Tiểu luận LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNHTIỀN TỆ - Pdf 23

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
KHOA NGÂN HÀNG
LỚP K23 ĐÊM 11
MÔN: LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ
CHUYÊN ĐỀ THUYẾT TRÌNH 5
KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG
ĐẾN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH-TIỀN TỆ
Giảng viên hướng dẫn : TS. Diệp Gia
Luật
Nhóm thực hiện : Nhóm 5
Lớp : Cao học đêm 11
Khóa : K23
TPHCM,11/2013
DANH SÁCH NHÓM
Họ và tên Di động
1. Võ Hữu Đông 01677652070
2. Phạm Xuân Hiếu 01678822410
3. Lê Mộng Linh 01655115215
4. Vũ Thị Kim Hồng 0963344112
5. Lê Thị Thanh Vân 01692145464
6. Nguyễn Huỳnh Trang 01268405674
7. Lê Xuân Trinh 0974039035
8. Nguyễn Văn Khánh 0979999369
9. Phạm Thị Lan Anh 01666380737
10. Nguyễn Thị Như Nhật 0988383842
11. Mai Nguyễn Thanh Thảo 0904783697
12. Nguyễn Thị Thanh Trúc 0979385510
13. Phan Tiến Luân 0909659955
14. Nguyễn Duy Thanh Phương 0982059995
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH

1.4.1.3. Thâm hụt cán cân vãng lai trong một thời gian dài 18
1.4.1.4. Tình trạng thâm hụt ngân sách 18
1.4.2. Nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng nợ công Hy Lạp 19
1.4.2.1. Tiết kiệm trong nước thấp dẫn tới phải vay nợ nước ngoài cho chi tiêu công 19
1.4.2.2. Chi tiêu công tăng cao dẫn đến thâm hụt ngân sách 19
1.4.2.3. Nguồn thu giảm sút cũng là một nhân tố dẫn tới tình trạng thâm hụt ngân sách và gia
tăng nợ công 20
1.4.2.4. Sự tiếp cận dễ dãi với nguồn vốn đầu tư nước ngòai và việc sử dụng nguồn vốn
không hiệu quả 21
1.4.2.5. Thiếu tính minh bạch và niềm tin của các nhà đầu tư 21
1.4.3. Tác động của khủng hoảng nợ công Hy Lạp đến tình hình tài chính – tiền tệ 22
1.4.3.1. Giá trái phiếu giảm và lãi suất tăng 22
1.4.3.2. Cắt giảm chi tiêu 22
1.4.3.3. Đầu tư trực tiếp FDI giảm 23
1.4.3.4. Hạ bậc xếp hạng tín dụng 24
1.4.3.5. Thất nghiệp tăng 25
1.4.3.6. Lạm phát tăng 25
1.4.4. Một số giải pháp 26
1.4.4.1. Nhận gói cứu trợ từ EU, IMF và hỗ trợ từ ECB 26
1.4.4.2. Giảm chi tiêu công, tăng thuế 27
1.4.4.3. Phát hành trái phiếu 27
1.4.5. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 28
1.4.5.1. Mô hình phát triển kinh tế 28
1.4.5.2. Về hoạch định chính sách tài khoá và quản lý nợ công 28
1.4.5.3. Về công tác công bố thông tin và minh bạch chính sách 29
1.5. Khủng hoảng nợ công Ireland 29
1.5.1. Thực trạng khủng hoảng nợ công Ireland 29
1.5.1.1. Tỷ lệ nợ công trên GDP 29
1.5.1.2. Tình trạng thâm hụt ngân sách 30
1.5.1.3. Thâm hụt cán cân vãng lai 31

Hình 2.2 Lãi suất trái phiếu 10 năm của một số nước trên thế giới
Hình 2.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hi Lạp giai đoạn 2003-2009
Hình 2.4 Tỉ lệ thất nghiệp tại Hi Lạp
Hình 2.5 Tỉ lệ lạm phát tại Hi Lạp
Hình 2.6 Tỉ lệ nợ công trên GDP của Ireland trong những năm 2005 – 2012
Hình 2.7 Lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm của Ireland
Hình 2.8 Tăng truởng GDP Ireland giai đoạn 2007- 2011
Hình 2.9 Lạm phát ở Ireland trong các năm khủng hoảng
Hình 2.10 Lạm phát ở Ireland trong các năm khủng hoảng
Hình 3.1 Chỉ số nợ công/GDP của Việt Nam giai đoạn 2006-2012
Hình 3.2 Chỉ số nợ công/đầu người của Việt Nam giai đoạn 2006-2012
Hình 3.3 So sánh nợ công/GDP so với một số nước có nợ công cao của thế giới
Hình 3.4 So sánh nợ công/GDP của Việt Nam với một số nước trong khu vực.
