Đảng lãnh đạo quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ (1976-2006 - Pdf 25

0

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trƣờng đại học khoa học xã hội và nhân văn Nguyễn Anh Cƣờng ĐẢNG LÃNH ĐẠO QUÁ TRÌNH BÌNH THƢỜNG
HÓA VÀ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM
VỚI HOA KỲ (1976-2006) Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 62 22 56 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Xanh
Hà Nội – 2012
1

MỤC LỤC

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 178
TÀI LIỆU THAM KHẢO 179
2

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Vào cuối thập kỷ 1980 và đầu thập kỷ 1990, chủ nghĩa xã hội hiện thực
ở các nƣớc Đông Âu và Liên Xô dần tan rã và sụp đổ. Trật tự hai cực Xô -
Mỹ kết thúc, một trật tự thế giới mới đang hình thành. Bên cạnh đó cách
mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao,
lực lƣợng sản xuất tăng nhanh, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền kinh tế và đời sống xã hội. Chủ nghĩa xã
hội lâm vào thoái trào, trật tự quốc tế thay đổi căn bản theo hƣớng bất lợi cho
chủ nghĩa xã hội. Toàn cầu hoá kinh tế trở thành một đòi hỏi khách quan lôi
cuốn ngày càng nhiều nƣớc tham gia nhƣng chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa
có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực; vừa có hợp tác vừa có đấu tranh. Mặc dù
hợp tác để phát triển trở thành xu thế lớn của thế giới, nhƣng những nhân tố
gây mất ổn định trên thế giới vẫn tồn tại, thậm chí một số mặt còn tăng
cƣờng. Cuộc đấu tranh giữa hoà bình hợp tác để phát triển với các thế lực
hiếu chiến - các nhân tố gây mất ổn định trong quan hệ quốc tế vẫn đang diễn
ra gay go, phức tạp.
Mỹ là một quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới, là một thị trƣờng
khổng lồ, và là nƣớc công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới với những tiềm
năng to lớn về vốn, công nghệ, khoa học quản lý, khoa học kỹ thuật, giáo dục.
Việt Nam đang trên con đƣờng phát triển, tiến hành công nghiêp hóa, hiện đại
hóa gắn với kinh tế tri thức, nên rất cần hợp tác với Mỹ để học tập, tranh thủ
và kế thừa những thành tựu tiến bộ của họ.
Thực hiện đƣờng lối đổi mới của Đảng, từ năm 1986, Việt Nam đã thu
đƣợc nhiều thắng lợi. Với phƣơng châm đa phƣơng hoá, đa dạng hoá các quan

4

tiễn. Qua đó, làm sáng tỏ những chủ trƣơng đúng đắn, sáng tạo của Đảng,
những khó khăn hạn chế trong quan hệ giữa hai nƣớc, góp phần tiếp tục hoàn
thiện phƣơng sách trong quan hệ với Hoa Kỳ; rút ra những kinh nghiệm bƣớc
đầu trong việc đẩy mạnh quan hệ với đối tác Mỹ, góp phần thúc đẩy sự hội
nhập của Việt Nam vào khu vực và thế giới. Chính vì vậy chúng tôi đã chọn
đề tài “Đảng lãnh đạo quá trình bình thường hoá và phát triển quan hệ của
Việt Nam với Hoa Kỳ (1976 - 2006)” làm luận án tiến sĩ khoa học lịch sử,
chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
- “Đảng lãnh đạo” ở đây cụ thể là Đảng Cộng sản Việt Nam đƣa ra chủ
trƣơng, đƣờng lối và chỉ đạo các cơ quan của Nhà nƣớc nhằm tổ chức thực
hiện đúng nhƣ chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng đề ra. “Đảng lãnh đạo” là
muốn nói tới vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ giữa Việt
Nam với Hoa Kỳ.
- “Quá trình bình thƣờng hóa” trong tên của đề tài chính là các thời kỳ
cụ thể trong tiến trình đi đến quan hệ bình thƣờng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
- “Phát triển quan hệ” ở đề tài là muốn nói tới những chủ trƣơng, đƣờng
lối và sự chỉ đạo của Đảng nhằm thúc đẩy quan hệ giữa hai nƣớc để đạt đƣợc
lợi ích to lớn hơn.

