Đánh giá công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng ở Hạt kiểm lâm huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang trong giai đoạn năm 2007 đến năm 2012 - Pdf 25

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự phát triển nhanh về quy mô dân số cũng như về quy mô sản
xuất, con người đã và đang làm cho môi trường rừng ngày càng thu hẹp gây ra
nhiều thảm họa cho chúng ta như: lũ lụt, hạn hán, nước biển dâng cao,… Rừng
bị tàn phá nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng. Vì vậy, đòi hỏi chúng ta
cần có những biện pháp quản lý bảo vệ và phát triển rừng hợp lý nhằm cứu hành
tinh xanh mà chúng ta đang sống.
An Giang là một tỉnh nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, với tổng
diện tích rừng và đất rừng toàn tỉnh là 19.205 ha, chiếm 5% diện tích tự nhiên
của tỉnh. Tuy lâm nghiệp An Giang hiện nay không phải là một ngành chiếm tỷ
trọng cao trong thu nhập của tỉnh, nhưng nó có vị trí rất quan trọng trong việc
phòng hộ đất đai, sản xuất, môi trường và sự sống của con người, nó góp phần
làm giảm nhẹ thiên tai, đảm bảo môi trường phát triển bền vững, tạo tiền đề cho
khai thác các tiềm năng du lịch.
Thông qua các chương trình đầu tư từ nguồn vốn ngân sách của tỉnh, vốn
đầu tư của Trung ương và vốn của các tổ chức, cá nhân trong tỉnh đầu tư trồng
rừng, cụ thể như: Chương trình 275 của tỉnh từ năm 1990 – 1993, Chương trình
327 của Chính phủ từ năm 1993 – 1998, Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày
29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ
chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và các Quyết định của UBND
tỉnh phê duyệt Dự án trồng cây lâm nghiệp phân tán trên địa bàn tỉnh An Giang
giai đoạn 2001 – 2005; 2006 - 2010.
Huyện Tri Tôn – tỉnh An Giang có tổng diện tích đất đồi núi tự nhiên
5.176 ha. Trước kia toàn bộ vùng đồi núi này được che phủ bởi rừng kín nữa
rụng lá ẩm nhiệt đới. Theo thời gian, do chiến tranh kéo dài cùng với những tác
động thiếu ý thức của con người làm cho thảm thực vật nơi đây bị tàn phá nặng
nề, chỉ còn lại một diện tích rất nhỏ rừng tái sinh, các loài thú rừng gần như bị
tiêu diệt hoàn toàn. Hiện trạng trên, dẫn đến tình trạng môi trường sinh thái
trong vùng biến đổi ngày càng xấu đi: thời gian khô hạn kéo dài, nguồn nước
ngầm cạn kiệt, đất đai bị bào mòn, thoái hóa nghiêm trọng (đá lộ đầu chiếm 60%

2
2.1. Tình hình mất rừng trên thế giới và Việt Nam
2.1.1. Tình hình mất rừng trên thế giới
Theo tài liệu mới công bố của Quỹ bảo vệ động vật hoang dã trong thời
gian 30 năm (1960 - 1990) độ che phủ rừng trên toàn thế giới đã giảm đi gần
13%, tức diện tích rừng đã giảm đi từ 37 triệu km
2
xuống 32 triệu km
2
, với tốc
độ giảm trung bình 160.000km
2
/năm. Sự mất rừng lớn nhất xảy ra ở các dùng
nhiệt đới, ở Amazone (Braxin) trung bình mỗi năm rừng bị thu hẹp 19.000km
2
trong suốt hơn 20 năm qua. Bốn loại rừng bị hủy diệt khá lớn là rừng hỗnn hợp
và rừng ôn đới lá rộng 60%, rừng lá kim khoảng 30%, rừng ẩm nhiệt đới khoảng
45% và rừng khô nhiệt đới lên đến khoảng 70%. Châu Á là nơi mất rừng nguyên
sinh lớn nhất, khoảng 70%. Có nhiều nguyên nhân làm mất rừng trên thế giới,
tập trung chủ yếu vào các nhóm nguyên nhân như: cháy rừng, chăn thả gia súc,
lấy củi, khai thác gỗ và sản phẩm từ rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và
cháy rừng. Hằng năm, lượng gỗ sử dụng làm chất đốt trên thế giới đã tăng 600
triệu m
3
vào năm 1963 lên 1.300 triệu m
3
vào năm 1983. Hiện nay vẫn còn
khoảng 1,5 tỷ người chủ yếu dựa vào nguồn gỗ củi cho nấu ăn. Riêng ở Châu
Phi đã có 180 triệu người thiếu củi đun, việc buôn bán gỗ xảy ra mạnh mẽ ở
vùng Đông Nam Á, chiếm đến gần 50% lượng gỗ buôn bán trên thế giới. Ví dụ,