Hình 3.5 Cơ cấu dư nợ công Việt Nam năm 2012
Hình 3.6 Cơ cấu trong dư nợ chính phủ 2010-2012
Hình 3.7 Cơ cấu trong dư nợ chính phủ bảo lãnh 2010-2012
Hình 3.8 Cơ cấu nợ công Việt Nam chia theo chủ nợ năm 2012
Hình 3.9 ICOR trung bình của các thành phần kinh tế giai đoạn 2001-2009
Hình 3.10 Thâm hụt ngân sách Việt Nam giai đoạn 2001-2010
LỜI MỞ ĐẦU
Tình hình các cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra ngày càng phức tạp gây ra những
hậu quả nặng rất nề đối với cả quốc gia phát triển lẫn các quốc gia đang phát triển.
Bên cạnh khủng hoảng tài chính người ta ngày càng đề cập và nghiên cứu một cách
nghiên túc một loại khủng hoảng mới là “khủng khoảng nợ công”. Tình trạng nợ
công đang gia tăng quá mức dẫn đến sự vỡ nợ công ở một số nước như Hi Lạp,
Ireland đã đánh lên một hồi chuông cảnh báo cho các nước trên toàn thế giới cần phải
nhận định một cách thấu đáo về tình trạng nợ công của quốc gia mình. Chính vì vậy,
nghiên cứu “khủng hoảng nợ công và tác động của nó đến tình hình tài chính – tiền
tệ” là một việc làm hết sức càn thiết và cấp bách hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà
cho tất cả các nước trên thế giới.

khu vực tài chính công và nợ của khu vực phi tài chính công. Trong đó:
• Khu vực tài chính công gồm: Các tổ chức tiền tệ (ngân hàng trung ương,
các tổ chức tín dụng nhà nước) và các tổ chức phi tiền tệ (các tổ chức tín
dụng không cho vay mà chỉ có chức năng hỗ trợ phát triển)
• Khu vực phi tài chính công gồm: chính phủ, tỉnh/thành phố, chính quyền
địa phương, các doanh nghiệp phi tài chính nhà nước.
 Theo quan điểm của Luật quản lý nợ công Việt Nam: Nợ công bao gồm:
nợ
chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh, nợ chính quyền địa phương.
Như vậy, xét theo khái niệm này, cần lưu ý là không tồn tại sự đồng nhất giữa:
“nợ chính phủ” và “nợ công”. Nợ chính phủ trong trường hợp này chỉ là một trong ba
yếu tố cấu thành nên nợ công.
Đối với ba cách định nghĩa trên, tuy mỗi cách mang tính đặc thù riêng và thích
hợp để sử dụng trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau song chúng đều có chung
một số đặc điểm như: là khoản tiền nợ liên quan đến chính phủ và hoạt động của
chính phủ, mục đích là để tài trợ bù đắp cho thâm hụt ngân sách Do đó, để đơn giản
hóa cách thức tiếp vận vấn đề và đảm bảo tính logic khi phân tích, nghiên cứu khủng
hoảng nợ công ở các chương tiếp theo, có thể hiểu khái quát về nợ công thông qua
khái niệm sau:
Nợ công, còn gọi là nợ chính phủ hay nợ quốc gia, là tổng giá trị các khoản tiền
mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằm tài trợ cho
các khoản thâm hụt ngân sách.
