ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KỲ SƠN – TỈNH HÒA BÌNH GIAI ĐOẠN 2011 2015 - Pdf 36

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

BÁO CÁO
THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ SỬ DỤNG
ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KỲ SƠN – TỈNH HÒA BÌNH
GIAI ĐOẠN 2011 - 2015

Giáo Viên Hướng Dẫn
Họ Và Tên
Ngành
Lớp
Mã SV
Thời gian thực tập

: Th.S. Bùi Thị Cẩm Ngọc
: Nguyễn Quang Long
: Quản lý đất đai
: CĐ12QD4
: CD01200341
: 18/4/2016 – 13/5/2016

Hà Nội - 2016
1


LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin nói lời cảm ơn chân thành nhất tới cô giáo – Th.S . Bùi
Thị Cẩm Ngọc đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời

nhân. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các mối quan
hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đất đai ngày càng nóng bỏng phức tạp liên
quan trực tiếp tới lợi ích của từng đối tượng sử dụng đất. Các quan hệ đất đai
chuyển từ chỗ là quan hệ khai thác chinh phục tự nhiên chuyển thành các quan
hệ kinh tế xã hội về sở hữu và sử d ụng một loại tư liệu sản xuất đặc biệtquan
trọng. Để phù hợp với quá trình đổi mới kinh tế, Đảng và nhà nước luôn quan
tâm đến vấn đề đất đai và đã ban hành nhiều văn bản pháp luật đểquản lý đất
đai, điều chỉnh các mối quan hệ đất đai theo kịp với tình hình thực tế. Bên cạnh
đó Đảng và nhà nước luôn khuyến khích động viên các đối tượng sử dụng đất
đúng mục đích, tiết kiệm đạt hiệu quả cao theo pháp luật. Tuy vậy đất đai là sản
phẩm của tự nhiên và nó tham gia vào tất cả các hoạt động kinh tế xã hội do đó
các quan hệ đất đai luôn chứa đựng trong nó mhững vấn đề phức tạp, đòi hỏi
phải có sự giải quyết kịp thời đảm bảo đươc các lợi ích của người sử dụng đất.
Luật đất đai năm 2003 và bộ luật dân sự năm 2005 cũng đã có những quy định
đối với công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Nhưng sau khi luật đất đai năm
2013 ban hành đặc biệt là do tác động của cơ chế thị trường, công tác quản lý
nhà nước về đất đai vẫn còn bị buông lỏng chưa được quan tâm đúng mức.
Thêm vào đó, ý thức pháp luật và hiểu biết pháp luật đất đai của các đối tượng
sử dụng còn hạn chế dẫn đến những vi phạm pháp luật trong việc sử dụng đất
gây nhiều hậu quả xấu về mặt kinh tế xã hội. Đối với huyện Kỳ Sơn, là một
huyện miền núi gặp nhiều khó khăn về phát triển kinh tế xã hội , yêu cầu đặt ra
đối với công tác quản lý và sử dụng một cách hiệu quả đầy đủ, hợp lý đất đai
là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của huyệnđã và
4


đang được Đảng bộ và nhân dân huyện Kỳ Sơn quyết tâm thực hiện và đã đạt
được những kết quả không nhỏ, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã
hội của Kỳ Sơn. Để có thể đạt được mục tiêu mà huyện Kỳ Sơn đề ra cần phải
có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp chính quyền, các bộ ngành có liên quan. Vì

động đến quá trình khai thác sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả
nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế- xã hội của đất nước qua các thời kỳ.
Quản lý đất đai bằng quyền lực của nhà nước được thực hiện thông qua các
phương pháp và công cụ quản lý: Phương pháp hành chính; phương pháp kinh
tế; thông qua quy hoạch, kế hoạch trên cơ sở luật pháp.
1.2.Nội Dung Quản lý nhà nước về đất đai.
Để Xác định vai trò và nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước về đất
đai từ trung ương đến địa phương, tại điều 22 chương II luật đất đai 2013 Nước
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã nêu nội dung quản lý nhà nước về
đất đai:
1
2
a

