ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ YẾN
( MÀU MẬN CHÍN, 3 QUYÊN,)
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH
TRONG BÌNH THƯỜNG HÓA VÀ PHÁT TRIỂN
QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI HOA KỲ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ YẾN
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC NGOẠI GIAO
HỒ CHÍ MINH TRONG BÌNH THƯỜNG HÓA VÀ
PHÁT TRIỂN QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI HOA KỲ
Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Mã số
: 60.31.20.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. NGUYỄN ANH CƯỜNG
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB
Ngân hàng phát triển châu Á
AFTA
Khu vực thương mại tự do
APEC
Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEM
Diễn đàn hợp tác Á - Âu
BTA
Hiệp hội thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ
BIT
Hiệp hội đầu tư song phương
Công ty đầu tư tư nhân hải ngoại
PNTR
Quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn
POW/ MIA
Tù nhân chiến tranh/ Mất tích trong chiến tranh
USAID
Cơ quan viện trợ phát triển quốc tế Mỹ
USTDA
Cơ quan thương mại và phát triển Hoa Kỳ
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu ........................................................................................ 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ................................................... 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 6
thắng lợi................................................................................................................ 53
2.1.5. Tăng cường trao đổi, hợp tác cùng theo chính sách chung sống hòa bình
với các nước trên thế giới ..................................................................................... 57
2.2. Quá trình vận dụng những nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh trong phát
triển quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ (1995-2013) ........................................ 61
2.2.1. Quan hệ chính trị, ngoại giao ..................................................................... 62
2.2.2. Quan hệ kinh tế .......................................................................................... 68
2.2.3. Quan hệ An ninh, Quốc phòng................................................................... 74
2.2.4. Quan hệ giáo dục, y tế, văn hóa .................................................................. 78
2.3. Một số nhận xét và kinh nghiệm .................................................................. 84
2.3.1. Nhận xét...................................................................................................... 84
2.3.2. Kinh nghiệm ............................................................................................... 90
Tiểu kết chương 2 ................................................................................................ 93
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 98
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà yêu nước vĩ đại, nhà hoạt động quốc tế xuất sắc,
chiến sĩ tiên phong của phong trào giải phóng dân tộc, sứ giả của hòa bình và hữu
nghị. Người vừa là nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà chiến lược quân sự, nhà ngoại
giao, đồng thời cũng là người sáng lập ra nền ngoại giao Việt Nam hiện đại. Cuộc
đời và sự nghiệp cách mạng của Người đã để lại kho tàng lý luận, tư tưởng vô giá
cho dân tộc Việt Nam. Đó là kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam nói chung và
cho việc xây dựng nền ngoại giao nói riêng phát triển, từng bước đánh thắng kẻ thù
xâm lược, khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời còn có giá
trị to lớn đối với công cuộc đổi mới, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc
trong giai đoạn hiện nay.
Nam từng bước phá thế bao vây cấm vận của Hoa Kỳ và tích cực chủ động bình
thường hóa, mở rộng phát triển quan hệ ngoại giao hai nước. Ngày 11/7/1995 Việt
Nam và Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao. Gần hai mươi năm qua đã chứng kiến
rất nhiều những tiến triển tích cực trong phát triển quan hệ hai nước theo khuôn
khổ: “Đối tác xây dựng, hữu nghị, hợp tác nhiều mặt trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng
lẫn nhau cùng có lợi”, đem lại nhiều lợi ích thiết thực, cho cả đôi bên góp phần gìn
giữ hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Để làm rõ hơn nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh được vận dụng vào quá trình
đấu tranh bình thường hóa và phát triển quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, tác giả chọn
đề tài “Vận dụng nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh trong bình thường hóa và
phát triển quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên
ngành Hồ Chí Minh học.