Sử dụng các định nghĩa này, ta cần quan tâm tới một số lưu ý sau đây:
• Khái niệm đưa ra đã đồng nhất nợ chính phủ với nợ công và nợ quốc gia.
• Định nghĩa này được áp dụng tại phần lớn các quốc gia trên thế giới, những
nước đi theo hướng kinh tế thị trường thực chất, không tồn tại thành phần
doanh nghiệp đặt dưới sự lãnh đạo kiểm soát trực tiếp của nhà nước.
• Thâm hụt ngân sách nhà nước, hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước, là
tình trạng khi tổng chi tiêu của ngân sách nhà nước vượt quá các khoản thu
trong cân đối (thu "không mang tính hoàn trả") của ngân sách nhà nước.

Việt Nam là Nhà nước quản lý thống nhất, toàn diện nợ công từ việc huy động, phân
bổ, sử dụng vốn vay đến việc trả nợ để đảm bảo hai mục tiêu cơ bản trên.
1.1.2.3. Mục tiêu cao nhất của việc huy động và sử dụng nợ công là phát
triển kinh tế xã hội, vì lợi ích cộng đồng.
Nợ công được huy động và sử dụng không phải để thỏa mãn những lợi ích riêng
của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, mà vì lợi ích chung của cộng đồng. Ở Việt Nam,
xuất phát từ bản chất của Nhà nước là thiết chế để phục vụ lợi ích chung của xã hội,
Nhà nước là của dân, do dân và vì dân nên đương nhiên các khoản nợ công được
quyết định phải dựa trên lợi ích của nhân dân, cụ thể là đề phát triển kinh tế – xã hội
của đất nước và phải coi đó là điều kiện quan trọng nhất.
1.1.3. Phân loại nợ công.
Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhau
trong việc quản lý và sử dụng nợ công.
 Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay thì nợ công gồm có hai loại:
• Nợ trong nước: là nợ công mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức Việt Nam.
• Nợ nước ngoài: là nợ công mà bên cho vay là Chính phủ nước ngoài, vùng lãnh
thổ, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài. Như vậy, theo
pháp luật Việt Nam, nợ nước ngoài không được hiểu là nợ mà bên cho vay là
nước ngoài, mà là toàn bộ các khoản nợ công không phải là nợ trong nước. Việc
phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong quản lý
nợ. Việc phân loại này về mặt thông tin sẽ giúp xác định chính xác hơn tình
hình cán cân thanh toán quốc tế. Và ở một số khía cạnh, việc quản lý nợ nước
ngoài còn nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ của Nhà nước Việt Nam, vì các khoản
vay nước ngoài chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện
thanh toán quốc tế khác.
 Theo phương thức huy động vốn, thì nợ công có hai loại:
• Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp và nợ công từ công cụ nợ.
• Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công xuất phát từ những thỏa thuận
vay trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức cho vay.
Phương thức huy động vốn này xuất phát từ những hợp đồng vay, hoặc ở tầm

• Vay nợ gián tiếp
Chính phủ các nước có thể tiến hành vay nợ gián tiếp từ các tổ chức, cá nhân để
bù đắp thâm hụt ngân sách thông qua việc phát hành các công cụ nợ như: tín phiếu,
trái phiếu, hình thức chứng chỉ Trái phiếu trong trường hợp này được hiểu theo
nghĩa rộng, gồm có: trái phiếu (T-bonds), trái phiếu chính quyền địa phương
(Municipal Bonds), trái phiếu ngoại tệ, công trái xây dựng tổ quốc và trái phiếu công
trình; trong đó, trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi ro
tín dụng vì chính phủ có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để thanh toán cả gốc lẫn
lãi khi đáo hạn. Trái phiếu chính phủ phát hành bằng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ
mạnh có cầu lớn) có rủi ro tín dụng cao hơn so với khi phát hành bằng nội tệ vì chính
phủ có thể không có đủ ngoại tệ để thanh toán.
