc độ tăng trưởng thực.
 Khi xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới sẽ gây bất lợi cho nền kinh tế
trong nước, các doanh nghiệp trong nước không tránh khỏi những khó khăn trong hoạt
động sản xuất kinh doanh làm ảnh hưởng đến nguồn thu NSNN, từ đó làm hạn chế việc
huy động vốn từ NSNN và doanh nghiệp.
 Các chính sách tài chính tiền tệ của nhà nước thường không ổn định, cùng với
sự thay đổi sở thích, tâm lý của nhà đầu tư cá nhân đã ảnh hưởng đến việc huy động tiền
gửi tiết kiệm của các ngân hàng, do họ chuyển tiền đầu tư vào các kênh đầu tư khác như:
chứng khoán, vàng và bất động sản. Đều đó làm cho việc huy động vốn của Ngân hàng
không còn dễ như trước nữa, vì vậy việc cho vay của Ngân hàng sẽ siết chặt hơn.
 Sự gia tăng tiêu dùng làm tăng tổng cầu và thu nhập quốc dân trong ngắn hạn
nhưng dẫn đến khối lượng tư bản ít hơn (do đầu tư giảm) và thu nhập quốc dân thấp hơn
trong dài hạn.
2.1.2 Vay nợ nước ngoài:
Các loại hình huy động vốn nước ngoài:
 Đầu tư trực tiếp
Nhóm thực hiện: Nhóm 3 – Cao học đêm 9 – K.19 Trang 10
Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: Ts.Diệp Gia Luật
 Huy động qua TTCK
 Vay và viện trợ (ODA)
2.1.2.1 Tác động tích cực từ nguồn vốn ODA
II.1.1 Là nguồn vốn bổ sung quan trọng chi đầu tư phát triển
ODA là một trong những nguồn tài trợ quan trọng trong sự nghiệp phát triển công
nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Nguồn vay ODA tập trung vào các lĩnh vực chủ yếu cho

Việt Nam. Chính các dự án này đã góp phần thuận lợi cho sự phát triển cân đối giữa các
ngành, các vùng khác nhau trong cả nước. Bên cạnh đó còn có một số dự án giúp Việt Nam
thực hiện cải cách hành chính nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà
nước. Tất cả những điều đó góp phần vào việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế Việt Nam theo
hướng chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp.
II.1.4 Góp khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện mở rộng đầu tư phát triển
Việc chính phủ đầu tư vào cơ sở hạ tầng để nâng cao cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính,
ngân hàng là cần thiết để hấp dẫn đầu tư. Khi môi trường đầu tư được cải thiện cũng đồng
thời thu hút thêm vốn FDI. Thêm vào đó, việc đầu tư cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện cho các
nhà đầu tư tập trung đầu tư vào sản xuất kinh doanh mang lại lợi nhuận cao.
2.1.2.2 Tác động tíêu cực từ nguồn vốn ODA
Nhóm thực hiện: Nhóm 3 – Cao học đêm 9 – K.19 Trang 12
Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: Ts.Diệp Gia Luật
II.1.1 Làm gia tăng các khoản nợ công
Bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương,
theo Báo cáo công tác quản lý nợ công của Bộ Tài chính, dự kiến đến cuối năm 2009 khoảng
44,7% GDP, trong đó nợ Chính phủ chiếm 35,4% GDP; nợ được Chính phủ bảo lãnh chiếm
7,9% GDP; và nợ chính quyền địa phương chiếm 1,4% GDP, nếu tính thêm 146 nghìn tỷ
đồng và 1 tỷ USD trái phiếu Chính phủ, cùng với số vốn ODA tài trợ mới trong năm tới, đến
hết năm 2010, tỷ lệ nợ công sẽ cao hơn nữa, có thể sẽ đạt mức 50% GDP.
Nó sẽ khiến cho gánh nặng nợ nần, nghĩa vụ trả nợ tăng lên, giảm khả năng chi tiêu
của chính phủ. Đồng thời, nó cũng dễ khiến cho nền kinh tế trở nên bị phụ thuộc vào nước
ngoài. Thậm chí, nhiều khoản vay, khoản viện trợ còn đòi hỏi kèm theo đó là nhiều các điều
khoản về chính trị, quân sự, kinh tế khiến cho các nước đi vay bị phụ thuộc nhiều.
