Đánh giá công tác quản lý bảo vệ rừng ở lâm trường bồng lai, huyện bố trạch, tỉnh quảng bình - Pdf 28

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “Rừng là vàng nếu ta biết bảo vệ, xây dựng
thì rừng rất quý”. Rừng là tài nguyên vô cùng quan trọng đối với đời sống con
người, rừng có vai trò rất lớn trong việc cải tạo môi trường sống, phòng hộ
chắn gió, chắn cát, chắn sóng, giữ đất, giữ nước, điều hòa dòng chảy, cung
cấp gỗ củi, các loại dược liệu, lâm đặc sản, cung cấp nguyên vật liệu cho một
số ngành công nghiệp góp phần phát triển nền kinh tế quốc dân đem lại nhiều
lợi ích cho con người, những lợi ích mà tài nguyên rừng mang lại là vô cùng
to lớn và không thể đo đếm hết được vai trò của nó. Vì vậy, công tác quản lý
bảo vệ và phát triển rừng hiện nay đang được Đảng và nhà nước đặc biệt quan
tâm.
Trong những năm qua để làm tốt công tác quản lý và bảo vệ rừng, nhà
nước ta đã ban hành nhiều chủ trương chính sách, văn bản quy phạm pháp
luật quy định trong lĩnh vực thi hành pháp lệnh quản lý, bảo vệ và phát triển
rừng, đặc biệt là chủ trương xã hội hóa nghề rừng nhằm huy động mọi nguồn
lực trong xã hội để bảo vệ phát triển rừng. Nhà nước cũng đã đầu tư kinh phí
phát triển vốn rừng, thành lập các khu bảo tồn và khuyến khích mọi tổ chức,
cá nhân trong và ngoài nước trong hoạt động trồng rừng phủ xanh đất trống
đồi núi trọc, khoanh nuôi bảo vệ, xúc tiến tái sinh rừng. Những hoạt động này
có ý nghĩa hết sức quan trọng về kinh tế, khoa học môi trường sinh thái và an
ninh quốc phòng Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan
như lực lượng quản lý bảo vệ rừng quá mỏng, thiếu kinh phí đầu tư, các chính
sách quản lý bảo vệ rừng còn chưa mạnh nên tình trạng xâm hại đến tài
nguyên rừng ở một số nơi xảy ra nghiêm trọng, làm cho diện tích rừng ngày
càng bị thu hẹp, trữ lượng và chất lượng rừng giảm sút. Nhiều loài động thực
vật khai thác quá mức làm suy giảm tính đa dạng sinh học, vai trò của rừng và
số loài có nguy cơ tuyệt chủng có nguy cơ tăng lên. Do đó, công tác quản lý
bảo vệ và phát triển rừng cần được quan tâm đúng mức.
Quảng Bình là một tỉnh nằm ở duyên hải miền Trung. Diện tích rừng tự
nhiên toàn tỉnh rất lớn (chiếm 62,09% tổng diện tích tự nhiên) và 70% dân số