sự sống trên khắp trái đất. Theo ước tính của Tổ chức Nông lương Liên Hợp
quốc (FAO) thì mỗi năm 130.000km² rừng trên thế giới bị biến mất do nạn phá
rừng. Điều này khiến cho môi trường sống của 2/3 loài động thực vật trên trái
đất bị thu hẹp, đa dạng sinh học bị suy giảm, nếu không có giải pháp kịp thời và
hữu hiệu, trong tương lai không xa, mỗi ngày chúng ta sẽ phải nói lời chia tay
với 100 loài động thực vật trên thế giới [8].
Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO) cho biết tình trạng phá rừng
trên toàn cầu đang dần giảm đi nhưng rừng vẫn đang biến mất ở mức báo động.
FAO cho biết trong bản đánh giá nguồn tài nguyên rừng toàn cầu rằng
mỗi năm thế giới mất 7,3 triệu ha rừng, chiếm 0,18% diện tích rừng toàn cầu
trong thời gian từ 2000 đến 2005.
Tổ chức này cũng cho biết tỷ lệ này giảm so với thời gian từ năm 1990
đến năm 2000, với 8,9 triệu ha rừng bị biến mất hàng năm.
Nam Mỹ là khu vực có tình trạng phá rừng diễn ra tồi tệ nhất do các hoạt
động phá rừng trong 5 năm qua từ 2000 đến 2005, làm mất 4,3 triệu ha rừng mỗi
năm, theo sau là châu Phi với 4 triệu ha rừng biến mất hàng năm [9].
Theo FAO diện tích rừng của thế giới bao phủ năm 1999 là 3.454 triệu ha
rừng chiếm 26,6% tổng diện tích đất, trong đó ở các quốc gia không phát triển
chiếm 56,85%. So sánh độ che phủ rừng trong giai đoạn 1990 – 1995 đã cho
thấy những nước đang phát triển đã mất hẳn 56,3 triệu ha rừng hiện tại, giảm
65,1 triệu ha rừng (0,65% mỗi năm) và ngược lại, các quốc gia phát triển tăng
8,8 triệu ha rừng (0,06% mỗi năm). Theo White và Martin năm 2002 có khoảng
77% rừng trên thế giới đang được sở hữu và quản lý bởi Chính phủ và ít nhất
11% hoặc dành cho, hoặc thuộc sở hữu của cộng đồng. Khoảng 75% diện tích
4
thuộc sở hữu hoặc dành cho cộng đồng, đã được chuyển giao cho họ trong 15
năm vừa qua [4].
2.1.2. Tình hình mất rừng tại Việt Nam
Tình hình mất rừng ở nước ta xảy ra ở nhiều nơi: mặc dù diện tích rừng ở
toàn quốc tăng trong những năm qua, nhưng diện tích rừng bị mất còn ở mức

và khai thác gỗ xuất khẩu. Tuy nhiên từ những năm 1990 – 1995, do công tác
trồng rừng được đẩy mạnh đã phần nào làm cho diện tích rừng tăng lên.
Về chất lượng, trước năm 1945 rừng nước ta có trữ lượng gỗ vào khoảng
200 – 300 m
3
/ha, trong đó các loài gỗ quý như đinh, lim, sến, táu, nghiến, trai,
gụ là rất phổ biến. Những cây gỗ có đường kính 40 – 50cm chiếm tới 40 – 50%
trữ lượng của rừng. Rừng tre nứa với những cây tre có đường kính 18 – 20cm,
nứa 4 – 6cm và vầu 8 – 12cm rất phổ biến. Hiện nay chất lượng rừng đã giảm
sút đáng kể, chỉ còn chủ yếu là rừng nghèo có giá trị kinh tế không cao.
Trữ lượng gỗ rừng năm 1993 ước tính khoảng 525 triệu m
3
(trung bình 76
m
3
/ha). Tốc độ tăng trưởng trung bình của rừng Việt Nam hiện nay là 1 – 3
m
3
/ha/năm, đối với rừng trồng có thể đạt 5 – 10 m
3
/ha/năm.
Ngoài tài nguyên gỗ, rừng Việt Nam cũng rất giàu có về các loài tre nứa
(khoảng 40 loài có ý nghĩa thương mại và khoảng 4 tỷ cây tre nứa); Song mây
có khoảng 400 loài; hàng năm khai thác khoảng 50.000 tấn.
Trong rừng Việt Nam cũng phong phú về các loài dược liệu, theo Viện
Dược liệu năm 2002 hiện đã biết được 3800 loài, trong đó có nhiều loài đã được
biết và khai thác phục vụ cho việc chế biến thuốc. Nhiều loài cây cho chất thơm,
tanin, tinh dầu và dầu béo. Ngoài ra, rừng còn cung cấp nhiều loại sản phẩm quý
khác như cánh kiến, nấm, mật ong, hoa lan, thịt thú rừng.
Hiện nay, có rất nhiều loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng

càng khám phá ra nhiều công dụng mới của gỗ, làm cho lượng gỗ tiêu thụ ngày
càng nhiều. Trong khai thác gỗ, nếu chỉ chạy theo lợi nhuận, chỗ nào dễ thì khai
thác trước, không đốn tỉa mà chặt hạ trắng, nghĩa là chặt từ bìa rừng vào, vừa
chặt cây to để lấy gỗ, vừa phá hoại cây con, thì những khu vực rừng đã bị chặt
phá sẽ khó cơ hội tự phục hồi lại được.
Nguyên nhân thứ tư gây mất rừng là do cháy. Rừng bị cháy do đốt rừng
làm nương, làm bãi săn bắn, dùng lửa thiếu thận trọng trong rừng, thiên tai,
chiến tranh Trong mùa khô, chỉ cần một mẩu tàn thuốc lá cháy dở, một bùi
nhùi lửa đuổi ong ra khỏi tổ để lấy mật cũng đủ gây ra một đám cháy rừng lớn
trong nhiều ngày, nhất là khi không có đủ nước, nhân lực và phương tiện để dập
tắt lửa.
Chiến tranh không phải là hiện tượng phổ biến, thường xuyên. Tuy nhiên
các cuộc chiến tranh thường có sức tàn phá rất nặng nề. Ở Việt Nam, từ 1945
cho đến năm 2012 mất khoảng hơn 2 triệu ha. Nhiều vùng rừng bị chất độc hoá
học tàn phá đến nay vẫn chưa mọc lại được.
Nói tóm lại, có năm nguyên nhân chính gây mất rừng là lấy đất, lấy gỗ,
lấy củi, cháy rừng và chiến tranh. Trong đó mất rừng do cháy và chiến tranh là
sự mất mát phi lý nhất, vì nó chẳng đem lại điều gì tốt đẹp cho con người. Việc
phá rừng lấy đất, lấy gỗ, củi bừa bãi thực tế chỉ nhằm phục vụ cho lợi ích của
một số cá nhân nào đó. Cái lợi mà việc làm đó đem lại nhỏ hơn nhiều so với cái
7
hại mà nó gây ra. Vì mất rừng là trái đất mất cỗ máy sản xuất ôxy, động vật mất
nơi cư trú, nhiều loại cây quý, lâu năm bị tuyệt giống, lũ lụt và hạn hán trở nên
trầm trọng hơn Hy vọng rằng bằng việc áp dụng thành công các tiến bộ khoa
học kỹ thuật và sử dụng tiết kiệm, hợp lý tài nguyên đất, rừng, tăng cường trồng
và bảo vệ rừng, diện tích rừng trên trái đất sẽ không bị giảm có thể tăng lên [11].
2.3. Tình hình quản lý bảo vệ rừng trên Thế Giới và Việt Nam
2.3.1. Tình hình quản lý bảo vệ rừng trên Thế Giới
Rừng là yếu tố quan trọng nhất của sinh quyển và có ý nghĩa lớn trong sự
phát triển kinh tế xã hội, sinh thái và môi trường. Trên thực tế rừng đã có lịch sử