2. Tình hình nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến quan hệ Việt Nam với Hoa Kỳ có khá nhiều bài viết, các
công trình nghiên cứu, tập trung vào những nội dung sau:
Về quan hệ ngoại giao có công trình tiêu biểu nhƣ: WWS Case Study,
Diplomacy of Isolation United States Unilateral Sanctions Policy and
Vietnam 1975-1995, (Olivrer Babson, 2002) - Chính sách trừng phạt cô lập
đơn phƣơng về ngoại giao của Mỹ với Việt Nam 1975-1995 - Công trình này
đã trình bày những tính toán của Mỹ khi thi hành chính sách ngoại giao nƣớc
5

Trọng tâm nghiên cứu tập trung vào ba lĩnh vực chính là quan hệ thƣơng mại,
đầu tƣ và viện trợ. Cuốn sách đã cung cấp những thông tin quan trọng về
những tác động của cấm vận đối với Việt Nam, những nguyên tắc của chính
quyền Mỹ khi áp đặt lệnh cấm vận kinh tế với Việt Nam và những luật liên
quan chi phối quan hệ kinh tế, thƣơng mại và đầu tƣ giữa hai nƣớc Hoa Kỳ và
Việt Nam.
Cuốn sách Việt Nam - Hoa Kỳ quan hệ thương mại và đầu tư của
Nguyễn Thiết Sơn, (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2004) trình bày một cách
khái quát, có hệ thống tiến trình bình thƣờng hoá quan hệ kinh tế Việt Nam và
Mỹ, những kết quả đạt đƣợc trong quan hệ thƣơng mại, đầu tƣ giữa hai nƣớc,
những vấn đề, những khó khăn bƣớc đầu mà Việt Nam đang vấp phải và triển
vọng quan hệ kinh tế Việt- Mỹ. Với đúng nhƣ tên gọi của cuốn sách, quan hệ
Việt Nam - Hoa Kỳ mới chỉ tập trung đƣợc trên lĩnh vực thƣơng mại và đầu
tƣ. Luận án đã sử dụng những thông tin trong sách nhằm bổ sung cho quan hệ
giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trên lĩnh vực kinh tế, thƣơng mại và đầu tƣ.
Hội thảo khoa học Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ trong bối cảnh
quốc tế mới, do Viện khoa học xã hội Việt Nam, Viện nghiên cứu châu Mỹ tổ
chức vào năm 2009 đã đăng bài viết của GS Nguyễn Quang Thái với tiêu đề
Quan hệ với Hoa Kỳ cần được coi là một trụ cột của chính sách đối ngoại.
Một số nhận xét của Nguyễn Quang Thái đã đƣợc luận án nghiên cứu kế thừa
nhƣ: ngoại giao thân thiện đa phƣơng, từ chỗ coi Hoa Kỳ là kẻ thù chuyển
sang quan hệ đối tác cùng có lợi; hợp tác toàn diện không né tránh, thẳng thắn
trao đổi các vấn đề gai góc; hợp tác trong giáo dục y tế, văn hóa, thể dục thể
thao là ƣu tiên và đẩy mạnh nhanh vƣợt bậc.
Cuốn sách Hoa Kỳ xu hướng chiến lược kinh tế kể từ kết thúc chiến
tranh lạnh do Đỗ Lộc Diệp chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1998, đã
trình bày những xu hƣớng điều chỉnh chiến lƣợc kinh tế của Mỹ có tác động
7

