TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
CAO HỌC ĐÊM 11 – KHÓA 23
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
ĐIỀU TIẾT &
GIÁM SÁT
HỆ THỐNG TÀI CHÍNH Giảng viên hướng dẫn
TS. Diệp Gia Luật Nhóm thực hiệnLê Quang Phú
Nguyễn Đức Cường
Nguyễn Thị Ánh Dương
Nguyễn Thị Mỹ Duyên
Phan Ngọc Diễm Chi
Tạ Thị Thanh Thủy
Nguyễn Thị Anh Đào
Nguyễn Thị Hoài Thương
Vai trò của thị trường tài chính 6
Phân loại thị trường tài chính 7
1.2.2 Các chủ thể tài chính 14
Tài chính công 14
Tài chính doanh nghiệp 15
Tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình 15
Định chế tài chính trung gian 15
Mối liên hệ giữa thị trường tài chính và các định chế tài chính trung gian 20
1.2.3 Cơ sở hạ tầng tài chính 21
2. CÁC MÔ HÌNH GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VÀ THỰC TRẠNG
TẠI VIỆT NAM 23
2.1 Các mô hình giám sát hệ thống tài chính 23
2.1.1 Vai trò điều tiết của chính phủ 23
2.1.2 Một số mô hình giám sát tài chính tiêu biểu 27
Mô hình hệ thống giám sát theo thể chế 27
#
#/
UEH
ĐIỀU HÀNH VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
#
Mô hình hệ thống giám sát theo chức năng 29
Mô hình giám sát lưỡng đỉnh 30
Mô hình giám sát tài chính hợp nhất 31
2.1.3 Cơ chế giám sát 33
Giám sát bằng các chỉ tiêu an toàn vĩ mô và vi mô 33
Giám sát bằng hệ thống pháp luật, chính sách của nhà nước 35
Giám sát bằng các hoạt động thanh tra dựa trên các nguyên tắc chuẩn mực
chung của quốc tế 37
3.4.3 Khủng hoảng nợ 79
TỔNG KẾT 81
1/
UEH
ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
82
L
ỜI GIỚI THIỆU
Thị trường tài chính được xem là một thị trường bậc cao, một thị trường đặc biệt. Điều
tiết của chính phủ đối với thị trường này; vì thế cũng phải phù hợp với những đặc
điểm, đặc thù của thị trường. Có như vậy, thị trường mới có thể phát triển bền vững.
Thị trường tài chính thực hiện chức năng lưu chuyển dòng vốn trong nền kinh tế thông
qua hoạt động mua bán các chứng khoán của các nhà đầu tư. Sự phát minh ra các công
cụ tài chính mới, như là những hàng hóa được mua bán trên thị trường , cần được
đánh giá là những hoạt động sáng tạo và chỉ có thể có được trong một thị trường tài
chính được tự do phát triển. Chính điều này tạo nên tính hấp dẫn mạnh mẽ của thị
trường đối với nhà đầu tư trong nước và quốc tế. Là thị trường của niềm tin, thị trường
tài chính có khả năng phát triển mạnh mẽ khi yếu tố niềm tin được phát huy cao độ.
Sự tham gia ngày càng lớn của các nhà đầu tư, cùng với sự xuất hiện ngày càng đa
dạng các công cụ tài chính mới trên thị trường. một mặt đánh dấu sự phát triển của thị
trường; mặt khác nó tiềm ẩn rủi ro có nguy cơ dẫn đến khủng hoảng khi sự phát triển
của thị trường đã đi quá giới hạn.Cái giới hạn đó vượt quá chính là trạng thái thị
trường vượt khỏi tầm kiểm soát của Chính phủ. Các nhà đầu tư tham gia thị trường vì
mục tiêu lợi nhuận. Chạy theo mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận tối đa, các nhà đầu tư có
thể đẩy thị trường đến bờ phá sản. Chính vì vậy, đối với thị trường tài chính, vai trò
3/
UEH
ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
82
T
ỔNG QUAN HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
1.1
Khái niệm hệ thống tài chính trong nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, các hoạt động chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các
chủ thể diễn ra rất đa dạng, phong phú, đan xen lẫn nhau, tác động lẫn nhau trong một
hệ thống thống nhất đó là hệ thống tài chính.
Hệ thống tài chính là một hệ thống gồm có thị trường và các chủ thể tài chính thực
hiện chức năng gắn kết cung – cầu vốn lại với nhau.