2.3.2. Tình hình quản lý bảo vệ rừng tại Việt Nam
Việt Nam được xem là nước có diện tích rừng tự nhiên khá lớn trong
vùng Đông Nam Á. Theo số liệu của Bộ Nông Nghiệp và phát triển Nông thôn
(NN & PTNT), tổng diện tích rừng của cả nước năm 2010 là 13.258.843 ha,
trong đó diện tích rừng tự nhiên là 10.339.305 ha, rừng trồng chiếm 2.919.538
ha, độ che phủ 39,1%, trong đó khoảng trên 10 triệu ha là rừng tự nhiên và gần 3
triệu ha là rừng trồng. Trong số đó, hơn một nữa diện tích rừng tự nhiên của
nước ta thuộc loại rừng nghèo hoặc tái sinh, trong khi rừng già và rừng tán kín
chỉ chiếm trên 9%. Và cũng theo thống kê mới nhất của Cục kiểm lâm thì đầu
năm đến tháng 9/2010 có 1.553,68 ha rừng bị chặt phá và 5.364,85 ha rừng bị
cháy. Diện tích rừng tự nhiên của nước ta đang suy giảm nghiêm trọng và độ
che phủ của rừng ở khu vực miền Trung đã bị suy giảm nghiêm trọng. Hiện nay
độ che phủ của rừng còn chưa đến 40%, trong đó diện tích rừng nguyên sinh chỉ
còn 10%. Đây là vấn đề rất nghiêm trọng, bởi do biến đổi khí hậu, trong thời
gian tới, Việt Nam phải tiếp tục hứng chịu nhiều đợt thiên tai do các hiện tượng
thời tiết như El Nino, La Nina gây ra với tần suất ngày càng nhiều và khốc liệt
[6].
Trong khoảng 10 năm trở lại đây quản lý rừng bền vững được Nhà nước
cũng như các ngành hết sức quan tâm. Những quan tâm này được thể hiện trong
các văn bản pháp luật, các chỉ thị nghị quyết của Chính phủ cũng như trong các
quy chế, quy trình, quy phạm của ngành.
• Luật Bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi, năm 2004
Trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng, các vấn đề về quản lý rừng bền
vững, đã được đề cập đến như:
- Các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải đảm bảo phát triển bền
vững về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy
hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước và địa phương; tuân theo
quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định.
9

• Luật Bảo vệ môi trường
Trong Luật Bảo vệ môi trường, vấn đề quản lý rừng bền vững được hết
sức quan tâm. Cụ thể:
10
- Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ các giống, loài thực vật, động
vật hoang dã, bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo vệ rừng, biển và các hệ sinh
thái.
- Việc khai thác các nguồn lợi sinh vật phải theo đúng thời vụ, địa bàn,
phương pháp và bằng công cụ, phương tiện đã được quy định, bảo đảm sự khôi
phục về mật độ và giống, loài sinh vật, không làm mất cân bằng sinh thái.
- Việc khai thác rừng phải theo đúng quy hoạch và các quy định của Luật
Bảo vệ và phát triển rừng, Nhà nước có kế hoạch tổ chức cho các tổ chức, cá
nhân trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc để mở rộng nhanh diện tích của
rừng, bảo vệ các vùng đầu nguồn sông, suối.
- Việc sử dụng, khai thác khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên
phải được phép của cơ quan quản lý ngành hữu quan, cơ quan quản lý nhà nước
về bảo vệ môi trường và phải đăng ký với Uỷ ban nhân dân địa phương được
giao trách nhiệm quản lý hành chính khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên
nhiên nói trên.
- Việc khai thác đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất sử dụng vào mục
đích nuôi trồng thủy sản phải tuân theo quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch cải tạo
đất, bảo đảm cân bằng sinh thái. Việc sử dụng chất hóa học, phân hóa học, thuốc
bảo vệ thực vật, các chế phẩm sinh học khác phải tuân theo quy định của pháp
luật.
- Nghiêm cấm các hành vi đốt phá rừng, khai thác khoáng sản một cách
bừa bãi gây hủy hoại môi trường, làm mất cân bằng sinh thái.
- Cấm khai thác, kinh doanh các loài thực vật, động vật quý, hiếm trong
danh mục quy định của Chính phủ và cấm sử dụng các phương pháp, phương
tiện, công cụ hủy diệt hàng loạt trong khai thác, đánh bắt các nguồn động vật,
thực vật.