tới việc bình thƣờng hóa quan hệ với Việt Nam. Luận án đã kế thừa những

chiến tranh lạnh (1991 - 1995). Cuốn sách khái quát và phân tích sâu những
dính líu của ngƣời Mỹ với các nƣớc khu vực Đông Nam Á. Vì thế trong quan
hệ của Mỹ với Việt Nam, cuốn sách đã cung cấp một số thông tin lịch sử quan
trọng cho luận án này.
Luận án của Lê Bá Thuyên, Chiến lược toàn cầu của Mỹ và tác động
của nó trong quan hệ quốc tế hiện nay, năm 1994 đã đƣợc khai thác nhằm
làm rõ sự điều chỉnh chiến lƣợc và nội dung chính sách mới của Mỹ đối với
Việt Nam từ sau năm 1975 đến tháng 2 - 1994.
Cuốn sách của Trần Bá Khoa Tìm hiểu những thay đổi lớn trong chiến
lược quân sự của Mỹ, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2000 đã đƣợc luận án
khai thác trên một số nội dung mà cuốn sách muốn lƣu tâm đó là: Chính sách
mới của Mỹ đối với Việt Nam xây dựng trên cơ sở những mục tiêu của chiến
lƣợc toàn cầu và chiến lƣợc quân sự toàn cầu của Mỹ cũng nhƣ xuất phát từ
những lợi ích chiến lƣợc của Mỹ ở Việt Nam, Đông Dƣơng và Đông Á - Thái
Bình Dƣơng trong thời kỳ mới.
Cuốn Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ với Đông Nam Á sau chiến
tranh lạnh của Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế, Nguyễn Thị Lệ (Nhà
xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội 2007), trình bày bối cảnh hình thành, nội
dung, những bƣớc điều chỉnh chiến lƣợc an ninh quốc gia của Mỹ thời sau
chiến tranh lạnh. Sự triển khai chiến lƣợc an ninh quốc gia của Mỹ ở Đông
Nam Á sau chiến tranh lạnh và tác động của việc triển khai chiến lƣợc an ninh
quốc gia của Mỹ với Đông Nam Á và Việt Nam. Cuốn sách cung cấp cái nhìn
tổng quát về chiến lƣợc an ninh quốc gia của Mỹ đối với Việt Nam và Đông
Nam Á. Cuốn sách đã đƣợc luận án khai thác nhằm làm rõ chính sách đối
ngoại của Mỹ đã có ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến quan hệ song phƣơng Việt
9

Nam - Hoa Kỳ.
Trong Dialogue on U.S - Vietnam Relation Domestic dimensions, The
Asia Foundation, năm 2003 đã công bố những nghiên cứu về quan hệ Mỹ -

thức, nội dung trong chiến lƣợc “diễn biến hòa bình” chống Việt Nam hiện
nay của Mỹ nhƣ chiến lƣợc chi phối đầu tƣ, chiến lƣợc ngoại giao thân thiện,
chiến lƣợc khoét sâu mâu thuẫn nội bộ để làm cơ sở đánh giá quan hệ Việt -
Mỹ.
Tiếp theo nội dung về “diễn biến hòa bình” có cuốn sách Mỹ sử dụng
“ngoại giao nhân quyền” trong quan hệ với Việt Nam và một số giải pháp
chống “ngoại giao nhân quyền” (Tổng cục Chính trị, năm 2002) đã chỉ rõ:
Thông qua “vấn đề nhân quyền” thực chất Mỹ và các thế lực thù địch chống
Việt Nam muốn tìm cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Chúng âm mƣu tạo ra sự bất bình chống Nhà nƣớc trong các tầng lớp nhân
dân, thực hiện chiến lƣợc “diễn biến hòa bình” chống phá nƣớc cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam. Cuốn sách đã chỉ rõ tính hai mặt trong quan hệ với
Việt Nam của chính quyền Mỹ và làm thế nào để Việt Nam ứng xử thích đáng
với chính sách đó của Mỹ. Từ những nội dung mà sách cung cấp, luận án đã
có thể khẳng định một cách rõ ràng là Mỹ luôn lấy những vấn đề “nhân
quyền” và “ngoại giao nhân quyền” để cản trở quan hệ giữa Mỹ với Việt
Nam.
Một số tác phẩm phân tích nhiều về vai trò của Đảng Cộng sản
Việt Nam nhƣ: cuốn sách Quá trình triển khai thực hiện chính sách đối ngoại
của Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam, do Trình Mƣu, Nguyễn Thế Lực,
Nguyễn Hoàng Giáp đồng chủ biên, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, 2005
trong đó có các bài nghiên cứu nhƣ Chính sách đối ngoại của Việt Nam trên
con đường đổi mới của Hồ Châu, Quan hệ với các nước lớn trong chính sách
11