2. Tình hình nghiên cứu
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh nói chung và nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí
Minh nói riêng cũng như sự vận dụng trong bình thường hóa và phát triển quan hệ
Việt Nam - Hoa Kỳ là mảng đề tài được nhiều nhà khoa học, nhiều học giả quan
tâm, nghiên cứu. Đến nay có nhiều công trình với nhiều nhà khoa học, nhiều sách
chuyên đề, bài viết có liên quan đến đề tài này. Mỗi tác giả đều có cách tiếp cận,
nhìn nhận vấn đề riêng, cụ thể như:
Về nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ,
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Bộ ngoại giao năm 2002 do Thứ trưởng Thường
trực Nguyễn Đình Bin làm chủ nhiệm. Đề tài gồm một số đề tài nhánh, các tác giả
2
đã phân tích các nội dung: bối cảnh ra đời, quá trình phát triển, nguồn gốc, nội dung
cơ bản về phương pháp, nguyên tắc, phong cách, nghệ thuật của tư tưởng ngoại giao
Hồ Chí Minh.
Cách tiếp cận của các tác giả trong nhóm đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Vận
dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh thời kỳ hội nhập, Ban nghiên cứu
Minh 1954-1969 (2005) của Trần Minh Trưởng, Nxb Công an nhân dân;. Luận văn
Thạc sĩ: Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao và sự vận dụng trong giai đoạn hiện
nay của Nguyễn Sĩ Hùng, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, 2011.
Phạm Hồng Chương- Phùng Đức Thắng: Tìm hiểu tư tưởng ngoại giao Hồ Chí
Minh, tạp chí Cộng sản, số 12-1999. Nguyễn Trọng Phúc: Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh
về ngoại giao từ sau hiệp định Giơwneviơ, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 2 - 1995....
Về quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ: Cuốn sách do Nguyễn Đình Bin chủ biên
Ngoại giao Việt Nam 1945-2000 (2000), Nxb Chính trị Quốc gia đã làm rõ giai
đoạn Đảng lãnh đạo chống chính sách cấm vận, đấu tranh phá bỏ cấm vận và bình
thường hóa trong quan hệ với Hoa Kỳ.
Cuốn sách“Việt Nam - Hoa Kỳ hướng về phía trước” do Nguyễn Mại chủ biên
(2008), Nxb Tri Thức, đã nói về thực trạng mối quan hệ hiện tại và xu hướng phát
triển trong thời gian tới, trên cơ sở kiến nghị hệ thống các giải pháp cần thực hiện
để mở rộng quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ.
Hội thảo khoa học quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trong bối cảnh quốc tế mới, do
Viện khoa học xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu Châu Mỹ tổ chức vào năm 2009,
đã đăng bài của giáo sư Nguyễn Quang Thái với tiêu đề “quan hệ với Hoa Kỳ cần
được là một trụ cột của chính sách đối ngoại” với mục đích ngoại giao thân thiện,
đa phương từ chỗ coi Hoa Kỳ là kẻ thù chuyển sang quan hệ đối tác cùng có lợi.
Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ hợp tác và đấu tranh trong quan hệ đấu tranh
Việt Nam và Hoa Kỳ hiện nay của Viện Quan hệ quốc tế - Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh do An Mạnh Tuấn chủ biên (1998), đã nói lên quan hệ hợp tác
Việt Nam - Hoa Kỳ trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, an ninh, quân sự, kinh tế,
thương mại, văn hóa, khoa học, giáo dục.
Luận án Đảng lãnh đạo quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ của
Việt Nam với Hoa Kỳ (1976 - 2006) (luận án tiến sĩ lịch sử) của tác giả Nguyễn Anh
Cường, đã trình bày và phân tích quá trình bình thường hóa quan hệ của Việt Nam
với Hoa Kỳ (1976-1995) và quá trình phát triển quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ
(1996 - 2006) phán ánh trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, an ninh, quốc phòng,
kinh tế…Luận án đã giúp luận văn khai thác những thông tin nhằm làm rõ nguyên
của Người. Tuy nhiên, chưa có công trình nào tập trung vào việc nghiên cứu một
cách trọn vẹn nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh cũng như sự vận dụng trong bình
thường hóa và phát triển quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ hiện nay. Chính vì vậy, tác giả
5
chọn đề tài này để làm nổi bật hơn nữa giá trị lý luận cũng như thực tiễn của nguyên
tắc ngoại giao Hồ Chí Minh, đồng thời góp phần làm rõ hơn sự bình thường hóa và
phát triển quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Đề tài tập trung làm rõ nội dung nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh.