khoán, ông Phan Văn Kéo, Tổ trưởng Tổ PCCCR Ô Tà Sóc (xã Lương Phi, Tri
Tôn), còn kiêm luôn nhiệm vụ gác rừng ở khu vực ven chân núi Dài. Công việc
của ông Kéo cùng các thành viên trong Tổ PCCCR Ô Tà Sóc là thường xuyên
thông báo cho người đi rừng phải chú ý giữ mức độ lửa, không được hút thuốc,
đốt bắt ong trong rừng… Riêng đối với những đoàn khách vào tham quan, cắm
trại ở Khu di tích lịch sử cách mạng Ô Tà Sóc, Tổ PCCCR có nhiệm vụ nhắc
nhở mọi người không đốt lửa nấu ăn hoặc đốt lửa trại. “Dù là mùa khô nhưng
các chủ vườn đều dự trữ đầy nước trong các bồn chữa cháy, riêng các dụng cụ
chữa cháy như máy bơm, ống dây, can nhựa, dụng cụ dập lửa… thì thường
xuyên được kiểm tra nhằm đảm bảo đủ số lượng, sẵn sàng phục vụ. Nếu phát
hiện có cháy rừng, Tổ PCCCR sẽ huy động người dân tham gia dập lửa ngay,
trong trường hợp cháy lớn sẽ thông báo cho bộ đội, Kiểm lâm, Công an cùng
tăng cường lực lượng chữa cháy. Nói chung, anh em đều rất ý thức nâng cao
12
cảnh giác bởi PCCCR vừa là bảo vệ lợi ích chung vừa đảm bảo an toàn tài sản,
tính mạng của gia đình mình”, ông Kéo chia sẻ.
Ở Đại đội Bộ binh huyện Tri Tôn, bên cạnh nhiệm vụ huấn luyện sẵn
sàng chiến đấu, công tác PCCCR luôn được toàn lực lượng đặc biệt chú trọng.
Từ khi được Chi cục Kiểm lâm An Giang bàn giao tháp canh cố định bằng thép
cao 14m (thuộc dự án nâng cao năng lực PCCCR của tỉnh), đơn vị đã phân công
chiến sĩ thay phiên nhau túc trực trên tháp canh để quan sát tổng quan khu vực
rừng phía Tây núi Dài. Công tác phối hợp PCCCR được Đại đội Bộ binh huyện
Tri Tôn tổ chức diễn tập thường xuyên. Theo đó, khi phát hiện có cháy, chiến sĩ
trực tháp canh sẽ đánh kẻng báo động, tất cả các chiến sĩ còn lại đều tham gia
chữa cháy. Thùng nước lớn, máy bơm và ống dây được di chuyển rất nhanh.
Mỗi chiến sĩ đều mang theo can nước hoặc dụng cụ dập lửa tiếp cận đám cháy.
Theo ghi nhận của chúng tôi tại một buổi diễn tập, chỉ trong vòng chưa đầy 10
phút, 2 đám cháy cùng lúc ở một rừng tầm vong cách xa đại đội khoảng 300m
đã được dập tắt hoàn toàn. Theo ông Lý Vĩnh Định, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm
huyện Tri Tôn: “Từ khi bàn giao tháp canh cao 14m cho Đại đội Bộ binh huyện

trồng bổ sung trên 169 ha và tra dặm chăm sóc rừng trên 500 ha.
Mục tiêu nhiệm vụ những tháng còn lại năm 2010, huyện Tri Tôn sẽ tập
trung duy trì tốt công tác tuần tra chống chặt phá rừng và mua bán động vật
hoang dã. Triển khai gieo ươm và cung cấp cây phân tán trồng vụ II năm 2010;
đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức của cộng
đồng dân cư trong công tác chăm sóc và bảo vệ rừng.
Theo kế hoạch, huyện Tri Tôn sẽ tiếp tục đẩy mạnh xây dựng mạng lưới
cộng tác viên Kiểm lâm trong công tác bảo vệ rừng. Thực hiện vai trò nòng cốt
trong công tác tuyên truyền pháp luật cho nhân dân trong địa bàn, tạo mối liên
hệ chặt chẽ và tham mưu cho chính quyền địa phương cấp xã, ấp nắm chắc diễn
biến tài nguyên rừng và đất Lâm nghiệp [10].
PHẦN 3
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu
- Xác định thực trạng quản lý bảo vệ và phát triển rừng của Hạt kiểm lâm
huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang trong những năm qua, giai đoạn từ 2007 – 2012.
- Phân tích những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức của cơ sở nhằm
định hướng cho việc đề xuất các giải pháp.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả công tác
quản lý bảo vệ và phát triển rừng ở hạt kiểm lâm huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
3.2. Nội dung nghiên cứu
3.2.1. Điều tra cơ bản của khu vực nghiên cứu
14
- Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, địa hình, đất đai, khí hậu, tình hình thủy
văn, tài nguyên sinh vật rừng.
- Điều kiện kinh tế và xã hội, tình hình sản xuất nông – lâm nghiệp, dân số,
lao động, việc làm, thu nhập, giáo dục, y tế…
3.2.2. Thực trạng quản lý và sử dụng quỹ đất trên địa bàn huyện
3.2.3. Tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của hạt kiểm lâm
huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang

quá trình nghiên cứu như: họp xã, phỏng vấn bán cấu trúc, họp nhóm, xâm nhập
thực tế.
- Phỏng vấn sâu cán bộ và người dân: thu thập các thông tin chuyên sâu về
các tác động của người dân vào rừng cũng như công tác quản lý bảo tồn tài
nguyên rừng trong những năm qua thông qua các cán bộ và người dân có vai trò
ở địa phương và các cơ quan liên quan.
3.3.2. Phương pháp xử lý số liệu
- Các số liệu thu thập từ nguồn thứ cấp được tổng hợp, chọn lọc và phân
tích dựa trên các nội dung cần thiết của đề tài nghiên cứu.
- Các thông tin và số liệu thu thập từ việc phỏng vấn những người nòng cốt
được chọn lọc, kiểm tra chéo, xử lý và phân tích nhằm phục vụ cho việc phân
tích và giải thích các sự kiện, kết quả nghiên cứu. Việc xử lý và thể hiện các dữ
liệu này nặng về hướng định tính.
- Các số liệu thu thập từ việc phỏng vấn những người nòng cốt/ liên quan,
hộ gia đình sẽ được phân loại và xử lý theo hình thức thống kê mô tả dưới sự hỗ
trợ của phần mềm Excel/ SPSS.
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Kết quả điều tra cơ bản về huyện Tri Tôn
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
16
Huyện Tri Tôn có tọa độ địa lý là 10
0
33’ vĩ độ Bắc và 105
0
08’ kinh độ
đông, là một huyện miền núi, biên giới nằm ở phía Tây nam tỉnh An Giang.
Cách trung tâm tỉnh lỵ 50km.
Bản đồ 4.1. Bản đồ vị trí địa lý huyện Tri Tôn

Tức, Cô Tô, Tà Đảnh, Tân Tuyến, Núi Tô, Ô Lâm và thị trấn Tri Tôn.
- Nhóm đất cát núi: với diện tích 7.946,00 ha chiếm 13,23% diện tích toàn
huyện, là loại đất có dinh dưỡng kém. Hiện các đồi núi đã che phủ tương đối kín
với rừng trồng và cây lâu năm, góp phần hạn chế rửa trôi và tái tạo lại các nguồn
nước suối.
- Nhóm đất than bùn: chỉ có một loại đất than bùn chứa phèn tiềm tàng với
diện tích 554,74 ha chiếm 0,92% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ở xã Vĩnh
Phước, Lạc Quới với lớp than bùn dày phổ biến từ 50cm trở lên chứa hàm lượng
lớn sét và lưu huỳnh.
4.1.1.4. Khí hậu
- Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình năm trên phạm vi toàn huyện là 27,7
0
C nhiệt độ bình
quân tháng cao nhất là 29,6
0
C (tháng 4) và nhiệt độ bình quân tháng thấp nhất
25,4
0
C (tháng 1).
- Nắng: Tri Tôn nằm trong vùng giàu ánh sáng tổng số giờ nắng trong
năm 2.241,5 giờ, cao nhất là 238,5 giờ vào tháng 1 và thấp nhất là 144,3 giờ vào
tháng 7 hằng năm.
- Lượng bốc hơi và độ ẩm không khí
+ Lượng bốc hơi bình quân hàng năm khá lớn đạt từ 1.200mm –
1.300mm/năm. Tháng 3 và tháng 4 có lượng bốc hơi lớn nhất (trên
160mm/tháng), tháng 9 và tháng 10 có lượng bốc hơi tương đối nhỏ (khoảng
80mm/tháng).
18
+ Độ ẩm không khí biến đổi theo mùa, độ ẩm bình quân các tháng trong