đối ngoại của Đại hội IX của Nguyễn Hoàng Giáp, Quan hệ Việt - Mỹ những
năm gần đây của Hà Mỹ Hƣơng đã cung cấp cho luận án một số nội dung
nhƣ: một số điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Việt Nam từ Đại hội
VI đến trƣớc Đại hội VIII; quan điểm của Đảng trong quan hệ với các nƣớc
lớn, đặc biệt đƣợc đề cập nổi bật tại Đại hội IX; những vấn đề trong quan hệ

Các vấn đề khác có: cuốn sách Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ hướng về
phía trước do Nguyễn Mại chủ biên (Nhà xuất bản Tri thức, 2008) nghiên cứu
một số vấn đề lịch sử gắn với cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra ở Việt Nam đang
có tác động đến quan hệ giữa hai nƣớc; thực trạng của mối quan hệ hiện tại và
xu hƣớng phát triển trong thời gian tới; trên cơ sở đó kiến nghị hệ thống các
giải pháp cần thực hiện để mở rộng quan hệ giữa Việt Nam với Mỹ. Cuốn
sách đƣa ra nhiều đánh giá phản ánh rõ thái độ của ngƣời Mỹ đối với Việt
Nam từ sau cuộc chiến tranh đến những năm gần đây nhƣ: “hội chứng Việt
Nam”, POW/MIA, về dioxin và chất độc da cam. Một số nhận thức đó đã
đƣợc luận án tiếp thu và phát triển. Tuy nhiên cuốn sách vẫn không thấy đƣợc
vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ đó.
U.S - Việt Nam Relation: Background and Issues for Congress (Quan
hệ Việt Nam - Hoa Kỳ: bối cảnh và những vấn đề dành cho Quốc hội) của
Mark E.Manyin (2008), đây là bản tập hợp thông tin quan hệ nhiều mặt giữa
Hoa Kỳ và Việt Nam cũng nhƣ sơ lƣợc lịch sử quan hệ giữa hai nƣớc từ năm
1975 đến 2008 nhằm phục vụ Quốc hội Mỹ. Mark E.Manyin có đề cập đến
quan hệ quân sự, quan hệ kinh tế và viện trợ kinh tế, tình hình nhân quyền và
vấn đề di sản từ cuộc chiến tranh Việt Nam. Bản báo cáo cũng cho thấy
những đánh giá của ngƣời Mỹ về chiến lƣợc và chiến thuật đằng sau những
nỗ lực của Việt Nam nhằm nâng cấp quan hệ với Mỹ. Bản báo cáo này đã
giúp tác giả luận án trả lời cho câu hỏi vì sao ngƣời Mỹ lại cố gắng cô lập
13

chính phủ cộng sản Việt Nam sau năm 1975 và tại sao hiện nay, Mỹ lại quan
tâm đến mối quan hệ với Việt Nam.
Cuốn Khuôn khổ quan hệ đối tác của Việt Nam, của Nguyễn Vũ Tùng,
Học viện quan hệ quốc tế, 2007 đã đƣa ra những tiêu chí để làm rõ khuôn khổ
quan hệ giữa Việt Nam và một số nƣớc là đối tác và đối tác chiến lƣợc. Riêng
trong quan hệ với Mỹ, Việt Nam đã thiết lập một khuôn khổ mới là đối tác
vào tháng 6 - 2005. Với nội dung đó của sách, tác giả luận án đã thấy rõ hơn