• Vay trực ti
ếp
Ngoài cách phát hành giấy vay nợ như một tài sản đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ
của mình, chính phủ các nước còn một lựa chọn khác để tài trợ cho các khoản thâm
hụt đáng kể thông qua con đường vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các
thể chế siêu quốc gia (ví dụ: Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng thế giới, Ngân hàng
Phát triển Châu Á…). Các nguồn vay này tồn tại dưới một số hình thức phổ biến như:
vay viện trợ phát triển chính thức, vay có tính chất thương mại hay vay ưu đãi. Thông
thường, các hình thức trực tiếp này được chính phủ của các nước có độ tin cậy tín
dụng thấp áp dụng vì những nước này khó có khả năng vay nợ bằng phát hành trái
phiếu chính phủ.
Trong số các khoản vay trực tiếp đã liệt kê, nguồn vay ODA là nguồn vốn bổ
sung đều đặn nhất và có tầm quan trọng lớn đối với các nước đang phát triển. Nguồn
vay này có thể nhận được dưới các thể thức: viện trợ song phương, viện trợ đa
phương, viện trợ không hoàn lại hay viện trợ của tổ chức phi chính phủ.
1.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ công.
Một yêu cầu rất quan trọng đối với các chính phủ là đảm bảo tỷ lệ nợ công so
với GDP là ổn định, qua đó tăng hiệu quả quản lý nợ, quản lý thâm hụt ngân sách và
làm tốt các công tác dự báo, lập kế hoạch ngân sách nhà nước, góp phần ổn định nền

đối với từng tổ chức, khu vực độc lập.
Theo cách tiếp cận từ các khoản nợ khất lại, Detragiache và Spilimbergo
(2001) xác định rằng cuộc khủng hoảng nợ sẽ xảy ra nếu một trong hai hoặc cả hai
điều kiện sau đây xảy ra.
Có những khoản nợ gốc hoặc lãi chưa hoàn trả hoặc đang trả dở dang song phải
xin khất lại nghĩa vụ trả nợ đối với chủ nợ (ngân hàng, tổ chức sở hữu trái phiếu)
chiếm trên 5% tổng dư nợ.
Có một thỏa thuận gia hạn hoặc tái cơ cấu nợ với chủ nợ được liệt kê trong báo
báo cáo Phát triển Tài chính Toàn cầu (GDF) của Ngân hàng Thế giới(WB).
Nhìn nhận khủng hoảng nợ công tương đương với tình trạng “tiền phá
sản”, Sy (2004) đưa ra lập luận: giống như việc mất khả năng thanh toán những
khoản nợ trong khu vực tài chính doanh nghiệp, khủng hoảng nợ công là biểu hiện
“tiền phá sản” của trái phiếu chính phủ. Theo định nghĩa đó, Sy đã chỉ ra từ năm 1994
đếnnăm 2002, trên thế giới xảy ra 140 sự kiện “tiền phá sản”, làm giảm uy tín và
năng lực của thị trường trái phiếu chính phủ.
Trong thời điểm hiện nay, định nghĩa về nợ công của Tổ chức Standard and
Poor’s, Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) là một cách giải
thích được ưa thích trích dẫn và sử dụng nhiều hơn cả.
Theo Quỹ tiền tệ thế giới IMF, một quốc gia được xác nhận lâm vào khủng
hoảng nợ nếu nó được Tổ chức Standard & Poor’s liệt vào danh sách các nước không
có khả năng hoàn trả nợ hoặc phải xin vay từ IMF một khoản lớn (vượt quá 100%
hạn mức tính dụng đề ra) để tài trợ cho khoản nợ nói trên. Ở đây, tiêu chuẩn được
đưa ra để Standard and Poor’s xác định một quốc gia là không có khả năng hoàn trả
nợ là việc chính phủ của quốc gia đó không thể thanh toán đủ gốc hoặc tiền lãi cho
các khoản nợ nước ngoài vào ngày đáo hạn hoặc trong thời gian ân hạn quy định
(bao gồm các khoản phát sinh trong nghiệp vụ thanh toán nợ bằng hối phiếu, nghiệp
vụ SWAPs tài sản nợ…). Như vậy, tình hình vay nợ bất thường với quy mô lớn tại
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) là một trong những dấu hiệu báo trước cho những bất ổn
trong tình trạng nợ công của một quốc gia, có thể dẫn đến nguy cơ khủng hoảng
nhanh chóng.