Nhà Nước thống nhất 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai
15 Nội dụng quản lý nhà nước về đất đai bao gồm:
Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức

b

thực hiện các văn bản đó.
Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản

c

đồ hành chính.
Khảo sát, đo đạc, đánh giá phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện

d
e

Giải quyết trang chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong

m
n
o
3

việc quản lý và sử dụng đất đai;
Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai.
Xây dựng hệ thống thông tin đất đai
Nhà Nước có chính sách đầu tư cho việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà
nước về đất đai,xây dựng hệ thống quản lý đất đai hiện đại,đủ năng lực, đảm bảo
quản lý đất đai có hiệu lực và hiệu quả.
1.3. Cơ sở thực tiễn trong công tác quản lý Nhà Nước Về đất Đai.
1.3.1.Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1993.
-Cùng với lịch sử phát triển đất nước, công tác quản lý đất đai cũng dần
được hoàn thiện. Nội dung cơ bản của công tác quản lý đất đai được thể hiện
trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Hệ thống văn bản này cũng dần
được hoàn thiện, từ chỗ chỉ là những văn bản dưới luật, có cả những văn bản chỉ
quy định tạm thời đến chỗ Nhà nước ban hành Luật Đất đai 1987, rồi đến Luật
Đất đai 1993 và đến nay là Luật Đất đai 2003. Có thể chia nội dung cơ bản của
công tác quản lý đất đai từ năm 1945 đến nay thành 4 giai đoạn như sau :
-Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1987: Chưa có Luật đất đai;
-Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1993: Thực hiện theo Luật Đất đai 1987;
-Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003: Thực hiện theo Luật Đất đai 1993;
- Giai đoạn từ năm 2004 đến nay: Thực hiện theo Luật Đất đai 2003.
Những nội dung cơ bản của công tác quản lý nhà nước về đất đai ở
nước ta giai đoạn chưa có luật đất đai(từ 1945 đến 07-01-1998)
7

Thực hiện mục tiêu đánh đổ giai cấp địa chủ, phong kiến, thủ tiêu chế độ
tư hữu về ruộng đất, chia ruộng đất cho nông dân, ngày 4 tháng 12 năm 1953,
9


Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà thông qua Luật Cải cách ruộng đất.
Ngày 19/12/1953, Chủ tịch nước Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 179/SL ban hành
Luật Cải cách ruộng đất.
Thành quả của cuộc cải cách ruộng đất rất lớn, có thể tóm tắt như sau:
Đến tháng 7 năm 1956, công cuộc cải cách ruộng đất cơ bản đã được hoàn thành
ở miền Bắc; sở hữu ruộng đất của địa chủ, phong kiến bị thủ tiêu, các chứng thư
pháp lý cũ về ruộng đất bị huỷ bỏ; 72% số khẩu ở nông thôn được chia ruộng
đất.Số ruộng đất được chia cho nông dân ở miền Bắc là 810.000 ha. Trong đó,
ruộng đất của thực dân Pháp là 30.000 ha, của địa chủ là 380.000 ha, của nhà
chung là 24.000 ha, ruộng công và nửa công là 375.700 ha (Chu Văn Thỉnh,
2000). Sau cải cách ruộng đất, trên toàn miền Bắc chế độ sở hữu ruộng đất và
bóc lột phong kiến, thực dân đã được chuyển thành chế độ sở hữu ruộng đất cá
thể của nông dân.
Trong 3 năm khôi phục kinh tế sau khi lập lại hoà bình ở miền Bắc (19551957), Quốc hội nước ta đã ban hành một hệ thống 8 chính sách khuyến khích
sản xuất nông nghiệp, trong đó có những chính sách liên quan đến ruộng đất
như: khuyến khích khai hoang, phục hoá; khai hoang miễn thuế 5 năm, phục hoá
miễn thuế 3 năm; phần sản phẩm tăng do tăng vụ, tăng năng suất không phải
đóng thuế... Sản lượng lương thực tăng 57% so với năm 1939 (Nguyễn Sinh
Cúc, 2000).
Ngày 31 tháng 12 năm 1959, Quốc hội thông qua Hiến pháp 1959 đã xác
định 4 hình thức sở hữu đất đai là: sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu của
người lao động riêng lẻ sở hữu của nhà tư sản dân tộc (Điều 1 l).
Ngày 9 tháng 12 năm 1960, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số
71/CP ấn định công tác quản lý ruộng đất trong bối cảnh phong trào hợp tác hoá
nông nghiệp đã cơ bản hoàn thành, phần lớn diện tích đất canh tác được tập thể

Ngày 25 tháng 9 năm 1976, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số
188-CP về chính sách xoá bỏ triệt để tàn tích chiếm hữu ruộng đất và các hình
thức bóc lột thực dân, phong kiến ở miền Nam Việt Nam. Theo đó, Nhà nước
quốc hữu hoá các đồn điền và ruộng đất của các tư sản nước ngoài [43].