thông tin về pháp lý và quy tắc cũng nhƣ những diễn biến liên quan đến quan
hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ từ năm 1975 đến 1991.
Các bài nói, bài viết của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nƣớc, Bộ Ngoại
giao cũng có rất nhiều giá trị trong việc khẳng định nhiều quan điểm chủ
trƣơng và đƣờng lối của Đảng trong quan hệ với Mỹ nhƣ “Tuyên bố của Thủ
tướng Võ Văn Kiệt về việc Tổng thống Hoa Kỳ Bin Cliton quyết định bình
thường hóa quan hệ với Việt Nam” hay “Thư của Chủ tịch nước Việt Nam
Trần Đức Lương gửi ngài George W.Bush, Tổng thống hợp chủng quốc Hoa
Kỳ (ngày 4 tháng 10 năm 2001)”….
Các bài nghiên cứu: Mỹ - Việt Nam và quyền sở hữu trí tuệ của Steven
Robinson (Châu Mỹ ngày nay, số 3, năm 1998); Một số nét về quan hệ nông
nghiệp giữa Mỹ và Việt Nam trong thời gian gần đây của Nguyễn Điền (Châu
Mỹ ngày nay, số 5/1997); Những ghi nhận sau bình thường hoá quan hệ Việt-
Mỹ của Nguyễn Hữu Cát (Châu Mỹ ngày nay, số 1/1997); Quan hệ thương
mại Việt - Mỹ sau 5 năm nhìn lại của Phạm Hồng Tiến (Châu Mỹ ngày nay số
5/2000); Đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam của Trần Đình Vƣợng (Châu
Mỹ ngày nay số 5/2000); Trao đổi khoa học Việt - Mỹ về các vấn đề song
phương và khu vực (Thông tin khoa học xã hội, số 4 năm 1998) đã chỉ ra
những hoạt động của hai nƣớc trên những khía cạnh của kinh tế nhằm thúc
15

đẩy quan hệ hai nƣớc và một số nội dung khác nhƣ: Quan hệ Việt- Mỹ điều gì
đang ở phía trước của Allan E.Goodman (Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 4,
năm 1994) phân tích những thuận lợi, khó khăn và xu hƣớng trong quan hệ
hai nƣớc; Những yếu tố chi phối sự lựa chọn chính sách của Mỹ đối với khu
vực Đông Á và Thái Bình Dương trong thập kỷ 90 của Bùi Thanh Sơn
(Nghiên cứu Quốc tế, số 1 (3) tháng 3 - 1994); Xây dựng tình đoàn kết và hữu
nghị giữa nhân dân Mỹ và Việt Nam của Merle Ratner (Thông tin chuyên đề,
Hà Nội, 1992); Việc giải quyết một số vấn đề then chốt trong quá trình bình
thường hóa quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam, của Vũ Thị Thu Giang (Tạp chí

- Tập trung làm rõ quá trình bình thƣờng hoá và phát triển quan hệ hai
nƣớc trong thời gian từ 1976 đến 2006.
- Chỉ ra đƣợc những thành tựu và hạn chế trong quá trình bình thƣờng
hóa cũng nhƣ trong thời gian phát triển quan hệ giữa hai nƣớc.
- Rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng
đối với việc thiết lập và đẩy mạnh quan hệ với Hoa Kỳ .
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày các diễn biến trong quan hệ Việt Nam với Hoa Kỳ.
- Phân tích những nhận thức, chủ trƣơng và đƣờng lối của Đảng trong
các thời kỳ đã từng bƣớc tác động đến quá trình bình thƣờng hóa và đẩy mạnh
hợp tác giữa hai Việt Nam và Hoa Kỳ nhƣ thế nào.
- Tổng hợp, thống kê, phân tích những biểu hiện, thành tựu và hạn chế
trong quan hệ hai nƣớc để rút ra một số nhận xét và kinh nghiệm trong lãnh
đạo và chỉ đạo của Đảng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
- Bối cảnh quốc tế và trong nƣớc, những xu thế vận động của thời đại,
17

những đòi hỏi của thời cuộc tác động tới quá trình bình thƣờng hóa quan hệ
giữa hai nƣớc.
- Chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng; chính sách, động thái và những
hành động của Mỹ trong từng giai đoạn thiết lập quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ.
- Những thành tựu, hạn chế và những kinh nghiệm của Đảng trong suốt
quá trình bình thƣờng hóa và thiết lập quan hệ giữa hai nƣớc.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng trong những
điều kiện lịch sử cụ thể nhằm gỡ bỏ cấm vận, tiến tới bình thƣờng hóa và phát
triển quan hệ giữa hai nƣớc Việt Nam - Hoa Kỳ trong thời gian từ 1976 đến
2006. Sở dĩ luận án nghiên cứu từ năm 1976 vì đây là thời điểm đánh dấu sự