2.1. Cơ sở lý luận
Rừng là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, là tài nguyên quý
của mỗi quốc gia, rừng là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo, có giá trị to
lớn nhiều mặt đối với nền kinh tế quốc dân, văn hóa cộng đồng, du lịch sinh
thái, nghiên cứu khoa học, an ninh quốc gia và chất lượng cuộc sống của đất
nước. Việc bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng là trách nhiệm và nghĩa vụ
của các cấp, các ban ngành và toàn xã hội.
Bảo vệ rừng là vấn đề của toàn xã hội, trên cơ sở phối hợp giữa các lực
lượng Kiểm lâm, công an, quân đội và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách
của các chủ rừng. Cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành trong
nước và liên kết giữa các quốc gia. Việt Nam là một nước nhận thức đúng đắn
tầm quan trọng của vấn đề này, nên ngoài hệ thống chính sách pháp luật được
ban hành, đã tham gia công ước về buôn bán quốc tế về các loại động vật
hoang dã nguy cấp (Công ước CITES ) và trở thanh thành viên chính thức thứ
121 vào ngày 20/10/1994. Ký công ước đa dạng sinh học vào ngày
16/11/1994. Ngoài ra còn nhiều tổ chức quốc tế khác.
Tuy nhiên, trong thực tế của nhiều năm, thì tình hình tài nguyên rừng
không chỉ ở Việt Nam mà con trên thế giới có xu hướng giảm mạnh. Hàng
năm ở trên thế giới, trong khu vực và ở trong nước tình trạng khai thác rừng
bừa bãi, lấn chiếm rừng làm nương rẫy, săn bắt trái phép động vật hoang dã
và đặc biệt nạn cháy rừng thường xuyên đe dọa làm giảm tài nguyên rừng rất
lớn, chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ và phát triển rừng một cách bền vững.
Theo thống kê của FAO, năm 2003 thì tài nguyên rừng trên thế giới bị suy
thoái nghiêm trọng, trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX mỗi năm có khoảng
0,30% diện tích rừng bị chuyển sang mục đích sử dụng khác, hàng năm mất
khoảng 0,22% rừng tự nhiên. Đối với những nước nhiệt đới theo Trexler.M.C
và Haugen.C, năm 1994 ở Châu Á suy thoái rừng 2 triệu ha/năm, vào năm
1998 là 3,9 triệu ha/ năm.
3
Việt Nam trải qua một thời gian dài do chiến tranh tàn phá cũng như các

về Quy chế quản lý rừng;
4
- Chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 08/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc
tăng cường các biện pháp cấp bách ngăn chặn tình trạng chặt phá, đốt rừng,
khai thác rừng trái phép;
- Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/01/1999 của Chính phủ về giao đất,
cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định
lâu dài vào mục đích lâm nghiệp;
- Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của của Thủ tướng Chính phủ
về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm;
- Nghị định số 09/2006/NĐ-CP ngày 16/01/2006 của Chính phủ về phòng
cháy và chữa cháy rừng;
- Nghị định số 119/NĐ-CP ngày 16/10/2006 của Chính phủ về tổ chức và
hoạt động của Kiểm lâm;
- Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính Phủ quy định xử
phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và
quản lý lâm sản;
- Thông tư số 56/1999/TT/BNN-KL ngày 30/3/1999 của Bộ Nông nghiệp &
PTNT về hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ rừng và phát triển rừng trong
cộng đồng dân cư, làng, thôn, bản ấp;
- Quyết định số 202/TTg ngày 02/5/1994 của Thủ tướng chính phủ quy định
về việc khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng rừng;
- Quyết định số 245/1998/QĐ-TTg ngày 21/12/1998 của Thủ tướng Chính
phủ về việc thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và
đất lâm nghiệp;
- Quyết định 105/2000/QĐ -BNN-KL ngày 17/ 11/ 2000 của Bộ Nông nghiệp
& PTNT về nhiệm vụ công chức kiểm lâm địa bàn;
- Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ
về phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 -
2020;