1.2
Cơ cấu hệ thống tài chính
Hệ thống tài chính được cấu thành bởi ba bộ phận
Thị trường tài chính
Các chủ thể tài chính
Cơ sở hạ tầng tài chính
Dưới đây là sơ đồ luânchuyểnvốntronghệ thống tài chính Chức năng và cơ chế vận hành của Hệ thống tài chính được thể hiện rõ nét qua thị
trường tài chính và các định chế tài chính trung gian.
1
4/
Ta cũng có khái niệm khác: Thị trường tài chính là thị trường trong đó nguồn
tài chính được chuyển từ người có vốn dư thừa sang người thiếu vốn. Thị
trường tài chính là tổng hòa các mối quan hệ cung cầu về vốn.
5/
UEH
ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
82
Chức năng cơ bản nhất của thị trường tài chính là dẫn vốn từ người dư thừa
vốn tới người cần vốn, ngoài ra nó còn thể hiện chức năng giám sát thông qua
sự vận động của các nguồn tài chính.
Đối tượng
Đối tượng được mua bán trên thị trường tài chính là các khoản vốn ngắn hạn và
dài hạn. Để mua bán các khoản vốn này, người ta sử dụng các công cụ giao
dịch nhất định.
1.2.1.3 Chức năng của thị trường tài chính
Thị trường tài chính có 3 chức năng cơ bản như sau:
Thứ nhất, hình thành giá các tài sản tài chính.Thông qua tác động qua lại giữa
người mua và những người bán, giá của tài sản tài chính ( chứng khoán) được
xác định, hay nói cách khác, lợi tức cần phải có trên một tài sản tài chính được
xác định. Yếu tố thúc đẩy các doanh nghiệp gọi vốn chính là mức lợi tức mà
các nhà đầu tư yêu cầu; và với đặc điểm này của thị trường tài chính đã phát tín
hiệu cho biết vốn trong nền kinh tế cần được phân bổ như thế nào giữa các tài
sản tài chính. Quá trình đó được gọi là quá trình hình thành giá.
Thứ hai, cung cấp một cơ chế để cho các nhà đầu tư bán một tài sản tài chính.
Với đặc tính này, thị trường tài chính là thị trường tạo ra tính thanh khoản.
Thiếu tính thanh khoản, các nhà đầu tư phải nắm giữ tài sản tài chính cho đến
vốn đến nơi thiếu vốn, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn đầu tư, là nơi dừng của
nguồn vốn nhàn rỗi. Chính vì thế thị trường tài chính đã tạo ra môi trường
thuận lợi để dung hòa lợi ích kinh tế khác nhau.
Mặt khác, trong xu thế toàn cầu hóa thị trường tài chính không chỉ dừng lại ở
phạm vi điều tiết vốn trong nước mà còn tham gia vào sự vận động vốn với
nước
Thị trường tài chính góp phần quan trọng trong quá trình điều tiết vĩ mô của
nhà nước, đối với quá trình điều hòa cung cầu tiền tệ và ngăn chặn lạm phát
trên cơ sở thu hút những nguồn với nhàn rỗi trong xã hội vào đầu tư ngắn hạn,
trung hạn, dài hạn.
Ngân hàng trung ương thông qua thị trường tài chính đặc biệt là thị trường tiền
tệ để vận dụng linh hoạt các công cụ điều tiết vĩ mô như lãi suất thị trường, lãi
suất tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở để thực thi chính sách tiền tệ, tạo
điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trung ương điều chỉnh và giám sát cung tiền
tệ, tín dụng trong điều kiện nền kinh tế mở.
Ở nước ta, trong giai đoạn hiện nay việc giải quyết nhu cầu vốn cho các mục
tiêu phát triển kinh tế, xã hội đang là vấn đề cấp bách được đặt ra. Bên cạnh đó,
7/
UEH
ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
82
sự phát triển của thị trường tài chính là yếu tố quan trọng biểu hiện tính hiệu
quả và khả năng thanh toán của hệ thống tài chính tạo điều kiện cho người đi
vay và người cho vay lựa chọn phương án đầu tư sử dụng vốn có hiệu quả nhất.
1.2.1.5 Phân loại thị trường tài chính
Căn cứ vào thời gian chuyển giao vốn: Thị trường tài chính bao gồm :
+ Thị trường tiền tệ
theo những nguyên tắc, thể chế do nhà nước quy định.