nhiều hơn mục tiêu kinhtế (ví dụ: chi phí quốc phòng – an ninh, chi trợ cấp xã hội,
chi trả lương hưu cho công chức, chi bù lãi suất ngân hàng cho các dự án công ích,
chi lễ tân nhà nước hay các lễ kỷ niệm…).
Ba là, thời gian thự thiện dự án kéo dài. Hiếm có dự án công nào hoàn thành
đúng tiến độ, hậu quả là tiền lãi phải trả trên nợ vay tăng.
Bốn là, hiệu quả sử dụng vốn thấp (thường thấp hơn các dự án vay vốn thương
mại của khu vực tư).
Năm là, trách nhiệm người đi vay không cao vì những người tham gia quyết
định vay nợ không hẳn là những người sẽ phải lo trả nợ nhất là khi người vay không
có cơ hội tái đắc cử.
Sáu là, chính phủ có khả năng che đậy các vấn đề bất cập của tình hình nợ công
trong một thời gian khá dài ( có thể tới 10năm ) nên việc điều chỉnh chính sách khắc
phục không được kịp thời.
Tiểu luận môn tài chính tiền tệ GVHD: TS. Diệp Gia Luật
PHẦN 2: KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ
ĐẾN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH-TIỀN TỆ
(ĐIỂN HÌNH LÀ HY LẠP VÀ IRELAND)
1.3. Bối cảnh chung xảy ra khủng hoảng nợ công ở châu Âu
Năm 2008 từ nước Mỹ bóng đen khủng hoảng tài chính lan rộng khắp các châu
lục, tác động tiêu cực tới mọi lĩnh vực và nhiều quốc gia trên thế giới. Cuộc khủng
hoảng này được “châm ngòi” bằng hoạt động cho vay thế chấp dưới chuẩn (sub-prime
mortgage) dễ dãi và thiếu kiểm soát ở Mỹ. Số lượng các khoản vay loại này phát triển
bùng nổ trong thời kỳ hình thành bong bóng trên thị trường địa ốc ở Mỹ. Tuy nhiên,
điều đáng nói là rủi ro của hoạt động vay nợ này không chỉ được giới hạn giữa người
đi vay và các ngân hàng. Tới lúc này, tai nạn xuất hiện theo kiểu hiệu ứng domino, từ
người mua nhà, các ngân hàng thương mại, các ngân hàng đầu tư, tới các nhà đầu tư
mua vào chứng khoán nợ địa ốc… cùng điêu đứng. Sự đổ vỡ dây chuyền trong ngành
tài chính Mỹ ở thời kỳ đỉnh điểm giữa tháng 9/2008 đã lan qua Đại Tây Dương, tới
châu Âu, và gây ra những cơn “dư chấn” ở châu Á. Các quốc gia có vấn đề về nợ
công trong khu vực Châu Âu bao gồm các thành viên Hy Lạp, Ireland, Ý, Tây Ban

1.4.1. Thực trạng khủng hoảng nợ công Hy Lạp
1.4.1.1. Tỷ lệ nợ công trên GDP
Từ lúc bắt đầu tham gia sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Euro) vào giữa năm
2001 cho đến năm 2010, Hy Lạp luôn vượt chỉ tiêu nợ công theo quy định của hiệp
hội các nước thuộc khu vực EURO là 60%/ GDP. Đến năm 2010, báo cáo của OECD
cho thấy nợ công của Hy Lạp đã lên tới con số 330 tỷ Euro, tương đương với 147.8%
GDP. Các chuyên gia kinh tế dự đoán dù Hy Lạp có thực hiện được kế hoạch thắt
lưng buộc bụng kéo dài 3 năm, nợ của Hy Lạp đến năm 2012 vẫn tăng lên mức 172%
GDP.