- Tập trung làm rõ việc Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng những nguyên tắc
ngoại giao của Hồ Chí Minh vào quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ
Việt Nam - Hoa Kỳ (1995-2013).
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, hệ thống hóa những quan điểm của Hồ Chí Minh về nguyên tắc
ngoại giao.
- Tìm hiểu, phân tích, tổng hợp và đánh giá những nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí
Minh vào quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ giữa Việt Nam - Hoa Kỳ
(1976-2013).
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh trong cách mạng Việt Nam.
- Nghiên cứu lịch sử quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ.
- Nghiên cứu việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào quá trình đi tới bình
thường hóa và phát triển quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Những nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh.
7
CHƯƠNG 1
NGUYÊN TẮC NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt
Nam, Người đã rất quan tâm đến vấn đề ngoại giao. Cũng chính vì vậy, Người
không chỉ nêu những quan điểm chỉ đạo mà còn trực tiếp thực hiện vấn đề này ngay
từ khi đất nước chưa giành được chính quyền (trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945)
nhằm mục tiêu: phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của
thực dân. Quan điểm chỉ đạo của Người lúc này là: Tăng cường hợp tác, đoàn kết
với giai cấp vô sản và các lực lượng cách mạng trên toàn thế giới không phân biệt
màu da, không phân biệt dân tộc, cốt tập hợp được mọi lực lượng, nhằm đánh đổ
chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc.
Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đặt cơ sở, nền
tảng cho nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh luôn hiểu rõ vai trò và
tầm quan trọng của vấn đề đoàn kết, hợp tác quốc tế. Tư tưởng hợp tác, đoàn kết các
lực lượng của dân tộc với lực lượng cách mạng thế giới đã từng bước được Người
thực hiện trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Vấn đề hợp tác quốc tế là
một trong những vấn đề quan trọng nhất được Hồ Chí Minh quan tâm và trực tiếp
chỉ đạo với chủ trương, đường lối và xây dựng chính sách cụ thể. Người đã đề ra
một số quan điểm mang tính nguyên tắc chỉ đạo trong hoạt động ngoại giao của
Đảng và Nhà nước ta như sau:
1.1. Giữ vững đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, dựa vào sức mình là chính,
đồng thời trên cơ sở tự nguyện và tôn trọng lẫn nhau
Độc lập, tự chủ, dựa vào sức mình là chính là đặc điểm nổi bật trong phong
cách tư duy Hồ Chí Minh. Bằng lối tư duy độc lập, sáng tạo, Người đã tìm ra con
đường cứu nước cho dân tộc, hoạch định đường lối chiến lược cho mọi giai đoạn
đáng được độc lập”. [38, tr. 445] Do hoàn cảnh cuộc đấu tranh cách mạng của nước
ta, sau khi nhân dân ta giành được chính quyền tháng 9/1945, Chủ tịch Hồ Chí
Minh nhấn mạnh về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính và ngoại giao của ta là tự
lực cánh sinh. Từ năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở có sự chi viện của
Liên Xô và Trung Quốc về vật chất, vũ khí, trang bị, ta sẽ đỡ khó khăn hơn nhưng
giành được thắng lợi phải do nỗ lực của chính bản thân ta quyết định. Khi nước ta
thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu
tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ, tự
lực cánh sinh là “cái gốc, điểm mấu chốt” của mọi thắng lợi trong sự nghiệp cách
9
mạng. Người xác định tự lực cánh sinh là một truyền thống và Người đã nói lên mối
liên hệ giữa tranh thủ viện trợ quốc tế và tự lực cánh sinh.
