A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
5. Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận
- Phương pháp nghiên cứu
6. Đóng góp của khóa luận
7. Kết cấu của khóa luận
1
B. NỘI DUNG
Chương 1
CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HỘI PHỤ
NỮ VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1954
*****o0o*****
1.1. QUÁ TRÌNH RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỘI
PHỤ NỮ VIỆT NAM
- Quá trình ra đời:
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh dựng nước
và giữ nước. Trong hàng ngàn năm lịch sử ấy, phụ nữ Việt
Nam giữ một vai trò trọng yếu và hiển nhiên trong lịch sử dân
tộc.
Vai trò, vị trí của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến
luôn bị đánh giá thấp. Họ bị những quy định ràng buộc chặt chẽ
tưởng chung thống nhất, soi đường nên các nhóm phụ nữ này
còn hoạt động rời rạc, chưa có sự thống nhất nên mức độ đoàn
kết chưa cao.
Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập. Trong
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã ghi rõ: “Nam nữ
bình quyền”[21,tr1-4]. Đảng đã sớm nhận thức được phụ nữ là
lực lượng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm vụ: Đảng
phải giải phóng phụ nữ; Phụ nữ phải tham gia các đoàn thể
cách mạng (công hội, nông hội) và cần thiết phải thành lập tổ
chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham gia
cách mạng.
Chính vì vậy, ngay từ những năm 1930 một số tổ chức
3
phụ nữ đã hình thành như: Phụ nữ Liên Hiệp Hội (1930), Phụ
nữ Giải Phóng (1930-1931), Phụ nữ Dân chủ (1936-1939), Phụ
nữ phản đế (1939-1941), Đoàn Phụ nữ cứu quốc (tháng 61941). Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tổ chức phụ nữ này là
hạt nhân nòng cốt trong việc vận động phụ nữ tham gia tích cực
và góp phần vào thắng lợi của cách mạng.
- Quá trình phát triển:
Quá trình phát triển của Hội phụ nữ gắn liền với lãnh đạo
của Đảng. Hội có tiền thân từ nhiều tổ chức phụ nữ như: Phụ
nữ Giải Phóng, Phụ nữ Dân chủ, Phụ nữ phản đế, Đoàn Phụ nữ
cứu quốc.
Từ năm 1930 đến năm 1931, tổ chức “Phụ nữ Giải phóng”
dần hình thành, thu hút đông đảo phụ nữ tham gia vào cao trào
đấu tranh cách mạng (điển hình là phong trào Xô viết Nghệ
Tĩnh).
Thời kỳ 1936-1939, tổ chức cách mạng của phụ nữ được
Vai trò quan trọng của phụ nữ Việt Nam còn gắn liền với
nền văn minh nông nghiệp. Việt Nam là một quốc gia nằm
trong khu vực cội nguồn của nền nông nghiệp lúa nước. Lịch sử
đã chứng minh rằng trong quá trình phát triển của nền văn minh
lúa nước, người phụ nữ luôn đóng vai trò trụ cột trong lao động
sản xuất.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như
trong cuộc sống thường ngày, phụ nữ Việt Nam có vị trí và vai
trò to lớn.
Trong các cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân
Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược phụ nữ Việt Nam đã tham gia
5
kháng chiến và làm tròn trọng trách cách mạng mà Đảng và
Nhà nước giao phó.
Không chỉ đóng vai trò quan trọng trong sản xuất, người
phụ nữ còn đóng vai trò quan trọng trong đấu tranh chính trị,
xây dựng Chủ nghĩa xã hội (CNXH). Muốn xây dựng CNXH
trước hết phải xây dựng con người CNXH. Con người CNXH ở
đây không thể bỏ qua một lực lượng đông đảo là phụ nữ.
Như vậy có thể thấy trong hàng ngàn năm dựng nước và
giữ nước, phụ nữ là một lực lượng hùng hậu, một nguồn sức
mạnh to lớn. Chính vì vậy, một yêu cầu cấp bách đặt ra là phải
làm sao tập hợp được nguồn sức mạnh dồi dào này phục vụ sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết của Hội nghị
Trung ương I (1930) của Đảng đã phân tích: Lực lượng cách
mạng của phụ nữ là một cái lực lượng trọng yếu. Nếu quảng đại
quần chúng phụ nữ không tham gia vào những cuộc đấu tranh
cách mạng thì cách mạng không thể thắng lợi được. Để phát
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Hội LHPN chủ động đề xuất với các ngành có liên quan
những yêu cầu về công tác vận động phụ nữ để các ngành kịp
thời đưa vào chương trình của các ngành. Hội tuyên truyền và
phổ biến những kinh nghiệm của quần chúng, xây dựng những
điển hình phụ nữ về các mặt, để làm kiểu mẫu vận động phụ nữ
noi theo, giúp các cấp uỷ và các ngành những kinh nghiệm cụ
thể trong công tác lãnh đạo phụ nữ.