1.4.1.2. Tỷ trọng nợ công của Hy Lạp theo kỳ hạn
Rủi ro lớn nhất của Hy Lạp là nợ vay nước ngoài chiếm tỷ lệ lớn, có thể lên
đến 80%. Ước tính tỷ lệ trái phiếu do nước ngoài nắm giữ có thể lên tới 80% lượng
trái phiếu chính phủ phát hành. Chủ nợ phần lớn là các ngân hàng châu Âu. Các nước
Ý, Ireland cũng trong tình cảnh thâm hụt ngân sách và nợ công cao, nhưng không bị
đánh giá nghiêm trọng bằng Hy Lạp. Sở dĩ như vậy vì các nước này có nền kinh tế
tương đối lớn, ngân sách lớn, khả năng kiểm soát nợ trong nước cao hơn, các chỉ số về
cơ cấu nợ cũng như các biến số về phát triển kinh tế vĩ mô tốt hơn Hy Lạp.
Nhóm 5_CHĐ 11_K 23_UEH Trang 17
Tiểu luận môn tài chính tiền tệ GVHD: TS. Diệp Gia Luật
Tính theo thời gian với mức vay nợ như trên, Hy Lạp phải đối mặt với khoản
nợ đến hạn phải thanh toán 8,5 tỉ euro (tương đương 11,3 tỉ đô la Mỹ) trái phiếu chính
phủ vào ngày 19-5-2010. Hầu hết các khoản nợ của Hy Lạp là ngắn hạn, trong đó, số
nợ phải trả trong năm 2010 là 16% tổng nợ. Chưa đến một năm, một đợt trả nợ kế tiếp
diễn ra vào tháng 3/2011, với số tiền 8,6 tỷ Euro.
1.4.1.3. Thâm hụt cán cân vãng lai trong một thời gian dài
Ngay từ khi gia nhập vào khu vực đồng tiền chung Euro tình trạng thâm hụt
vẫn không được cái thiện mà có xu hướng ngày càng tăng, đến tháng 8 năm 2011 Hy
Lạp báo cáo thâm hụt tài khoản vãng lai tương đương với 145 triệu EUR, tháng 8 năm
2012 là 2 169 triệu Euro. Sự thâm hụt cán cân vãng lai của Hy Lạp bắt nguồn từ sự
thâm hụt thương mại của nước này.

Tăng trưởng GDP của Hy Lạp vẫn được ca ngợi với tốc độ tăng trung bình hàng
năm là 4,3% (2001 – 2007) so với mức trung bình của khu vực Eurozone là 3,1%. Tuy
nhiên, trong giai đoạn này, mức chi tiêu chính phủ tăng 87% trong khi mức thu của
chính phủ chỉ tăng 31%, khiến cho ngân sách thâm hụt vượt quá mức cho phép 3%
GDP của EU. Theo đánh giá của các nhà kinh tế, bộ máy công quyền cồng kềnh và
thiếu hiệu quả của Hy Lạp chính là nhân tố chính đằng sau sự thâm hụt của quốc gia
này.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), chi tiêu cho quản lý công
trong tổng số chi tiêu công của Hy Lạp năm 2004 đã cao hơn nhiều so với các nước
thành viên OECD khác trong khi chất lượng và số lượng dịch vụ không được cải thiện
nhiều. Năm 2008, khủng hoảng tài chính toàn nổ ra đã ảnh hưởng khá mạnh đến các
Nhóm 5_CHĐ 11_K 23_UEH Trang 19
Tiểu luận môn tài chính tiền tệ GVHD: TS. Diệp Gia Luật
ngành công nghiệp chủ chốt của Hy Lạp, ngành du lịch và vận tải biển, doanh thu đều
sụt giảm trên 15% trong năm 2009, kinh tế Hy Lạp cũng lâm vào tình trạng khó khăn,
nguồn thu để tài trợ cho ngân sách nhà nước bị co hẹp mạnh. Trong khi đó Hy Lạp lại