II.1.2 Làm tăng các xung lực lạm phát tương lai của đất nước
Một tác động tiêu cực khác của nguồn vốn ODA là làm tăng các xung lực lạm phát
tương lai của đất nước do khuynh hướng kích thích nền kinh tế bong bóng, kích thích và thoả
mãn những tiêu dùng cao cấp vượt quá khả năng kinh tế và sự tích luỹ cần thiết của nước tiếp
nhận đầu tư, thì về lâu dài, chúng sẽ có hại cho các nguồn lực tăng trưởng kinh tế, tăng nhập
siêu và làm mất cân đối tài khoản vãng lai, lượng ngoại tệ đổ vào trong nước sẽ làm tăng

Nguồn vốn vay nước ngoài sẽ làm tăng quy mô và tính chất nguy hiểm trong các hoạt
động lừa đảo, hoạt động rửa tiền, hoạt động tiếp vốn cho các kinh doanh phi pháp và hoạt
động khủng bố, cùng các loại tội phạm và các đe doạ an ninh phi truyền thống khác. Sự cộng
hưởng của các hoạt động tội phạm và tác động mặt trái của các dòng vốn kể trên, nhất là khi
chúng diễn ra một cách “có tổ chức” của giới đầu cơ hay lực lượng thù địch chính trị quốc tế,
sẽ ít nhiều, trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt và lâu dài gây tổn hại tới hoạt động kinh tế lành
mạnh và làm tăng tính dễ tổn thương và có thể gây ra lạm phát cao của nền kinh tế nước tiếp
nhận đầu tư trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay. Thậm chí trong một số trường hợp, chúng
còn làm mất uy tín nhà nước.
II.2.3 Nguồn vốn tín dụng ngân hàng
2.1.1 Mặt tích cực
1.2.1 Là hình thức huy động vốn chủ yếu của các doanh nghiệp
Hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD), nhất là các TCTD nhà nước vẫn đang là những
chủ lực chính cung ứng vốn. Thị trường đã giải quyết một lượng vốn tín dụng ngân hàng khá
lớn, có vai trò chủ yếu hiện nay là cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Vốn tín dụng trung, dài hạn cũng tăng nhanh.
Các quan hệ tín dụng, kể cả huy động vốn và cho vay trên thị trường tín dụng chính
thức và thị trường phi chính thức đều được mở rộng, tạo điều kiện thức đẩy cầu và cung tín
dụng tăng lên.
Công cụ tín dụng tham gia thị trường ngày càng đa dạng với nhiều hình thức tín dụng
mới trong cả lĩnh vực đầu tư sản xuất kinh doanh cũng như lĩnh vực tiêu dùng.
1.2.2 Góp phần tích cực trong việc phân phối và tối ưu hoá nguồn vốn xã hội
Nhóm thực hiện: Nhóm 3 – Cao học đêm 9 – K.19 Trang 14
Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: Ts.Diệp Gia Luật
Hoạt động tín dụng ngân hàng quan trọng trong việc phân bổ lại các nguồn lực nhằm
lành mạnh và tối ưu hoá các hoạt động kinh tế của loại hình DNNN. Đặc biệt đang là lúc đẩy
nhanh quá trình sắp xếp lại và cổ phần hoá các DNNN thì vai trò của hoạt động tín dụng ngân
hàng lại càng quan trọng hơn, nhất là trong bối cảnh hiện tại khi mà vốn của ngân hàng
thương mại chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản của DNNN, có trường hợp vốn tín dụng ngân
hàng chiếm tới 80% tài sản của doanh nghiệp.

hàng tăng trưởng ở mức độ đáng lo ngại. Ngoài ra, trong bối cảnh tăng trưởng và mở rộng
hội nhập quốc tế, mà trước hết là thực hiện các cam kết của Hiệp định thương mại Việt Nam -
Hoa Kỳ và gia nhập WTO, thị trường tín dụng trong nước cũng sẽ phải đối mặt với không ít
những thách thức tác động từ nhiều phía, kể cả các yếu tố nội tại khó khăn của nền kinh tế,
cũng như sự cạnh tranh khốc liệt mang tính toàn cầu hoá của thị trường tài chính quốc tế.