6. Đóng góp của luận án
- Luận án làm rõ một cách hệ thống sự phát triển tƣ duy đối ngoại của
Đảng với Hoa Kỳ và với thế giới, cũng nhƣ quan điểm của chính quyền Mỹ
trong quan hệ với Đông Nam Á và Việt Nam.
- Dựng lại quá trình lãnh đạo của Đảng tiến tới bình thƣờng hóa trong
quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ từ năm 1976 đến năm 1995 và thời kỳ phát
triển quan hệ giữa hai nƣớc trên nhiều lĩnh vực từ năm 1996 đến năm 2006.
Qua đó thấy đƣợc vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, những thuận lợi và
những khó khăn phải lƣờng trƣớc trong quan hệ với Mỹ.
- Bƣớc đầu, luận án đƣa ra một số nhận xét và kinh nghiệm lãnh đạo
của Đảng có giá trị cả về lý luận và thực tiễn trong thiết lập quan hệ với Hoa
Kỳ.
- Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị trong nghiên cứu hay phục vụ
giảng dạy cho những vấn đề có liên quan đến đề tài.

19

7. Kết cấu của luận án
Đề tài “Đảng lãnh đạo quá trình bình thƣờng hóa và phát triển quan hệ
của Việt Nam với Hoa Kỳ (1976 - 2006)” gồm có 3 chƣơng:
Chƣơng 1. Đảng lãnh đạo quá trình bình thƣờng hóa quan hệ của Việt
Nam với Hoa Kỳ (1976 - 1995) (67 trang)
Chƣơng 2. Đảng lãnh đạo phát triển quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ
(1996 - 2006) (60 trang)
Chƣơng 3. Một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử (29 trang).
Ngoài các chƣơng, mục, luận án còn có phần Mở đầu (18 trang), Kết
luận (4 trang), Mục lục (3 trang), Danh mục công trình của tác giả liên quan
đến đề tài của luận án (1 trang), Tài liệu tham khảo (28 trang), Phụ lục (76
trang).
20

tiên do Edmund Roberts dẫn đầu chính thức đến thăm Việt Nam. Trong
chuyến đi này, Tổng thống Mỹ Andrew Jackson đã giao nhiệm vụ cho đoàn
ngoại giao đàm phán về hiệp định thƣơng mại với Việt Nam. Song, đề nghị
đàm phán với Việt Nam đã không đƣợc Triều đình nhà Nguyễn chấp nhận.
Năm 1835, Roberts trở lại Việt Nam để tiếp tục công việc bị bỏ dở.
Nhƣng lần này, đang trong quá trình đàm phán về các hiệp định hợp tác
thƣơng mại thì ông bị ốm nên buộc phải rời khỏi Việt Nam và mất ở Ma Cao
ngày 12-6-1836 khi các thoả thuận vẫn chƣa xong.
Năm 1845, hạm đội Mỹ Constitution, một bộ phận của sƣ đoàn Đông
Ấn thuộc hải quân Mỹ dƣới sự chỉ huy của thuyền trƣởng John Pereiral đã cập
bến tại bờ biển Đà Nẵng. Hạm đội này đã gây ra một số hành động quá khích
mà cho đến bốn năm sau, Tổng thống Mỹ Zachary Taylor phải viết thƣ tới
“Hoàng đế nƣớc Anam” hối tiếc: “tôi rất đau lòng khi đƣợc biết 4 năm trƣớc
đây thuyền trƣởng Pereival đã cho quân đổ bộ lên đất liền ở vịnh Turan, bắn
nhầm vào thần dân của ngài, giết và làm bị thƣơng một số ngƣời…”. [290]
Sau những cuộc tiếp xúc này, trong thời kỳ nhà Nguyễn, ngƣời Mỹ đã
không trở lại Việt Nam thêm lần nào nữa. Điểm chung nhất của các chuyến đi
đó là sự chuẩn bị chu đáo của những ngƣời có trách nhiệm và có thiện ý. Vì
thế, sự thất bại của các chuyến đi đến Việt Nam hẳn thuộc về phía triều đình
Huế.
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng chính thức tiến hành xâm lƣợc Việt
Nam. Trƣớc nguy cơ ngày càng mất nhiều đất cho Pháp, tháng 7-1873, vua
Tự Đức cử Bùi Viện, một nhà Nho thức thời và năng động đi công cán ở
Hƣơng Cảng. Ở đây, ông có dịp tiếp xúc với viên lãnh sự Mỹ và đƣợc giới
thiệu đến Mỹ gặp Tổng thống. Vì thế, ông đáp tàu sang Mỹ nhằm kêu gọi Mỹ
giúp đỡ Việt Nam đánh Pháp. Nhƣng vì chƣa có quốc thƣ của vua Tự Đức ủy
quyền nên mọi thỏa ƣớc chƣa thể ký kết. Bùi Viện gấp rút trở về nƣớc báo
22