phát triển rừng trồng.
19
4.1.2. Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội
4.1.2.1. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
- Dân số
Năm 2010, dân số toàn huyện Tri Tôn là 132.625 người, mật độ dân số
trung bình 221 người/Km
2
. Dân số thành thị có số lượng ít hơn với 30.955 người
chiếm 23,34%, dân số nông thôn là 101.670 người chiếm 76,66%. Tổng số hộ
trên địa bàn huyện là 32.675 hộ, trong đó số hộ dân tộc Khmer là 11.020 hộ,
chiếm 33,72%.
Về cơ cấu dân số, tỷ lệ cơ cấu nam – nữ hiện nay là 1:1,06, với nam là
65.787 người (49,60%) và nữ là 66.838 người (50,40%). Trong cộng đồng dân
tộc Khmer cũng có tỷ lệ cơ cấu nam – nữ là 1:1,09
- Lao động, việc làm và thu nhập
Theo số liệu báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện
Tri Tôn đến năm 2020 thì tổng số người trong độ tuổi lao động của huyện là
80.473 người, chiếm 60,67% dân số của toàn huyện. Trong đó số người trong độ
tuổi lao động thuộc khu vực I (khu vực nông nghiệp) chiếm 66%, khu vực II
(khu vực công nghiệp – xây dựng) chiếm 7,9% và khu vực III (khu vực dịch vụ)
chiếm 26,1%. Tỷ lệ số lao động được đào tạo còn thấp, chỉ đạt 7,42% (năm
2000) lên 13,2% (năm 2008), năm 2010 đạt khoảng 17,3%.
Nhìn chung những năm qua 2000 – 2010 nền kinh tế huyện mặt dù đã có
nhiều khởi sắc nhưng vì xuất phát điểm là một huyện nghèo miền núi nên so với
các huyện khác trong tỉnh thì đời sống vật chất của người dân Tri Tôn vẫn còn ở
mức thấp. Thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 874 USD/năm, vẫn còn sự
chênh lệch khá lớn giữa đô thị và nông thôn. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 16,29%
so tổng số hộ của huyện (theo tiêu chí mới). Tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 88,30%,
số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh chiếm 50,30%. Số hộ có nhà xây dựng kiên cố

đất rừng đặc dụng là 200 ha (chiếm 2,51%).
Nhìn chung diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện tăng trưởng ổn
định và sẽ duy trì ổn định trong giai đoạn tới. Chủ yếu là diện tích đất rừng sản
xuất tăng từ 1.752 ha vào năm 2000, lên 2.771,37 ha vào năm 2005 và đến năm
2010 đạt 3.926,25 ha. Diện tích đất rừng phòng hộ trên địa bàn huyện bình ổn
qua các thời kỳ. Còn diện tích rừng đặc dụng thì đến 2010 mới được trồng với
diện tích là 200 ha.
- Lĩnh vực thủy sản
Diện tích nuôi trông thủy sản trên địa bàn huyện không lớn và phát triển
cũng không ổn định: năm 2000, 28,85 ha – sản lượng 107,64 tấn; năm 2005,
34,86 ha – sản lượng 583 tấn. Đến năm 2010 có 24,30 ha với 22 lồng bè, sản
21
lượng đạt khoảng 501,2 tấn, giảm 1,16 lần so với 2005. Diện tích nuôi trồng
thủy sản của huyện rất nhỏ chỉ chiếm 2% toàn tỉnh và sản lượng chiếm khoảng
1,4% toàn tỉnh, chủ yếu là nuôi cá.
Nhìn chung việc phát triển nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện gặp
nhiều hạn chế do vị trí nằm xa sông Hậu, chịu ảnh hưởng địa hình và hạn chế
môi trường nước. Nếu mở rộng nuôi trồng thủy sản sẽ gây ô nhiễm lớn môi
trường nước vốn đang khan hiếm trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, về tương lai
huyện cũng đã quy hoạch 2 vùng nuôi trồng thủy sản chính và đã trình Ủy ban
nhân dân tỉnh phê duyệt: là lưu vực kênh Vĩnh Tế - T5 và lưu vực kênh 10 -13,
diện tích 2 vùng này khoảng 200 ha.
4.1.2.3. Tình hình văn hóa - xã hội
- Giáo dục
Mầm non: Năm 2010 có 9 trường mầm non và mẫu giáo (chưa có trường
nào đạt chuẩn quốc gia). Đa số các trường lớp Mầm non chỉ tập trung ngay tại
trung tâm xã, thị trấn. Nhiều thôn, ấp, phum sóc chưa có lớp mẫu giáo hoặc
điểm giữ trẻ.
Tiểu học: Năm 2010 toàn huyện có 32 trường, nhiều nhất là thị trấn Ba
Chúc với 4 điểm trường, có 31/32 trường đạt mức chất lượng tối thiểu.