11


Có thể nói sau khi cơ bản hoàn thành phong trào hợp tác hoá nông nghiệp
(1965) đến trước khi thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất (1979), do cả nước
bận tập trung vào cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam nên công tác
quản lý đất đai bị buông lỏng, có nhiều văn bản dưới luật quy định tạm thời
nhưng chưa đủ mạnh và thực sự sát sao trong khâu kiểm tra, giám sát việc thực
hiện quản lý và sử dụng đất đai. Sau khi đất nước thống nhất và đi lên chủ nghĩa
xã hội, ở miền Nam cũng cải tạo nông nghiệp theo mô hình hợp tác hoá nông
nghiệp ở miền Bắc. Đến năm 1980, toàn miền Nam đã xây dựng được 1518 hợp
tác xã (trong đó có 1005 hợp tác xã bậc cao) và 9350 tập đoàn sản xuất nông
nghiệp (Nguyễn Sinh Cúc, 2000).
Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp thời kỳ 1976-1980 của cả nước rơi vào
khủng hoảng nghiêm trọng. Sản lượng lương thực cả nước bình quân 5 năm chỉ
đạt 13,3 triệu tấn/năm, lương thực bình quân đầu người chỉ còn 259,2 kg, năng
suất lúa bình quân một Vụ chỉ đạt 20,3 tạ!ha. Hàng năm Nhà nước phải nhập
thêm 1 triệu tấn lương thực...(Nguyễn Đức Khả, 2003).
Ngày 1 tháng 7 năm 1980, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số
201/CP về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý
ruộng đất trong cả nước (sau đây gọi tắt là Quyết định số 201/CP năm 1980)
[44].Có thể nói, đây là văn bản pháp quy đầu tiên quy định khá chi tiết, toàn
diện về công tác quản lý ruộng đất trong toàn quốc. Các nội dung cơ bản về
công tác quản lý ruộng đất trong Quyết định số 201/CP năm 1980 như sau:
-Toàn bộ ruộng đất trong cả nước đều do Nhà nước thống nhất quản lý

Ngày 10 tháng 11 năm 1980, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số
299/TTg về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống Kế ruộng đất trong cả
nước. Trong đó có nêu: "Để phục vụ kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ
ba (1981-1985) và kế hoạch dài hạn, đồng thời để nắm chắc diện tích và chất
lượng đất, xác định phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của người sử dụng đất,
phân loại, phân hạng đất canh tác trong từng đơn vị sử dụng, thực hiện thống
nhất quản lý ruộng đất trong cả nước, cần tiến hành công tác đo đạc, xây dựng
bản đồ phân loại đất, phân hạng đất canh tác và đăng ký thống Kế sử dụng đất
trên toàn bộ lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo từng đơn
13


vị hành chính trong từng cơ quan, tổ chức và cá nhân sử dụng đất Các cơ quan,
tổ chức và cá nhân sử dụng đất có nhiệm vụ chấp hành đúng mọi thủ tục về đăng
ký ruộng đất theo quy định của Tổng cục Quản lý ruộng đất" [44].
Ngày 18 tháng 12 năm 1980, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua Hiến pháp 1980. Theo đó, 4 hình thức sở hữu đất đai (sở
hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu của người lao động riêng lẻ, sở hữu của
nhà tư sản dân tộc) ở Hiến pháp 1959 được gộp làm một, đó là sở hữu toàn dân
(Điều 19) do Nhà nước thống nhất quản lý nên việc quản lý đất đai cần phải thay
đổi theo cho phù hợp.
Trước tình hình sản xuất nông nghiệp trong toàn quốc yếu kém, trì trệ
ngày 13 tháng 1 năm 1981, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị
số 100/CT-TW cải tiến công tác khoán, mở rộng "khoán sản phẩm đến nhóm và
người lao động" trong hợp tác xã nông nghiệp [44], đã mở ra một khả năng mới
cho người sử dụng đất, được quyền rộng rãi hơn, gắn bó hơn và thiết thực hơn
đối với ruộng đất.
Giai đoạn này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành một loạt các
chỉ thị nhằm điều chỉnh các quan hệ ruộng đất của người dân vùng nông thôn
như: Chỉ thị số 29-CT,rrw ngày 12 tháng 11 năm 1983 về việc đẩy mạnh giao