phải tăng cường chi tiêu công để kích thích kinh tế. Chi tiêu kích thích kinh tế sau
khủng hoảng năm 2008 cũng làm trầm trọng thêm vấn đề nợ công. Sự già hóa dân số
và hệ thống lương hưu vào loại hào phóng bậc nhất khu vực châu Âu của Hy Lạp
cũng được coi là một trong những gánh nặng cho chi tiêu công. Dự đoán tỷ lệ số
người trên 64 tuổi của Hy Lạp sẽ tăng từ 19% năm 2007 lên 32% năm 2060. Người về
hưu được hưởng một khoản tiền tương đương với 70-80% mức lương chính thức
trước khi về hưu chưa kể những lợi ích từ những cơ chế hỗ trợ khác với đủ 35 năm
cống hiến so với mức 40 năm ở các quốc gia châu Âu khác. Ước tính tổng số tiền chi
trả cho lương hưu khu vực công của Hy Lạp sẽ tăng từ 11,5% GDP (2005) lên 24%
(2050).
1.4.2.3. Nguồn thu giảm sút cũng là một nhân tố dẫn tới tình trạng thâm
hụt ngân sách và gia tăng nợ công
Trốn thuế và hoạt động kinh tế ngầm ở Hy Lạp là nhân tố làm giảm nguồn thu
ngân sách. Theo đánh giá của Ngân hàng thê giới (WB), kinh tế không chính thức ở

hàng Trung ương châu Âu (ECB). Nhờ việc gia nhập Eurozone Hy Lạp nghiễm nhiên
có được hình ảnh ổn định cao và chắc chắn trong mắt các nhà đầu tư, dễ dàng thu hút
vốn đầu tư nước ngoài với mức lãi suất thấp. Trong gần một thập kỷ qua, chính phủ
Hy Lạp liên tục bán trái phiếu để thu về hàng trăm tỷ đôla. Số tiền này lẽ ra có thể
giúp kinh tế Hy Lạp tiến rất xa nếu chính phủ có kế hoạch chi tiêu hợp lý. Tuy nhiên,
chính phủ Hy Lạp đã chi tiêu quá tay (phần lớn cho cơ sở hạ tầng) mà hầu như không
quan tâm đến các kế hoạch trả nợ dẫn đến mức nợ ngày càng tăng.
1.4.2.5. Thiếu tính minh bạch và niềm tin của các nhà đầu tư
Sự thiếu minh bạch trong số liệu thống kê của Hy Lạp đã làm mất niềm tin của
các nhà đầu tư mà quốc gia này đã tạo dựng được với tư cách là một thành viên của
Eurozone và nhanh chóng xuất hiện các làn sóng rút vốn ồ ạt khỏi các ngân hàng của
Hy Lạp, đẩy quốc gia này vào tình trạng khó khăn trong việc huy động vốn trên thị
trường vốn quốc tế. Sự phụ thuộc vào nguồn tài chính nước ngoài đã khiến cho Hy
Lạp trở nên rất dễ bị tổn thương trước những thay đổi trong niềm tin của giới đầu tư.
Trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế, thì minh bạch luôn là một đòi hỏi lớn của các
nhà đầu tư. Khủng hoảng nợ công của Hy Lạp do chính phủ không minh bạch các số
liệu, cố gắng vẽ nên bức tranh sáng, màu hồng về tình trạng ngân sách về những chính
Nhóm 5_CHĐ 11_K 23_UEH Trang 21
Tiểu luận môn tài chính tiền tệ GVHD: TS. Diệp Gia Luật
sách sắp ban hành để khắc phục những khó khăn về ngân sách hay vấn đề kinh tế vĩ
mô do vậy, hiệu lực của những chính sách đó sẽ bị hạn chế nhiều.