đất trồng trọt do nạn phá rừng nên tình trạng xói mòn đất đai, sa mạc hóa
ngày càng xảy ra nghiêm trọng. Hiện nay có 875 triệu người phải sống ở vùng
sa mạc và mất 26 tỷ đô la giá trị sản phẩm mỗi năm do xói mòn, hàng năm
trên thế giới mất đi 12 tỷ tấn đất, so với lượng này có thể sản xuất ra khoảng
50 triệu tấn lương thực mỗi năm, hàng ngày hồ chứa nước ở vùng nhiệt đới
6
đang bị cạn dần, tuổi thọ của nhiều công trình thủy điện ở vùng nhiệt đới bị
rút ngắn.
Tình trạng mất rừng trên thế giới ở nhiều quốc gia, chính là việc quản lý
bảo vệ rừng thường theo một chiều từ trên xuống, chưa đảm bảo quyền lợi và
nghĩa vụ của người dân. Do quản lý bằng các hệ thống chính sách của Nhà
nước chưa nghĩ tới vấn đề lấy người dân làm gốc hay chiều từ dưới lên. Song
hơn thập kỷ qua vấn đề quản lý bảo vệ rừng đã có những chuyển biến, nhiều
công trình đã đi sâu vào nghiên cứu vấn đề này.
2.3.2. Tình hình trong nước
Ở Việt Nam lĩnh vực quản lý bảo vệ tài nguyên rừng đã và đang được
chú trọng, chú trọng hơn là vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái, nghĩa là sử
dụng lâu bền đất đai và môi trường, điều này càng trở nên quan trọng hơn đối
với các vùng núi ở Việt Nam, nơi có hệ sinh thái mong manh, đất đai kém phì
nhiêu, thực bì bị tàn phá nặng nề và là nơi nghèo nhất trong cộng đồng nông
thôn nước ta.
Ở nước ta tình trạng mất rừng vẫn diễn ra trong những năm qua mà
nguyên nhân chính là: sức ép về dân số, lương thực, đất canh tác, kinh tế và
đặc biệt là chiến tranh kéo dài đã tàn phá rất nhiều diện tích rừng dẫn đến suy
giảm nghiêm trọng rừng cả về số lượng lẫn chất lượng. Cụ thể là tỷ lệ che phủ
của rừng 43,3% vào năm 1943 xuống còn 33,8% vào năm 1976 và chỉ còn
28,6% vào năm 1995, sự suy giảm không chỉ về trữ lượng gỗ mà kéo theo sự
suy giảm về tính đa dạng sinh học, giảm khả năng bảo vệ đất và nguồn nước của
rừng, công việc làm ăn, các công việc khác của dân. Trong thời kỳ này, toàn bộ
rừng và đất rừng thuộc quyền quản lý của Nhà nước, trên danh nghĩa rừng của toàn

góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông thôn miền núi.
8
PHẦN 3
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu
Đánh giá công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng của lâm trường Bồng
Lai, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
bảo vệ tài nguyên rừng tại địa bàn nghiên cứu.
3.2. Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội trên địa bàn;
- Nghiên cứu tình hình cơ bản và một số hoạt động chủ yếu trong công tác
quản lý bảo vệ và phát triển rừng của lâm trường Bồng Lai;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ tài nguyên
rừng trên địa bàn.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm đạt được những mục tiêu và các nội dung nghiên cứu đã đặt ra,
các phương pháp nghiên cứu sau sẽ được áp dụng:
3.3.1. Thu thập số liệu thứ cấp
- Những tài liệu về điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội tại địa bàn nghiên cứu:
số liệu thu thập từ các báo cáo và niên giám thống kê huyện Bố Trạch;
- Hồ sơ tài liệu về công tác quản lý bảo vệ rừng của trên địa bàn;
- Phỏng vấn các đối tượng có liên quan đến quản lý bảo vệ rừng và xử phạt vi
pham hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng (Phỏng vấn bán cấu
trúc).
3.3.2. Phương pháp xử lý số liệu
Tổng hợp, thống kê các số liệu, thông tin thu thập được và đánh giá,
phân tích các thông tin trên phần mềm Excell.
9
PHẦN 4

- Chủ yếu kiểu địa hình núi đất, ít bị chia cắt, độ dốc bình quân khoảng 22
o
.
10
4.1.1.3. Khí tượng - thủy văn
Lâm trường Bồng Lai nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu
nhiệt đới gió mùa đặc trưng của miền Bắc và chịu ảnh hưởng của gió mùa
Tây Nam, với những đặc trưng cơ bản sau:
- Khí hậu có hai mùa rõ rệt:
+ Mùa khô kéo dài từ tháng 3 đến tháng 8, mùa này nắng nóng và khô
hạn, nhiệt độ có khi lên đến 39 - 41
o
C, gió Lào thịnh hành ảnh hưởng không
nhỏ đến sự sinh trưởng và phát triển của cây rừng.
+ Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, mùa này thường có mưa lớn
và lũ lụt, gió mùa Đông Bắc kèm theo không khí lạnh, nhiệt độ có khi xuống
thấp 8 - 10
o
C, rét hại làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển đến các loại
cây trồng khác.
- Chế độ nhiệt:
+ Nhiệt độ trung bình năm 24,2
o
C
+ Nhiệt độ cao nhất 40-41
o
C
+ Nhiệt độ thấp nhất 8
o
C