-Chương 4 (2 điều): Những quy định về chế độ sử dụng đất đối với tổ
chức,cá nhân nước ngoài,tổ chức quốc tế,tổ chức liên doanh,hợp tác xã của Việt
Nam và nước ngoài;
- Chương 5 (4 điều): Khen thưởng và kỷ luật;
-Chương 6 (2 điều): Điều khoản cuối cùng.
Luật Đất đai 1987 khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
nước thống nhất quản lý và vẫn giữ 7 nội dung quản lý nhà nước về đất đai nhưở
Quyết định số 201/CP năm 1980, nhưng có hoàn thiện hơn, đó là:
1-Điều tra, khảo sát, đo đạc, phân hạng đất và lập bản đồ địa chính;
2- Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất;
3- Quy định các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực
hiện các chế độ, thể lệ ấy;
4- Giao đất, thu hồi đất;
15


5-Đăng ký đất đai, lập và giữ sổ địa chính, thống Kế đất đai, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất;
6- Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất đai;
7- Giải quyết tranh chấp đất đai.
Luật Đất đai 1987 quy định phân chia toàn bộ quỹ đất đai của Việt Nam
thành 5 loại là: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư, đất chuyên
dùng,đất chưa sử dụng. Đây là văn bản luật đầu tiên điều chỉnh quan hệ đất đai,
bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước, giao đất ổn định lâu dài. Theo tinh thần của
Luật này thì:
-Kinh tế nông hộ đã được khôi phục và phát triển với tư cách là một đơn
vị kinh tế hàng hoá có quyền tự chủ với đầy đủ nghĩa vụ và lợi ích.
-Các hộ nông dân được giao ruộng đất để sử dụng lâu dài, nông hộ được
sử dụng tư liệu sản xuất theo khả năng, được tự chủ tổ chức lao động và thuê
thêm nhân công.

chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong bản quy định ban hành kèm theo Quyết
định này quy định vềđiều kiện, đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất [44].
Ngày 6 tháng 11 năm 1991 , Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Chỉ
thị số 364-CT về việc giải quyết những tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới
hành chính tỉnh, huyện, xã. Thực hiện Chỉ thị này, các địa phương đã tiến hành
xác định, cắm mốc địa giới hành chính và lập hồ sơ địa giới hành chính. Tiếp
theo, ngày 12 tháng 5 năm 1993, Cục trưởng Cục Đo đạc và Bản đồ nhà nước đã
ban hành Quyết định số 77-QĐ- CT quy định kỹ thuật thành lập và quản lý hồ
sơ địa giới hành chính các cấp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Theo đó, Ban chỉ đạo 364 của tỉnh phải lập phương án kinh tế - kỹ thuật thành
lập bản đồ địa giới hành chính các cấp của tỉnh [44].
Như vậy giai đoạn này, công tác quản lý đất đai đã bắt đầu đi vào nề nếp
và đặc biệt chú ý tới việc xác định, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính các
cấp địa phương.
1.3.2. Thời kỳ từ 1993 đến năm 2003.

17


-Sau giai đoạn bắt đầu đổi mới (từ 1986-1991), chúng ta vẫn còn thiếu
nhiều quy định và ngay cả hệ thống pháp luật đã ban hành cũng còn nhiều bất
cập, chưa đáp ứng được tình hình đổi mới của đất nước. Vì vậy, Hiến pháp 1992
ra đời, trong đó quy định: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân" (Điều 1 7), "Nhà
nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo
sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả" (Điều 18). Để phù hợp với giai đoạn
mới và thực hiện đổi mới toàn diện nền kinh tế, cụ thể hoá Hiến pháp năm 1992,
khắc phục những hạn chế của Luật Đất đai 1987, ngày 14 tháng 7 năm 1993,
Quốc hội khoá IX thông qua Luật Đất đai 1993.
Luật Đất đai 1993 gồm 89 điều, chia thành 7 chương như sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status