Một hệ thống thị trường tài chính hoàn chỉnh phải bao gồm hệ thống thị trường
tiền tệ hoạt động chủ yếu thông qua hệ thống ngân hàng, kho bạc nhà nước, các
công ty tài chính và thị trường vốn trong đó thị trường chứng khoán giữ vai trò
quan trọng.
1.2.1.5.1 Thị trường tiền tệ ( thị trường tài chính ngắn hạn)
Khái niệm
+ Thị trường tiền tệ là thị trường giao dịch, mua bán các giấy tờ có giá ngắn
hạn, thông thường có kỳ hạn dưới 1 năm.
+ Thị trường tiền tệ là thị trường tài chính huy động các nguồn vốn ngắn hạn
Phân loại
* Căn cứ vào cơ cấu tổ chức:
+ Thị trường tiền tệ cũ: là thị trường tiền tệ cổ điển, là thị trường vay vốn ngắn
hạn đặt dưới sự quản lý của Ngân hàng trung ương.
+ Thị trường tiền tệ mới: là thị trường các trái phiếu ngắn hạn, cơ cấu gồm 2
cấp là thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
* Căn cứ vào đối tượng tham gia trên thị trường:
+ Thị trường tín dụng ngắn hạn giữa các Ngân hàng thương mại đặt dưới sự
điều hành của Ngân hàng Trung ương
+ Thị trường công nợ ngắn hạn như tín phiếu, kho bạc, thương phiếu…
+ Thị trường ngoại hối : là thị trường giao dịch các loại ngoại hối.
Chủ thể tham gia
Tham gia trên thị trường tiền tệ bao gồm nhiều chủ thể. Hiểu theo nghĩa hẹp
chủ thể tham gia trên thị trường tiền tệ là các ngân hàng thương mại, các tổ
chức tín dụng khác, các tổ chức môi giới. Hiểu theo nghĩa rộng chủ thể tham
gia trên thị trường tiền tệ bao gồm chủ thể cho vay đại diện cho nguồn cung về
vốn như ngân hàng trung ương, ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
khác…; chủ thể đi vay đại diện cho nguồn cầu về vốn như các ngân hàng
để bù đắp cho những thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước.
Đặc điểm:
+ Là chứng khoán chiết khấu
+ Là công cụ tài chính có rủi ro thấp nhất, có tính thanh khoản cao nhất
+ Được phát hành thông qua hình thức đấu giá
+ Là công cụ được Ngân hàng trung ương các nước sử dụng như một công cụ để điều
hành chính sách tiền tệ thông qua thị trường mở.
10/
UEH
ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
82
Thương phiếu (Commercial paper)
+ Thương phiếu là những giấy nhận nợ do các công ty có uy tín phát hành để vay vốn
ngắn hạn từ thị trường tài chính.
+ Thương phiếu được phát hành theo hình thức chiết khấu, tức là được bán với giá
thấp hơn mệnh giá.
+ Thị trường thương phiếu ngày nay rất sôi động và phát triển với tốc độ rất nhanh.
Việc chuyển nhượng thương phiếu được thực hiện bằng hình thức ký hậu.
Chấp phiếu ngân hàng (Banker’s Acceptance)
Chấp phiếu ngân hàng là các hối phiếu kỳ hạn do các công ty ký phát và được ngân
hàng đảm bảo thanh toán bằng cách đóng dấu “đã chấp nhận” lên tờ hối phiếu.
Chứng chỉ tiền gửi bán lại được của ngân hàng( CDs- Certificate of deposit)
Chứng chỉ tiền gửi( Certificate of Deposit) là một công cụ nợ (debt instrument) do các
ngân hàng phát hành, cam kết trả lãi định kỳ cho các khoản tiền gửi và sẽ hoàn trả vốn
gốc( được gọi là mệnh giá của chứng chỉ) cho người gửi tiền khi đến ngày đáo hạn.
Trước năm 1961, CD không thể bán lại được, tức là, chúng không thể được bán lại
cho người khác và không thể được hoàn trả trước kỳ hạn nếu không chịu một khoản
phạt đáng kể. Năm 1966, nhằm làm cho CD thanh khoản hơn và hấp dẫn những nhà
vốn trong xã hội, tập trung thành những nguồn vốn tài trợ dài hạn cho các
doanh nghiệp và chính phủ nhằm mục đích phát triển sản xuất, tăng trưởng
kinh tế hay cho các dự án đầu tư.