tổng số dân của 6 xã vùng ven lâm phận là 34.373 người với 7.402 hộ, chiếm
19,64% dân số huyện; Mật độ dân số 84,42 người/km
2
. Trong đó:
- Dân tộc Kinh có 34.239 người, chiếm 99,61%, phân bố vùng ven phía ngoài
lâm phận. Người Kinh chủ yếu canh tác lúa nước trồng cây lương thực, trồng
cây công nghiệp.
- Dân tộc Vân Kiều có 134 người, chiếm 0,39%, họ sống ở bản Rào con lọt
vào giữa lâm phận. Đồng bào dân tộc sống dựa vào canh tác nương rẫy và
phụ thuộc vào rừng.
- Tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm có xu hướng giảm, năm 2005 là 10,40%
nhưng đến 2006 giảm xuống còn 10,17%.
4.1.2.2. Lao động
Trong vùng hiện có trên 20.000 lao động, chủ yếu lao động trong vùng ở
lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp không ổn định, lao động sản xuất mang tính
mùa vụ. Vào mùa nông nhàn họ lại vào rừng để cải thiện đời sống là nguyên
nhân gây ảnh hưởng đến độ che phủ rừng của lâm trường.
4.1.2.3 Giao thông vận tải
Hệ thống giao thông đường bộ trong khu vực có các tuyến đường chính
là tỉnh lộ 2 từ Hoàn Lão đi Sơn Trạch, tỉnh lộ 20, đường Hồ Chí Minh, sông
Bồng Lai đổ về gặp sông Son thuận lợi cho việc vận chuyển lâm sản vào mùa
mưa.
12
Trong những năm qua mạng lưới giao thông liên thôn, liên xã đã được
đầu tư xây dựng mở mang cải thiện đáng kể, hiện nay 6/6 xã đã có đường ô tô
tới trụ sở UBND. Tuy nhiên các tuyến đường này là đường cấp phối chất
lượng xấu gây khó khăn cho việc đi lại vào mùa mưa.
4.1.2.4 Kinh tế - xã hội
Người dân trong khu vực sản xuất nông nghiệp là chính nên đời sống
dân cư nhìn chung còn thấp. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ

TT Loại đất đai Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
1 Đất lâm nghiệp 12.427,0 99,47
1.1 Đất có rừng 11.203,8 89,68
+ Rừng tự nhiên 10.545,8 84,42
+ Rừng trồng 658,0 5,27
1.2 Đất chưa có rừng 1.223,2 9,79
+ Kiểu IA 85,3 0,68
+ Kiểu IB 41,6 0,33
+ Kiểu IC 1.096,3 8,78
2 Đất nông nghiệp 9,5 0,08
3 Đất khác 56,3 0,45
Tổng 12.492,8 100
(Nguồn: Tổng hợp số liệu năm 2014)
Qua bảng trên ta thấy đất lâm nghiệp chiếm 99,47% diện tích đất của
Lâm trường, trong đó đất có rừng chiếm 90,16%, còn đất chưa có rừng chiếm
9,84%.
- Đất nông nghiệp và đất khác có 65,8 ha; chiếm 0,53% diện tích.
+ Đất nông nghiệp: 9,5 ha, đây là diện tích trước đây người dân xâm
canh sản xuất nông nghiệp, nay chủ yếu bỏ hoang làm bải chăn thả gia súc.
+ Đất khác: 56,3 ha; bao gồm sông suối ao hồ, đường giao thông phục
vụ sản xuất và dân sinh.
14
Hình 1: Tỷ lệ hiện trạng đất đai của Lâm trường Bồng Lai
- Diện tích đất chưa có rừng có 1.223,2 ha, chiếm 9,84% diện tích, phân bố
chủ yếu các vùng đan xen giữa vùng núi và vùng đồi, gồm các trạng thái rừng
chủ yếu:
+ Đất trống trảng cỏ (IA): có 85,3 ha; thực bì chủ yếu là cỏ, lau lách.
+ Đất trống cây bụi rải rác (IB): Có41,6 ha; thực bì chủ yếu là Sim, Mua,
Thầu tấu, Thành ngạch, lác đác có cây gỗ tái sinh.
+ Đất trống có cây gỗ rải rác (IC): Có 1.096,3 ha; thực bì chủ yếu là dây