Hiệp định Gơnevơ 1954 đã để lại bài học về độc lập, tự chủ và hợp tác sâu
sắc. Các nước lớn đã tác động đến tiến trình giải quyết cuộc chiến tranh Đông
Dương lần thứ nhất. Thế và lực của cách mạng Đông Dương lúc bấy giờ còn hạn
chế nhưng đã phản ánh được tương quan lực lượng ở Đông Dương nói chung, Việt
Nam nói riêng. Từ kinh nghiệm của Hội nghị này, ngoại giao Việt Nam đã có bước
trưởng thành, trong thời kỳ tiếp theo, ta đàm phán trực tiếp với Mỹ. Đường lối độc
lập tự chủ, đoàn kết quốc tế được phát huy, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng
chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Để tăng cường thế và lực cho cách mạng nước ta trong thời kỳ cả nước thực
hiện hai nhiệm vụ chiến lược. Ngay năm 1955, Việt Nam đã đồng thời triển khai
hoạt động đối ngoại trên nhiều hướng: Đấu tranh thi hành hiệp định Gơnevơ; tăng
cường củng cố quan hệ và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc
và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa; đóng góp tích cực vào việc củng cố đoàn
kết giữa các đảng anh em, tăng cường sự thống nhất trong phong trào cộng sản,
công nhân quốc tế; xây dựng quan hệ hữu nghị với chính phủ Khơme và Lào theo
năm nguyên tắc chung sống hòa bình; tăng cường đoàn kết với phong trào giải
Chí Minh, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt hoạt động quốc tế và ngoại giao Việt Nam, được
Đảng ta nâng lên thành đường lối độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế.
Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ nhận định, cuộc đấu tranh anh dũng của
nhân dân Việt Nam vì độc lập và thống nhất Tổ quốc là sự nghiệp cao cả và chính
nghĩa, đã trở thành lương tâm và vinh dự của thời đại, được cả loài người tiến bộ và
nhân dân Mỹ đồng tình ủng hộ. Bằng thiên tài trí tuệ, tình cảm quốc tế chân thành
và trong sáng, bằng nghệ thuật ứng xử ngoại giao tinh tế, có lý, có tình, Chủ tịch Hồ
Chí Minh và Đảng ta vẫn kiên trì đường lối độc lập, tự chủ, kiên trì vận động thuyết
phục làm cho bạn hiểu ta, tiếp tục ủng hộ, giúp đỡ ta cho đến khi sự nghiệp thống
nhất đất nước ta hoàn toàn thắng lợi. Như vậy, giữ vững độc lập, tự chủ trong
đường lối cách mạng nói chung và đường lối đối ngoại nói riêng là một tư tưởng
lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của cách mạng Việt Nam.
Hồ Chí Minh cho rằng, vấn đề hợp tác nói chung và nhất là vấn đề hợp tác
quốc tế nói riêng chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và tôn trọng lẫn
nhau, nêu cao nhân nghĩa và đạo lý trong quan hệ quốc tế, trân trọng thành quả của
sự hợp tác. Quan điểm và sự tự nguyện trong hợp tác quốc tế được Hồ Chí Minh
nêu: “Lênin đã dạy rằng: Không có sự cố gắng tự nguyện của giai cấp vô sản và sau
11
đó là của toàn thể quần chúng lao động tất cả các nước và các dân tộc trên thế giới,
hướng tới sự liên minh và thống nhất với nhau thì việc chiến thắng chủ nghĩa tư bản
không thể nào hoàn thành có kết quả được”. [42, tr. 175]
Ngay sau khi đất nước giành được độc lập, Hồ Chí Minh đã công bố những
quan điểm lớn của chính phủ ta về ngoại giao. Nguyên tắc chung được nêu lên là
kiên trì ngoại giao với các tất cả các nước trên cơ sở của sự bình đẳng, tương trợ, tự
nguyện và tôn trọng lẫn nhau. Mục đích của ngoại giao là làm sao đất nước ít kẻ thù
hơn, nhiều bạn đồng minh hơn. Người đã nhiều lần nói rõ với nhân dân và Chính
phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và
không gây thù oán với một ai”, “một khi đã độc lập, Việt Nam sẽ đứng với tất cả
muốn của Việt Nam “xây dựng sự hợp tác bền vững và lâu dài giữa Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa và Vương quốc Campuchia”.