1.4.3. Tác động của khủng hoảng nợ công Hy Lạp đến tình hình tài chính –
tiền tệ.
1.4.3.1. Giá trái phiếu giảm và lãi suất tăng.
Hình 2.2 Lãi suất trái phiếu chính phủ 10 năm một số nước trên thế giới
Nguồn : ECB
Từ năm 1998 đến năm 2011 Trái phiếu Chính phủ Hy Lạp có lãi trung bình
5,21%, đạt mức cao lịch sử 11,39 % trong tháng 12 năm 2010 và một mức thấp kỷ lục
3,23% trong tháng 9 năm 2005. Lãi suất trái phiếu của Hy Lạp thời gian gần đây tăng
cao vì khủng hoảng nợ công, cán cân ngân sách thâm hụt, do đó chính phủ cần huy

• Tư hữu hóa chính phủ: chính phủ Hy Lạp sẽ tiến hành tư nhân hóa các doanh
nghiệp quốc doanh trong đó có OPAP, Hellenic Postbank, Hellenic Telecom.
Bên cạnh đó cũng sẽ bán cổ phần tại Athens Water, công ty dầu khí Hellenic
Petroleum, công ty điện PPC và lender ATEbank và một số hải cảng, sân bay,
đường cao tốc, quyền sở hữu đất và khai khoáng.
• Sa thải công chức: trong năm 2011, cư 10 công chức sẽ có một người bị sa thải.
Còn trong những năm tới, tỷ lên sa thải sẽ là cứ 5 người thì sẽ sa thải 1 người.
• Giảm chi tiêu y tế: trong năm 2011, chi tiêu cho y tế sẽ bị cắt giảm 310 triệu
Euro và từ 2012 đến 2015 sẽ giảm 1,81 triệu euro.
1.4.3.3. Đầu tư trực tiếp FDI giảm
Chính phủ Hy Lạp đang thực hiện các biện pháp thắt lưng buộc bụng nhằm đảm
bảo cam kết giảm thâm hụt ngân sách của Chính phủ Hy Lạp để nhận được sự trợ giúp
từ EU và IMF. Vì thực hiện chính sách giảm chi tiêu, tăng thuế nên dẫn đến tình hình
đầu tư FDI vào Hy Lạp giảm mạnh.
Nhóm 5_CHĐ 11_K 23_UEH Trang 23
Tiểu luận môn tài chính tiền tệ GVHD: TS. Diệp Gia Luật
Hình 2.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hi Lạp 2003-2009
Theo số liệu, trong thời gian 2006-2008 FDI vào Hy Lạp đã liên tục duy trì mức
độ cao hơn so với giai đoạn năm 2003 - 2005, mặc dù biến động. Có nhiều yếu tố,
chẳng hạn như cải thiện cơ sở hạ tầng, đã đóng một vai trò quan trọng trong sự gia
tăng đáng kể khối lượng FDI.
Trong năm 2009 tổng luồng vốn vào Hy Lạp đạt 4,5 tỷ Euro, và luồng vốn ròng
vượt quá 2,4 tỷ Euro. So với năm 2008, dòng chảy FDI vào Hy Lạp sụt giảm 21% do
hậu quả của cuộc khủng hoảng nợ công.
1.4.3.4. Hạ bậc xếp hạng tín dụng
Ngày 15/6/2010, Tổ chức xếp hạng tín dụng Moody’s đã hạ 4 bậc xếp hạng tín
dụng của Hy Lạp xuống mức không đầu tư và cảnh báo, việc Hy Lạp giảm thâm hụt
ngân sách sẽ tạo ra nhiều hậu quả xấu về kinh tế.
Dù được EU và IFM hứa hẹn “bơm” tiền nhưng hình ảnh của Hy Lạp vẫn chưa
được cải thiện trong mắt các tổ chức xếp hạng độc lập, vào 14/7/2011, hãng xếp hạng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status