1 Rừng tự nhiên 10.545,8 983.854 94,13
- Rừng giàu (IIIA
3
) 1.950,1 345.167 17,41
- Rừng trung bình (IIIA
2
) 2.291,1 242.856 20,45
- Rừng nghèo (IIIA
1
) 3.383,7 267.312 30,20
- Rừng phục hồi (IIA, IIB) 2.920,9 128.519 26,07
2 Rừng trồng 658.0 - 5,87
Tổng 11.203,8 983.854 100
(Nguồn: Tổng hợp số liệu năm 2014)
16
Diện tích rừng tự nhiên chiếm 94,13% diện tích rừng của Lâm trường,
trong đó: Rừng giàu và rừng trung bình chiếm 40,22% diện tích rừng tự nhiên
và 59,77% tổng trữ lượng rừng tự nhiên
Rừng nghèo, rừng phục hồi chiếm 59,78% diện tích rừng tự nhiên, rừng
ở đây có cấu trúc và chất lượng chưa đáp ứng được mục tiêu kinh doanh, vì
vậy trong thời gian tới cần tăng cường công tác quản lý bảo vệ.
Từ số liệu ở bảng trên có thể nhận thấy đặc điểm tình hình tài nguyên
rừng ở khu vực như sau:
- Rừng giàu: 1.950,1 ha; trạng thái rừng chủ yếu IIIA
3
với trữ lượng 345.167
m
3
, có trữ lượng bình quân 177 m
3

nuôi, phục hồi rừng.
- Rừng trồng: 658 ha, là rừng chưa có trữ lượng. Loài cây trồng chủ yếu
Thông nhựa, các loài Keo, hầu hết rừng mới trồng đang trong thời kỳ xây
dựng cơ bản.
Lâm trường Bồng Lai còn có một lượng lâm sản ngoài gỗ khá lớn, bao
gồm Song mây, Lá nón và Tre nứa.
17
4.3. Cơ cấu tổ chức của lâm trường
Hiện nay Lâm trường Bồng Lai đang quản lý 12.492,8 ha, chiếm 5,88%
diện tích tự nhiên của huyện Bố Trạch thuộc địa bàn các xã Sơn Trạch, Hưng
Trạch, Cự Nẫm, Phú Định, Tây Trạch và Tân Trạch. Về cơ cấu tổ chức, hiện
nay Lâm trường Bồng Lai trực thuộc Công ty Lâm công nghiệp Bắc Quảng
Bình. Ban Giám đốc của Lâm trường Bồng Lai quản lý trực tiếp hai phòng
chức năng và hai đội sản xuất và quản lý bảo vệ rừng.
Sơ đồ 1: Hệ thống tổ chức, quản lý và điều hành sản xuất của Lâm trường
- Chức năng, nhiệm vụ của Ban Giám đốc và các đơn vị trực thuộc được phân
đinh rõ để thực hiện nhiệm vụ chung của công ty như sau:
+ Ban Giám đốc chịu trách nhiệm quản lý, điều hành và theo dõi các
hoạt động của Lâm trường. Chịu trách nhiệm trước Công ty Lâm công nghiệp
Bắc Quảng Bình và cơ quan Nhà nước về pháp luật và toàn bộ các hoạt động
18
Công ty Lâm công nghiệp
Bắc Quảng Bình
Ban Giám đốc Lâm trường
Bồng Lai
Phòng Kế hoạch - kỹ thuật
Phòng Kế toán - hành chính