+ Thị trường tín dụng trung và dài hạn ( hay thị trường thế chấp ) cung cấp tín
dụng trung và dài hạn cho các doanh nghiệp đòi hỏi tài sản thế chấp. hoạt động
trên thị trường này là NHTM và các tổ chức tín dụng phi NH
+ Thị trường cho thuê tài chính là loại hình tài trợ vốn hữu hiệu cho các doanh
nghiệp có nhu cầu đầu tư đổi mới trang thiết bị công nghệ.
+ Thị trường chứng khoán: chứng khoán là các công cụ thể hiện quyền sở hữu
trong 1 công ty ( cổ phiếu) quyền chủ nợ đối với công ty.
Trong đó bộ phận quan trọng nhất của thị trường tài chính là Thị trường chứng
khoán trong việc tập trung huy động những khoản vốn khổng lồ cho nền kinh
tế.
Chủ thể tham giathị trường vốn
Nhà phát hành chứng khoán, nhà đầu tư, tổ chức trung gian chứng khoán, nhà
tổ chức thị trường, cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán
Chức năng của thị trường vốn
- Huy động tiết kiệm: thị trường vốn huy động vốn từ nhiều nguồn tiền nhàn
rỗi trong xã hội để đầu tư lâu dài vào những kênh sinh lợi trong nền kinh tế.
-Tạo vốn : Thị trường vốn có chức năng tạo vốn. Việc tạo vốn là sự bổ sung
vào các cổ phiếu và nguồn vốn sẵn có trong nền kinh tế. Thông qua huy động
nguồn lực lý tưởng, nó tạo ra tiết kiệm; các khoản tiết kiệm huy động được
12/
UEH
ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
82
phân bổ vào các ngành khác nhau như công nghiệp, nông nghiệp…Điều này
13/
UEH
ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
82
- Trái phiếu công tylà những trái phiếu do doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ
phần và công ty trách nhiệm hữu hạn phát hành để tăng vốn hoạt động. Trái
phiếu doanh nghiệp có nhiều loại và rất đa dạng.
- Trái phiếu chính phủ đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, chính phủ
phát hành trái phiếu để huy động tiền nhàn rỗi trong dân và các tổ chức kinh tế,
xã hội. Chính phủ luôn được coi là Nhà phát hành có uy tín nhất trên thị
trường; Vì vậy, Trái phiếu Chính phủ được coi là loại chứng khoán có ít rủi ro
nhất.
- Các công cụ phái sinh
Đặc trưng của các công cụ tài chính: Có tính thanh khoản thấp, mức độ rủi ro
cao, thời hạn của các công cụ tài chính dài, lãi suất biến động mạnh, biến động
giá cao, lợi nhuận đem lại cao
1.2.1.5.3 Mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn
Thị trường tiền tệ và thị trường vốn là hai bộ phận cấu thành nên thị trường tài
chính cùng thực hiện một chức năng là cung cấp vốn cho nền kinh tế. Do đó
các nghiệp vụ hoạt động ở trên hai thị trường có mối liên quan bổ sung và tác
động qua lại.
Lãi suất trên thị trường tiền tệ có ảnh hưởng lớn đến việc phát hành và mua bán
chứng khoán trên thị trường vốn. Nếu lãi suất của các ngân hàng trả cho người
tiết kiệm cao, điều này sẽ khiến cho người tiết kiệm thích gửi tiền vào ngân
hàng để hưởng lãi suất và rủi ro thấp hơn so với việc đầu tư vào chứng khoán.
1.2.2.1 Tài chính công
Tài chính công đặc trưng bằng các quỹ tiền tệ của các định chế thuộc khu vực
công gắn liền với việc thực hiện các chức năng của nhà nước Tài chính công
tác động đến sự hoạt động và phát triển của toàn bộ nền kinh tế xã hội. Điều
này được thể hiện bằng quá trình phân phối và phân phối lại của quỹ ngân sách
nhà nước.
Tài chính công thực hiện huy động và tập trung một bộ phận nguồn tài chính từ
các định chế tài chính khác chủ yếu qua thuế và các khoản thu mang tính chất
thuế. Trong trường hợp thiếu hụt ngân sách thì chính phủ tham gia trên thị
trường tài chính bằng việc phát hành trái phiếu để vay nợ…. Trên cơ sở nguồn
lực huy động được, chính phủ sử dụng quỹ ngân sách để tiến hành cấp phát
kinh phí, tài trợ vốn cho các tổ chức kinh tế, các đơn vị thuộc khu vực công
nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội.