Đối với hệ thống các TCTD, năng lực giám sát cho vay và quản trị rủi ro chưa đáp ứng
các chuẩn mực quốc tế, áp lực cho vay theo chỉ định đã giảm song vẫn còn:
 Quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng diễn ra chậm và còn gặp nhiều khó khăn
 Nợ quá hạn có nguy cơ tiếp tục phát sinh do tín dụng được mở rộng khá nhanh, một
số TCTD có xu hướng nới lỏng điều kiện vay vốn, hạ thấp lãi suất, cho vay theo chỉ
định đối với nhiều công trình lớn, hiệu quả kinh tế không được đánh giá đầy đủ và
thẩm định thiếu chặt chẽ.
Sự mất cân đối về cơ cấu thời hạn vốn tín dụng, cũng như việc sử dụng quá mức
nguồn vốn ngắn hạn cho vay dài hạn của một số TCTD có thể trở thành những tác nhân có
thể gây ra những bất ổn trên thị trường tín dụng, cụ thể:
 Khả năng huy động vốn trung, dài hạn của các TCTD vẫn còn thấp so với nhu cầu
vốn đầu tư dài hạn của nền kinh tế.
 Vốn huy động chủ yếu vẫn là hình thức tiết kiệm truyền thống, chiếm khoảng 80%
tổng huy động tiền gửi từ dân cư.
 Vốn huy động ngắn hạn chiếm đến 70% tổng nguồn vốn, trong khi dư nợ cho vay
trung dài hạn lại chiếm đến 45% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế. Nếu các TCTD
không đảm bảo duy trì ổn định việc huy động vốn theo kế hoạch, cũng như khả năng
thu nợ không phù hợp với yêu cầu chi trả các khoản tiền gửi do chênh lệch về thời
hạn, có thể dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán đặc biệt là các TCTD có quy
mô nhỏ, hệ số an toàn vốn thấp và sử dụng nhiều vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn.
II.2.4 Nguồn lực tài chính huy động vốn qua thị trường chứng khoán
Qua 9 năm hoạt động, TTCK tạo ra sự luân chuyển nguồn vốn từ đối tượng có nguồn
vốn nhàn rỗi sang đối tượng cần vốn để tài trợ cho các dự án mở rộng hoạt động sản xuất của
công ty và thực hiện các dự án mới; tài trợ cho các dự án phát triển kinh tế Việt Nam. Tính
đến tháng 10 năm 2009, tổng huy động vốn trên TTCK đạt 17.700 tỷ đồng ở thị trường cổ

chủ yếu thông qua các quỹ đầu tư, ngân hàng và các công ty bảo hiểm. Từ mức đầu tư 100
triệu USD vào năm 2005 chiếm 20% tổng giá trị vốn hóa, đến tháng 8/2009 tổng giá trị đầu
tư đã tăng lên 5 tỷ USD.
Năm Nguồn vốn
(tỷ USD)
% /Vốn hóa
thị trường
Vốn hóa thị
trường (tỷ
% vốn hóa/
GDP
Nhóm thực hiện: Nhóm 3 – Cao học đêm 9 – K.19 Trang 18
Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: Ts.Diệp Gia Luật
USD)
2005 0.1 20.0% 0.5 1.2
2006 3.3 23.9% 13.8 22.6
2007 6.3 25.8% 24.4 40
2008 2.5 47.2% 5.3 19
8/2009 5 12.8% 39 55
Nguồn: tổng hợp từ các website tài chính
1.2.3 Thúc đẩy các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả
Nguyên tắc hoạt động của TTCK là công khai, minh bạch, trung thực và được kiểm tra
đánh giá của các nhà đầu tư khi tham gia góp vốn vào doanh nghiệp. Việc huy động nguồn
vốn từ TTCK đặt doanh nghiệp trước áp lực nâng cao hiệu quả hoạt động nhằm thu hút được
nguồn vốn để tài trợ cho các dự án của công ty ngoài nguồn vốn vay. Có thể đánh giá hiệu
quả này thông qua đánh giá doanh nghiệp trước và sau khi cổ phần hóa. Qua thực tế cho thấy
sau khi thực hiện cổ phần hóa của 850 DN hoàn thành cổ phần cho thấy, vốn điều lệ bình
quân tăng 44%, doanh thu tăng 23,6%, lợi nhuận thực hiện tăng 139,76%, nộp ngân sách tăng
24,9%, thu nhập người lao động tăng 12%, số lao động bình quân tăng 6,6%, đặc biệt cổ tức
bình quân đạt 17,11%, trong đó 71,4% số DN có cổ tức cao hơn lãi tiền gửi ngân hàng.

Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam
2.1.2 Mặt tiêu cực
1.2.1 Mâu thuẫn trong việc quản lý, điều hành doanh nghiệp
Việc có quá nhiều chủ thể tham gia góp vốn thông qua hình thức phát hành cổ phiếu
và trái phiếu chuyển đổi sẽ gây nên hiện tượng pha loãng quyền điều hành của chủ đầu tư và
mâu thuẫn trong viêc quản lý và điều hành giữa ban giám đốc và Hội Đồng Quản Trị, điều
này có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2 Hiện tượng lây nhiễm cấp quốc gia
Tính thanh khoản trên TTCK khá cao do đó các nhà đầu tư có thể dễ dàng rút vốn khỏi
thị trường nhanh chóng. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi có bất kỳ một nhân tố nào bất
lợi thì khả năng rút vốn khỏi thị trường là khá cao. Việc rút vốn này sẽ để lại những tác động
tiêu cực như:
 Làm mất cân đối thị trường ngoại tệ tiêu biểu là cuộc khủng hoảng kinh tế ở Thái
Lan 1997.
 Gây ra hiện tượng lan truyền, gây tâm lý tiêu cực và ảnh hưởng đến giá trị giao dịch
của cổ phiếu trên thị trường khi nguồn cung tăng mạnh làm cho lượng cầu hấp thụ
khó khăn. Điển hình trong cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu 2008, lượng vốn đầu tư
gián tiếp thông qua TTCK Việt Nam trong năm 2008 chỉ còn 4,6 tỷ USD so với mức
8,6 tỷ USD trong năm 2007.
1.2.3 Bất cân xứng trong việc công bố thông tin và yếu tố tâm lý của nhà đầu tư
Nhóm thực hiện: Nhóm 3 – Cao học đêm 9 – K.19 Trang 20
Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: Ts.Diệp Gia Luật
TTCK Việt Nam còn trong giai đoạn sơ khai với lực lượng tham gia chủ yếu là các
nhà đầu tư nhỏ lẻ nên tác động tâm lý đóng vai trò khá quan trọng tác động cung cầu thị
trường và khả năng huy động vốn của doanh nghiệp. Bênh cạnh đó, các thông tin bất cân
xứng trên thị trường trở nên kém hấp dẫn hơn trong việc thu hút nhà đầu tư trong và ngoài
nước.
II.2.5 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Nguồn vốn đầu tư trưc tiếp nước ngoài có tác động không nhỏ đối với các nước nhận
đầu tư, đặc biệt các nước phát triển trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực.

FDI còn thúc đẩy các nước nhận đầu tư phải cố gắng đào tạo những kỹ sư, những nhà
quản lý có trình độ chuyên môn để tham gia vào các công ty liên doanh với nước ngoài.
1.2.3 Thúc đẩy quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế
Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cao
hơn mức tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
 Đầu tư nước ngoài đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực
của nhiều ngành công nghiệp như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe
máy…
 Đầu tư nước ngoài đã góp phần hình thành và phát triển trong cả nước hệ thống các
khu công nghiệp, khu chế xuất , khu công nghệ cao tương đối đồng bộ và hiện đại,
đem lại hiệu quả sử dụng đất cao hơn ở một số địa phương đất đai kém màu mỡ.