19
vực liên quan, điều hành đơn vị hoàn thành tốt các nhiệm vụ mà Công ty Lâm
công nghiệp Bắc Quảng Bình giao và kế hoạch lâm trường đề ra.
- Diện tích rừng của lâm trường được chia thành 02 vùng và giao cho hai đội
sản xuất và quản lý bảo vệ rừng quản lý.
+ Vùng 1: do Đội sản xuất và quản lý bảo vệ rừng số 1 có 7 người đảm
nhận. Diện tích quản lý gồm các khu vực Rào mạ, Rào con, thôn Bồng Lai 1,
2 của xã Hưng Trạch, các tiểu khu 248, 251, 252. Đội chia làm hai trạm có
nhiệm vụ tuần tra kiểm soát ngăn chặn các hành vi xâm hại đến rừng, thực
hiện công tác PCCCR và tuyên truyền phổ biến pháp luật bảo vệ rừng.
+ Vùng 2: do Đội sản xuất và quản lý bảo vệ rừng số 2 có 6 người đảm
nhận. Diện tích quản lý gồm các khu vực Nông trường, Khe tre, Khe túi, trạm
Hòa Trạch (cũ), các tiểu khu 249, 250, 255, 256. Đội có nhiệm vụ tuần tra
kiểm soát ngăn chặn các hành vi xâm hại đến rừng, thực hiện công tác
PCCCR và tuyên truyền phổ biến pháp luật bảo vệ rừng.
Lâm trường đã tăng cường kiểm tra đôn đốc các đội thường xuyên tuần
tra, canh gác các vùng trọng điểm và tổ chức lực lượng tổ cơ động, phối hợp
với trạm kiểm lâm địa bàn, địa phương xã để truy quét các đối tượng khai
thác lâm sản trái phép ở vùng trọng điểm. Các đội sản xuất và quản lý bảo vệ
rừng tổ chức củng cố lại địa bàn giao cho từng nhân viên bảo vệ, theo dõi việc
khai thác vận chuyển lâm sản trái phép và lấn chiếm đất đai, thực hiện báo
cáo định kỳ theo quy định của lâm trường.
Từ tình hình trên, để thực hiện tốt yêu cầu nhiệm vụ QLBVR, cần tiếp
tục thực hiện phương án khoán phụ trách quản lý bảo vệ lâm phần, địa bàn
đến từng công nhân bảo vệ rừng. Hợp tác với các lực lượng tại chỗ của địa
phương, cơ quan chức năng phối hợp truy quét, hỗ trợ PCCCR và bảo vệ
vòng ngoài.
- Ngoài ra, thực hiện phương án cơ cấu lại tổ chức sản xuất kinh doanh, lâm
trường còn hợp đồng thời vụ 33 người, trong đó:
+ Số lao động thực hiện theo Nghị định số 41/2002/NĐ-CP 27 người.