cáo và đƣợc Tự Đức giao quốc thƣ ủy quyền tức tốc lên đƣờng. Nhƣng khi tới

trong thời gian Chiến tranh thế giới II) những tài liệu cực kỳ quan trọng về
quân đội Nhật, giúp họ thành lập một hệ thống radio suốt từ Hà Nội vào Sài
Gòn phù hợp với kế hoạch của OSS.
Sau thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945, nƣớc Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa ra đời, với cƣơng vị là Chủ tịch và Bộ trƣởng Bộ Ngoại
giao chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đã tìm cách thiết lập quan hệ với chính
phủ Hoa Kỳ bằng những công hàm, thƣ, điện gửi Tổng thống H. Truman và
ngoại trƣởng G. Byrnes. Trong tất cả các văn kiện chính thức đó, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của Hoa Kỳ. Suốt 16 tháng, khởi đầu từ bức
thƣ của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi ngày 29-9-1945 và khép lại buổi tiếp Vụ
trƣởng Vụ Đông Nam Á của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ A.L. Moffat ngày 7-12-
1946 tại Phủ Chủ Tịch - Hà Nội, Hồ Chí Minh đã nỗ lực thiết lập quan hệ với
Hoa Kỳ song không đƣợc hồi đáp. Thời đó, Chính phủ Hoa Kỳ xuất phát từ
lợi ích của nƣớc mình và từ những định kiến sai lầm và thiển cận về Chính
phủ nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã im lặng trƣớc những đòi hỏi chính
đáng của Việt Nam. [291]
Chính phủ Mỹ do Truman đứng đầu đã dần dần ủng hộ Pháp quay trở
lại chiếm đóng Đông Dƣơng. Họ đã quyết định chọn con đƣờng giúp Pháp để
rồi tự mình lao vào “một cuộc chiến tranh làm mất lòng ngƣời và gây chia rẽ
nhất trong thế kỷ của lịch sử nƣớc Mỹ”. [52, tr. 24]
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ vƣợt lên về sức mạnh vật chất - kỹ
thuật và quân sự, đã nhảy ra đóng vai trò sen đầm quốc tế hòng cứu vãn chế
độ tƣ bản chủ nghĩa đang trong cơn nguy biến. Do đó Mỹ cần phải có một
chiến lƣợc chỉ đạo mọi hoạt động trên các lĩnh vực để thực hiện âm mƣu bá
quyền của mình. Đó là chiến lƣợc toàn cầu mà đế quốc Mỹ thực hiện. Chính
24

vì thế từ năm 1947-1975 quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ chịu sự tác động toàn
diện của chiến lƣợc này.
Từ năm 1947, Mỹ thi hành “chiến lƣợc ngăn chặn” với mục tiêu chặn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status