15/
UEH
ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
82
1.2.2.2 Tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp được đạc trưng bằng các loại vốn hay các quỹ tiền tệ
phục vụ cho hoạt động của các công ty, các đơn vị kinh tế trong việc cung cấp
hàng hóa và dịch vụ.
Tài chính doanh nghiệp phải có nhiệm vụ huy động và cung cấp vốn cho các
hoạt động của doanh nghiệp. Trong quá trình đó, nói chung, nó liên quan đến
việc cân bằng rủi ro và lợi nhuận. Vốn dài hạn được cung cấp bởi các cổ động
và tín dụng dài hạn thường được tài trợ qua phát hành trái phiếu. Quyết định
lựa chọn nguồn tài trợ như vậy dẫn đến hình thành cấu trúc vốn của doanh
nghiệp. Còn vốn ngắn hạn chủ yếu được cung cấp bởi các ngân hàng thông qua
nhuận.
Đặc điểm các định chế tài chính trung gian
Các định chế tài chính trung gian là những tổ chức làm cầu nối giữa những chủ
thể cung và cầu vốn, là bộ phận không thể thiếu trong hệ thống tài chính, góp
phần vào quá trình phân phối, điều hòa hợp lý các nguồn lực tài chính nhằm
thỏa mãn cao nhất nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế xã hội.
Các định chế tài chính trung gian là một đơn vị kinh doanh tiền tệ, tín dụng. Phân loại các định chế tài chính trung gian
Căn cứ vào mức độ thực hiện chức năng trung gian, các định chế tài chính
trung gian chia thành 3 loại:
+ Các định chế nhận tiền gửi: nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân, sau đó sử
dụng nguồn vốn để cấp tín dụng và thực hiện các hoạt động trung gian thanh
toán bao gồm: các ngân hàng thương mại, các quỹ tín dụng, các ngân hàng tiết
kiệm tương trợ và các ngân hàng xã hội khác…
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Hoạt động ngân hàng là hoạt
động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung chủ yếu và thường xuyên
là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ thanh toán.
Quỹ tín dụng là một định chế tài chính thuộc sở hữu tập thể, được thành lập trên cơ
sở sự đóng góp vốn cổ phần của các xã viên. Quỹ tín dụng thực hiện các hoạt động
huy động vốn như nhận tiền gửi không kỳ hạn, phát hành chứng chỉ tiền gửi có kỳ
hạn, các loại chứng khoán nợ… cấp tín dụng cho các cho các tín dụng ngoài tổ chức
với lãi suất thỏa thuận.
+ Các định chế tiết kiệm theo hợp đồng: gồm các công ty bảo hiểm nhân thọ,
các công ty bảo hiểm tai nạn và tài sản, các quỹ cấp hưu trí. Các tổ chức tiết
kiệm theo hợp đồng thu nhận vốn theo định kỳ trên cơ sở hợp đồng thỏa thuận
Các quỹ hưu trí thành lập với mục đích hỗ trợ cho người lao động khi về hưu có một
mức thu nhập ổn định.
Vai trò các định chế tài chính trung gian
Các định chế tài chính trung gian là những nhà phân tích có năng lực, tập trung
nhiều vào giá cả thị trường và điều chỉnh danh mục đầu tư hợp lý, khắc phục
tình trạng thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính.
18/
UEH
ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
82
* Chu chuyển nguồn vốn
- Kênh huy động vốn đầu tư trong nước:
+ Huy động vốn của doanh nghiệp, tổ chức xã hội và hộ gia đình thông qua các
sản phẩm: trái phiếu, các chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm, hợp đồng bảo hiểm với
nhiều kỳ hạn khác nhau. Hình thức huy động này có ưu điểm nổi bật là chi phí
giao dịch thấp, độ an toàn cao, ít rủi ro.
+ Huy động vốn đầu tư thông qua phát hành chứng khoán trên trường chứng
khoán: huy động vốn của các nhà đầu tư thông qua phát hành các giấy tờ có
giá. Trong xu hướng tự do tài chính TTCK sẽ mở ra nhiều cơ hội để các định
chế tài chính trung gian trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài giao lưu vốn
với nhau. Tuy nhiên, kênh huy động vốn này có những rủi ro tiềm ẩn, gây bất
ổn cho hoạt động của các định chế trung gian tài chính.