mạnh. Tính đến năm 2010 toàn huyện có 27.016 hộ/32.720 hộ đạt gia đình văn
hóa (trong đó có 10.044 hộ Khmer); 75/79 khóm, ấp văn hóa; 179 cơ quan có
đời sống văn hóa tốt; 18/36 chùa Khmer đạt chuẩn văn hóa.
+ Thể dục – thể thao
Về cơ sở thể dục – thể thao, trên địa bàn huyện Tri Tôn rất đa dạng với
nhiều loại hình sân tập, đáp ứng tốt nhu cầu rèn luyện thể chất của nhân dân.
Năm 2010 toàn huyện có 15 sân bóng đá phục vụ cho 172 đội, 68 sân bóng
chuyền phục vụ cho 112 đội và 4 sân quần vợt.
Tỷ lệ người tập luyện thể dục thể thao thường xuyên được duy trì, phát
triển tỷ lệ hộ đạt danh hiệu gia đình thể thao đạt 25% năm 2010; 100% số trường
đảm bảo giờ thể dục thể thao nội khóa; 75% số trường thực hiện giờ thể dục thể
thao ngoại khóa; 100% cán bộ, chiến sĩ quân đội đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân
thể; 95% đội bóng đá, bóng chuyền, việt dã,…hoạt động thường xuyên.
- Về kết cấu hạ tầng
+ Giao thông đường bộ
Quốc lộ N1: Đoạn qua huyện Tri Tôn dài 13km (02 xã Lạc Qưới – Vĩnh
Gia) trên đoạn Quốc Lộ N1 nối Quốc Lộ 91 tại Tịnh Biên đi Kiên Giang, do
Trung ương đầu tư đạt chuẩn cấp IV (nền 9m, mặt 6m), hiện đã hoàn thành và
đưa vào sử dụng.
23
Đường tỉnh: Các tuyến đường tỉnh đi qua huyện Tri Tôn bao gồm: Tỉnh
Lộ 941, Tỉnh Lộ 943, Tỉnh Lộ 948, Tỉnh Lộ 955B, Đường Tri Tôn – Vàm Rầy.
Các tuyến đường này hiện đạt tiêu chuẩn cấp IV – V (nền đường rộng 9m,
mặt đường rộng 5,5 – 6m), 100% mặt đường nhựa nhưng đã xuống cấp nghiêm
trọng (ngoại trừ tuyến Tỉnh Lộ 941 vừa được nâng cấp).
Tổng số 15 cầu (có 09 cầu bê tông cốt thép dài 520m, còn 06 cầu sắt tạm
dài 177m).
Đường huyện (dự kiến có 15 tuyến): Tuyến Kinh Mới, Tuyến Hương lộ
17, Tuyến cập Kênh 13, Tuyến cập Kênh 10, Tuyến Ba Chúc – Sóc Tức.
Các tuyến đường huyện chỉ là đường cấp VI (nền đường 5 – 7m, mặt

+ Cấp điện
Trên địa bàn huyện năm 2010 có 235 trạm biến áp với 8.636m đường dây
trung thế và 230.103m đường dây hạ thế, tổng công suất là 8.680 KW.
Năm 2010 huyện đã cơ bản hoàn chỉnh việc phủ điện lưới quốc gia 15/15
xã, thị trấn và tiếp tục nâng cấp các trạm biến áp, thay thế các đường dây trung,
hạ thế. Đảm bảo phục vụ ngày càng một tốt hơn nhu cầu sinh hoạt và sản xuất
của nhân dân. Tỷ lệ hộ sử dụng điện trên địa bàn huyện tính đến cuối năm 2010
khoảng 82%.
+ Cấp thoát nước
Hiện năm 2010 trên địa bàn huyện chỉ có thị trấn Tri Tôn có hệ thống
thoát nước mưa, nhưng do xây dựng đã lâu nên bị xuống cấp không đảm bảo
khả năng thoát nước tốt.
Trên địa bàn huyện không có hệ thống thoát nươc bẩn. Việc thoát nước
của người dân và công ty, xí nghiệp, cơ sở sản xuất,…đều được thoát trực tiếp ra
ao hầm, kênh – rạch.
Phát thanh truyền hình: hiện nay có 15/15 xã trên địa bàn huyện đã có đài
truyền thanh. Hiện ngày đài truyền thanh phát 3 buổi bằng 2 thứ tiếng là tiếng
Khmer và tiếng Việt, tiếp âm đài tỉnh, đài Trung ương. Trạm phát lại truyền
hình VTV1, VTV3 hàng ngày 12 giờ cho cụm 5 xã: Tri Tôn, Núi Tô, Châu
Lăng, Tà Đảnh, 1 phần Lương Phi và Lương An Trà.
+ Bưu chính, viễn thông
25

Trích đoạn Công tác quản lý nương rẫy và hoạt động sản xuất kinh doanh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status