Nhóm thực hiện: Nhóm 3 – Cao học đêm 9 – K.19 Trang 22
Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: Ts.Diệp Gia Luật
Hình 4: Số lượng các dự án FDI được cấp phép giai đoạn 1/2009 – 4/2009
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Giai đoạn 1/2009 – 4/2009, phần lớn vốn FDI được cấp phép thuộc các dự án trong
lĩnh vực bất động sản, trong đó chủ yếu là khách sạn-& Resorts phát triển, căn hộ và phát
triển đô thị mới.
1.2.4 Tạo nguồn vốn bổ sung quan trọng và đóng góp đáng kể vào NSNN
Từ khi thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài cho đến nay, vốn FDI thực hiện tại Việt
Nam bình quân 1.737,7 triệu USD/năm. Đây là một lượng vốn đầu tư không nhỏ, góp phần
tạo ra sự chuyển biến không chỉ về quy mô đầu tư mà điều quan trọng hơn là nguồn vốn này
có vai trò như "chất xúc tác" để việc đầu tư của ta đạt hiệu quả nhất.
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn là một trong những nguồn thu quan trọng
cho NSNN, làm cân đối cán cân thanh toán quốc tế thông qua việc chuyển vốn vào Việt Nam
và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua khách quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua máy móc
và nguyên vật liệu.
1.2.5 Thúc đẩy quá trình mở cửa và hội nhập nền kinh tế Việt Nam với thế giới
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những hướng mở cửa và hội nhập tương đối

những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ lạm phát cao trong năm 2008.
Tỷ lệ FDI trong khu vực không tham gia vào thương mại quốc tế ngày một tăng như
bất động sản và du lịch (CIEM 2008). Thực trạng trên dẫn tới hệ luỵ là lạm phát hai con số,
đã tác động trực tiếp đến chi phí sinh hoạt và tiền lương thực tế.
1.2.3 Lãng phí nguồn tài nguyên đất đai
Những cánh đồng lúa phì nhiêu tại Đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông
Hồng… đang dần dần bị những KCN, KCX và các dự án sân golf nuốt chửng, dẫn đến nguy
cơ đe dọa an ninh lương thực quốc gia.
Hiện nay, mỗi năm cả nước mất khoảng 70.000 ha đất nông nghiệp cho công nghiệp
và hầu hết diện tích này đều nằm ở khu vực đất đai màu mỡ, canh tác lúa lâu năm, năng suất
cao Thực tế cho thấy, không ít dự án đến hơn 10 năm vẫn còn “bất động”. Những dự án này
cộng với số vốn đăng ký để “giữ chỗ” đã, đang và sẽ khiến biết bao nhiêu người nông dân
mất đất canh tác, không có việc làm, phải tha hương kiếm ăn nơi đô thị hay đến các KCN mà
trong tay không có một nghề nghiệp nào…
Nhóm thực hiện: Nhóm 3 – Cao học đêm 9 – K.19 Trang 24
Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: Ts.Diệp Gia Luật
1.2.4 Ô nhiễm môi trường
Thực tế, tại Việt Nam đang tồn tại những dự án FDI tồi, những dự án hủy hoại môi
trường. Có thể kể những cái tên “đình đám” như vụ công ty Vedan, Miwon gây ô nhiễm môi
trường nước, hay vụ bác đề nghị đầu tư vào vịnh Vân Phong của Tập đoàn Posco Mức độ
nghiêm trọng của vấn đề đã khiến nhiều chuyên gia lên tiếng cảnh báo, Việt Nam cần kiểm
soát chặt chẽ hơn về môi trường để tránh biến nước ta thành bãi chứa rác thải công nghệ.
1.2.5 Làm bất ổn xã hội
Lượng vốn nước ngoài đã làm tăng thêm sự mất cân đối giữa các vùng, giữa nông
thôn và thành thị. Sự mất cân đối này có thể gây ra mất ổn định về chính trị, gây ảnh hưởng
xấu về mặt xã hội.
1.2.6 Sự mất cân đối về ngành nghề, vùng lãnh thổ
Số vốn FDI đăng ký tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, tiếp đến
là lĩnh vực dịch vụ, chỉ còn lại một tỷ lệ rất nhỏ các dự án và vốn đăng ký thuộc lĩnh vực
nông-lâm-ngư nghiệp. Trong đó nhiều dự án lớn đổ vào bất động sản như vậy, trong khi hiệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status