thành tốt nhiệm vụ được giao.
4.4. Tình hình quản lý khai thác, vận chuyển lâm sản trên địa bàn lâm
trường
4.4.1. Tình hình khai thác gỗ trái phép
Rừng tự nhiên được Lâm trường Bồng Lai quản lý, bảo vệ là hệ sinh thái
rừng mưa nhiệt đới, đa dạng về các loài thực vật. Có nhiều loài cây có giá trị
kinh tế như Táu, Sến, Giổi, De, Vàng tim, Trường mật, Gội,…và nhiều loài
động vật có giá trị kinh tế như Khỉ, Voọc, Vượn, Hổ mang,… Hệ thống giao
thông đường thủy, đường bộ thuận lợi cho việc khai thác, vận chuyển lâm
sản. Đây cũng là điều kiện cho việc tiến hành khai thác lâm sản trái phép.
Do lợi nhuận cao và tình hình kinh tế chung trong những năm gần đây
khó khăn nên trong thời gian từ năm 2012 đến 2014 tình hình vi phạm pháp
luật lâm nghiệp ở lâm trường rất phức tạp với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo
quyệt. Các vụ vi phạm thường xảy ra ở địa bàn rừng núi xa, địa hình dốc,
hiểm trở nên khó khăn cho công tác kiểm tra, ngăn chặn. Tang vật vi phạm
chủ yếu là các loại gỗ thường rất nặng, khối lượng lớn, cồng kềnh nên khó
vận chuyển về nơi tạm giữ. Giữa các đối tượng khai thác với lực lượng bảo vệ
rừng có sự chênh lệch về lực lượng, trang thiết bị và thông tin liên lạc nên khi
phát hiện bắt giữ thường bị chống trả lại lực lượng thi hành công vụ. Trên địa
bàn lâm trường hiện quản lý, những vùng hiện đang nóng về khai thác, vận
chuyển lâm sản trái phép là khu vực Rào mạ, Rào con, thôn Bồng Lai 1, Bồng
Lai 2 xã Hưng Trạch, khu vực Nông trường, Khe Tre, Khe Túi, trạm Hòa
Trạch (cũ),… Một số người dân các xã ven rừng lén lút khai thác gỗ có giá trị
kinh tế làm cho việc truy quét người vi phạm trong rừng gặp nhiều khó khăn
và hiệu quả không cao.
Lâm trường đã có nhiều nỗ lực, nhưng số vụ vi phạm do lực lượng bảo
vệ rừng bắt giữ, xử lý ít hơn so với số vụ vi phạm thực tế xảy ra. Với những
kết quả đạt được trong thời gian qua, về việc bắt giữ, xử lý các vụ vi phạm
lâm luật trên địa bàn đã góp phần quan trọng trong công tác quản lý bảo vệ
rừng trên địa bàn.

là các địa bàn mà công tác quản lý bảo vệ rừng rất khó khăn bởi vị trí xa xôi,
địa hình tương đối hiểm trở và ít dân cư, trong khi đó nguồn tài nguyên còn
23
giàu nên các đối tượng vi phạm tập trung vào địa bàn này khá đông. Đây cũng
là hai địa bàn mà có cả giao thông đường bộ lẫn giao thông đường thuỷ nên
thuận tiện cho việc vận chuyển lâm sản trái phép. Trong thời gian gần đây các
vụ vi phạm có chiều hướng mở rộng như một số vụ đã được phát hiện.
Bảng 6: Lâm sản vi phạm đã xử lý trên địa bàn
Năm Có chủ Không chủ thừa nhận
Số vụ (vụ) Khối lượng (m
3
) Số vụ (vụ) Khối lượng (m
3
)
2012 5 5,78 5 7,54
2013 7 7,53 9 10,40
2014 23 63,07 16 15,55
(Nguồn: Tổng hợp số liệu Lâm trường Bồng Lai năm 2014)
Qua số liệu ở bảng trên ta thấy khối lượng lâm sản vi phạm ngày càng
tăng cả về tổng khối lượng và khối lượng trung bình trên từng vụ. Nếu như
năm 2012, tổng khối lượng xử lý là 13,32 m
3
và trung bình một vụ vi phạm
1,33 m
3
gỗ thì đến năm 2014 tổng khối lượng xử lý là 78,62 m
3
gỗ (tăng
590,2% so với năm 2012) và trung bình một vụ vi phạm 2,02 m
3

Khướu,… đang bị đe dọa. Trong những năm gần đây, nền kinh tế ngày càng
phát triển nên nhu cầu tiêu thụ các món ăn đặc sản thịt động vật rừng của các
nhà hàng trên địa bàn tăng. Việc nuôi nhốt các động vật ngày càng phổ biến
và đặc biệt là việc mua bán, vận chuyển động vật hoang dã để bán ra nước
ngoài tiêu thụ nhằm kiếm lời, một số cá nhân và tổ chức bất chấp các quy
định của Nhà nước, không trừ bất kỳ thủ đoạn nào để tổ chức săn bắt, mua
bán, vận chuyển kinh doanh trái phép động vật hoang dã làm cho nguồn tài
25

Trích đoạn Tình hình khai thác và sản xuất kinh doanh Đánh giá và dề xuất các giải pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status