- Kênh huy động vốn từ nước ngoài:
+ Tiếp nhận nguồn vốn hỗ trợ chính thức (ODA) để thực hiện cho vay theo các
chương trình tín dụng chi định bởi các nhà tài trợ nước ngoài. Ưu điểm: chi phí
sử dụng vốn thấp. Nhược điểm: có điều kiện va ràng buộc khắt khe về thủ tục
năng suất lao động. Phúc lợi xã hội tiêu chuẩn cuộc sống được nâng lên.
* Góp phần giảm chi phí giao dịch của xã hội
Chi phí giao dịch là chi phí liên quan đến tiền và thời gian để thực hiện giao
dịch tài chính. Một trong những yếu tố quan trọng của chi phí giao dịch là chi
phí nghiên cứu. Nếu không có định chế trung gian tài chính, người đi vay phải
bỏ thời gian để tìm kiếm những người cho vay phù hợp nhu cầu và lãi suất hợp
lý; trong khi đó, người tiết kiệm để cho vay cần: tìm người vay vốn đáng tin
cậy và thiết lập hợp đồng vay vốn chặt chẽ.
Sự ra đời của các định chế trung gian tài chính góp phần làm giảm chi phí giao
dịch, mang lại lợi ích cho người tiết kiệm và người đi vay.
* Góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và tiêu chuẩn cuộc sống xã hội
- Lợi ích: đối với người tiết kiệm: Bằng việc phát hành các chứng khoán thứ
cấp, các định chể trung gian tài chính: tập trung nguồn vốn nhàn rỗi của nhiều
người tiết kiệm biến thành đồng vốn sinh lời; khắc phục những khó khan mà
từng người tiết kiệm gặp phải khi thực hiện đầu tư trực tiếp như: thiếu kinh
nghiệm, thông tin, khả năng hạn chế tiếp cận đến thị trường, thiếu những công
cụ tài chính có quy mô nhỏ và chi phí giao dịch tốn kém; tạo ra kinh tế quy mô
và đa dạng hóa các sản phẩm tài chính từ đó phân tán rủi ro cho những người
tiết kiệm. 20/
UEH
ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
82
- Lợi ích đối với người vay vốn: Các định chế trung gian tài chính làm giảm chi
phí giao dịch; gắn kết chặt chẽ nhu cầu của người tiết kiệm và người đi vay;
21/
UEH
ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
82
phát hành cổ phiếu để tạo nguồn vốn khi mới thành lập, hoặc tăng vốn bổ sung,
cũng như phát hành trái phiếu để huy động vốn, ngoài ra còn thực hiện các
dịch vụ tư vấn về phát hành, làm đại lý phát hành toàn bộ để hưởng phí bảo
lãnh. Còn trên thị trường thứ cấp, các ngân hàng thương mại đóng vai trò là
nhà trung gian môi giới chứng khoán, thực hiện các sản phẩm phái sinh, cho
vay chứng khoán.
Các định chế tài chính trung gian đóng vai trò là tổ chức hỗ trợ nâng cao mức
tín nhiệm.Trong quá trình hoạt động, có thể dung uy tín của mình để đánh giá
hỗ trợ đảm bảo một phần nghĩa vụ thanh toán cho tổ chức phát hành trong
trường hợp tổ chức phát hành mất khả năng chi trả, qua đó góp phần nâng mức
tín nhiệm của các tổ chức phát hành chứng khoán.
Các định chế tài chính trung gian đóng vai trò là bên thứ ba trong quá trình
chứng khoán hóa. Quá trình chứng khoán hóa các khoản vốn có tính thanh
khoản kém luôn cần phải có bên thứ ba đứng giữa làm trung gian, đây là các
Các định chế tài chính chuyên nghiệp trong định giá chứng khoán, có uy tín và
tiềm lực tài chính mạnh , có khả năng bảo lãnh phát hành và tạo dựng thị
trường cho các công cụ tài chính mới.
1.2.3
Cơ sở hạ tầng tài chính
Cơ sở hạ tầng tài chính là những nền tảng để qua đó các doanh nghiệp, nhà đầu
tư, cá nhân lập kế hoạch và thực hiện các giao dịch tài chính với các trung gian