Với nước láng giềng Trung Quốc vốn có quan hệ lịch sử lâu đời với Việt
Nam, bằng hoạt động liên tục, không mệt mỏi suốt nửa thế kỉ, Người đã xây đắp
nên mối quan hệ “vừa là đồng chí, vừa là anh em”. Hồ Chí Minh cũng hết sức coi
trọng thiết lập mối quan hệ láng giềng tốt với các nước trong khu vực có chế độ
chính trị khác nhau. Miền Bắc được giải phóng, sau chuyến đi thăm cám ơn các
nước xã hội chủ nghĩa anh em, Người đã dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước
ta đi thăm Ấn Độ, Miến Điện, Inđônêxia, hình thành trục hữu nghị Hà Nội- ĐêliGiacácta và từ cuối những năm 50 đầu 60, thế giới bắt đầu nói đến quan hệ “tam
hùng” ở khu vực là Hồ Chí Minh - Nêru - Xucacnô. Thực tế lịch sử cho thấy tại các
diễn đàn quốc tế có liên quan, Hồ Chí Minh luôn khẳng định tình đoàn kết, hữu
nghị và sự hợp tác với nhân dân các nước láng giềng trên bán đảo Đông Dương, với
các nước Đông Nam Á và Nam Á. Những mối quan hệ ngoại giao mà Nhà nước ta
thực hiện trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và sau này
là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã thể hiện rõ chủ trương này. Trong mối
quan hệ đó, Hồ Chí Minh nhiều lần nói đến năm nguyên tắc chung sống hòa bình.
Người đặc biệt nhấn mạnh những nguyên tắc không xâm phạm đến nhau, bình đẳng
và cùng có lợi.
Đối với những nước lớn có tiềm lực kinh tế và khoa học, kỹ thuật, có vị trí
và vai trò quan trọng trong các mối quan hệ quốc tế. Ngay từ cuối những năm 20
của thế kỷ XX, sau đó là những năm trước Cách mạng Tháng Tám và đặc biệt là
những ngày tháng đất nước ta mới giành được độc lập, Hồ Chí Minh đã giao thiệp
khá rộng rãi với chính giới các nước lớn như Mỹ, Anh, ..Ngay trong những ngày
tháng quyết liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Người đã nêu quan
13
điểm, người Mỹ đến Việt Nam để bắn giết, để bị giết chết là điều sỉ nhục nhưng
người Mỹ đến giúp đỡ Việt Nam với tư cách là nhà kinh doanh, chuyên gia kỹ thuật
thì họ sẽ được nhân dân Việt Nam nhiệt liệt hoan nghênh. Người bày tỏ tấm lòng
số phận của những người lao động cùng khổ khắp năm châu. Người nói: “Dù màu
da có khác nhau, trên thế giới này chỉ có hai giống người, giống người bóc lột và
giống người bị bóc lột mà chỉ có một tình hữu ái mà thôi - tình hữu ái vô sản”. [32,
tr. 287] Nhận thức này của Người đã trở thành tiền đề của một tư tưởng lớn, đó là
sự cần thiết tất yếu phải liên minh đoàn kết chiến đấu giữa những người vô sản bị
áp bức ở tất cả các nước. Do đó, phải gắn liền phong trào cách mạng trong nước với
cách mạng thế giới, phối hợp ủng hộ lẫn nhau để đưa cách mạng thắng lợi ở các
nước khác nhau.
Ngay từ năm 1919, khi thực dân Pháp cấu kết với tư bản Nhật để cùng khai
thác Đông Dương, Hồ Chí Minh đã nhận định, xét về nguyên tắc, sự tiến bộ chung
phụ thuộc vào việc phát triển chủ nghĩa quốc tế và văn minh chỉ tới khi các quan hệ
quốc tế được mở rộng và tăng cường. Trên quan điểm đó, một mặt Người tố cáo,
phê phán bọn thực dân Pháp nhân nhượng cho bọn tư bản Nhật vào Đông Dương,
làm người “dân bản xứ sẽ sống càng khốn đốn hơn”. [32, tr. 14] Mặt khác, Người
khẳng định: “...là phi lý nếu nghĩ rằng hai dân tộc láng giềng như dân tộc An Nam
và dân tộc Nhật Bản lại có thể cứ tồn tại biệt lập với nhau”. [32, tr. 14] Như vậy, từ
rất sớm, Hồ Chí Minh đã có tư tưởng về việc các dân tộc phải mở rộng giao lưu, quan
hệ bình đẳng cùng có lợi và kịch liệt phê phán tư tưởng biệt lập giữa các dân tộc.
Nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh biểu hiện ở rất nhiều mặt, trong đó có
tinh thần “bốn biển đều là anh em”. Người cho rằng: “Nhân dân ta từ lâu đã sống
với nhau có tình, có nghĩa như thế. Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình
nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm
châu bốn biển một nhà”. [46, tr. 668] Tư tưởng đó là cơ sở quan trọng để Hồ Chí
Minh xây dựng nguyên tắc mở rộng hợp tác với tất cả các nước.
Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” năm 1927, Người đã khẳng định: “Ai
làm cách mạng trong thế giới đều là đồng chí của nhân dân An Nam cả”. [33, tr.
277] Khi Đảng ra đời, trong cương lĩnh đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo đã
nói về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới: Cách
mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, phải thực hành liên lạc với
của Nhà nước Việt Nam gửi đến cộng đồng quốc tế, khẳng định những quan điểm
dân chủ, tiến bộ, nhân đạo, hòa bình và sẵn sàng hợp tác của nhân dân ta với cộng
đồng quốc tế. Các quan điểm đó hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển của
quan hệ quốc tế sau chiến tranh, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của nhân
dân các nước trên thế giới. Cũng trong thời gian này, trên cương vị Bộ trưởng Bộ
Ngoại giao, Hồ Chí Minh đã gửi hàng chục bức thông điệp, điện văn tới Chủ tịch
16
Hội đồng Liên hợp quốc, các vị đứng đầu nhà nước và ngoại trưởng các cường
quốc, chính phủ một số nước Á, Phi cho các tổ chức Liên đoàn Ả Rập, Hội nghị
Liên Phi...yêu cầu các nước công nhận nền độc lập của Việt Nam, đồng thời ngỏ ý
sẵn sàng hợp tác trên nhiều lĩnh vực.
Trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc (tháng 12/1946), Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đối với
các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác
trong mọi lĩnh vực:
a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà
kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình.
b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông
cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.
c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế, quốc tế dưới
sự lãnh đạo của Liên hợp quốc.
d) Nước Việt Nam sẵn sàng kí kết với các lực lượng hải quân, lục quân trong
khuôn khổ của Liên hợp quốc, những hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước
liên quan đến sử dụng một vài căn cứ hải quân, không quân”. [35, tr. 523]
Hồ Chí Minh chủ trương ngoại giao rộng mở, tìm ra những điểm tương đồng,
khai thác mọi khả năng có thể, nhằm tập hợp lực lượng, hình thành mặt trận đoàn
kết ủng hộ Việt Nam theo nhiều tầng, nhiều nấc. Để thực hiện chủ trương này, theo
Hồ Chí Minh điều quan trọng là phải xác định được mối quan hệ giữa cách mạng
Việt Nam với các đối tác cụ thể, sắp xếp thứ bậc ưu tiên của các đối tác để tiến hành
Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc tăng cường
tình đoàn kết, hợp tác giữa các nước láng giềng. Người rất quan tâm phát triển quan
hệ ngoại giao với Trung Quốc, sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, hai nước
cùng xây dựng chế độ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những cống hiến to lớn xây
dựng mối quan hệ mới, hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và
nhân dân Việt Nam - Trung Quốc. Theo Người:
Mối tình thắm thiết Việt - Hoa
Vừa là đồng chí, vừa là anh em
Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc đã vận dụng kinh nghiệm ngoại giao
của ông cha, ứng xử phù hợp với truyền thống của quan hệ Việt Nam - Trung Quốc,
am hiểu sâu sắc văn hóa Trung Hoa, kết nối mối thân tình với nhân dân và có quan
hệ hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau giữa các nhà lãnh đạo Trung Quốc, đồng thời khéo
xử lý quan hệ Việt - Trung phù hợp với các mối quan hệ toàn cầu mới, trong sự
tương tác với các nước lớn khác, đồng minh hay đối phương của Việt Nam. Trong
18