Ngay sau khi ra đời tổ chức Hội phụ nữ đã tuyên truyền
giác ngộ quần chúng, xây dựng cơ sở Đảng, làm giao thông liên
lạc từng bước phát động phụ nữ tham gia đấu tranh chống bọn
7
chủ bóc lột, đòi quyền lợi hàng ngày, tham gia rải truyền đơn,
diễn thuyết, cắm cờ cách mạng, tiến lên khởi nghĩa cướp chính
quyền góp phần to lớn làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám
năm 1945 thành công. Từ đây mở ra kỷ nguyên độc lập tự do
cho toàn dân tộc, đem đến sự đổi mới cho phụ nữ từ thân phận
nô lệ trở thành người làm chủ xã hội, phát huy tài năng tham
gia các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội...
Từ sau khi đất nước được hoàn toàn độc lập, giang sơn thu
về một mối, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Tháng 3-1978,
Hội LHPN Việt Nam phát động phong trào “Người phụ nữ mới
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, phong trào đã giáo dục động viên
phụ nữ cả nước làm tốt nghĩa vụ công dân và trách nhiệm làm
mẹ, đồng thời bồi dưỡng cho phụ nữ ý thức phấn đấu thực hiện
nam nữ bình đẳng, đưa sự nghiệp giải phóng tiến lên một bước
quan trọng.
Năm 1986 đứng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế, trước sự
kỳ cách mạng. Quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng nói
chung, Đảng ta luôn quan tâm tới sự phát triển của phụ nữ,
không chỉ vì phụ nữ là một nửa của xã hội, mà còn là vì phụ nữ
nước ta thực sự có vị trí và vai trò to lớn trong mọi giai đoạn
phát triển của lịch sử dân tộc.
9
Chương 2
QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÂY
DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HỘI PHỤ NỮ VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
CỨU NƯỚC (1954 – 1975)
2.1. ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HỘI
PHỤ NỮ VIỆT NAM CỦA ĐẢNG
2.1.1. Đường lối của Đảng trong xây dựng và phát triển
Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam ở miền Bắc
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can
thiệp Mỹ do Đảng lãnh đạo đã giành được thắng lợi, song sự
nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả
nước vẫn chưa hoàn thành. Miền Bắc được hoàn toàn giải
phóng, song miền Nam vẫn còn dưới ách thống trị của thực dân
và tay sai. Đất nước tạm thời bị chia làm hai miền.
Đứng trước những biến đổi phức tạp nêu trên, lịch sử lại
đặt cho Đảng ta một yêu cầu bức thiết là phải vạch ra đường lối
chiến lược đúng đắn.
Về đường lối chiến lược cách mạng Việt Nam trong giai
đoạn mới:
Trên cơ sở phân tích tình hình và đặc điểm nước ta, Đại
Đại hội phụ nữ lần thứ I có ý nghĩa lịch sử vô cùng quan
trọng, hợp nhất Đoàn phụ nữ Cứu quốc và Hội Liên hiệp phụ
nữ Việt Nam thành một tổ chức duy nhất lấy tên là Hội LHPN
Việt Nam. Hội LHPN Việt Nam là thành viên của Liên đoàn
phụ nữ dân chủ quốc tế.
- Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ II (nhiệm
11
kỳ 1956-1961)
Diễn ra từ ngày 26 đến 31-5-1956 tại Thủ đô Hà Nội, Đại
hội có 425 đại biểu chính thức đại diện cho mọi tầng lớp phụ
nữ ở các khu, tỉnh, thành của miền Bắc.
Đại hội thông qua Điều lệ mới của Hội gồm 10 điều, trong
đó điều 1 và điều 2 đã nêu tôn chỉ mục đích của Hội; Đề ra 5
chương trình hoạt động là: Đoàn kết phụ nữ cả nước để cùng
toàn dân phấn đấu xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống
nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh; Thực hiện nam nữ bình
đẳng, giải phóng hoàn toàn phụ nữ; Nâng cao trình độ chính trị,
văn hóa cho phụ nữ; Mở rộng các hoạt động xã hội để nâng cao
đời sống của phụ nữ và nhi đồng; Đấu tranh bảo vệ hòa bình
thế giới.
Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Hội gồm 50
ủy viên, Ban Thường trực Trung ương Hội gồm 13 ủy viên. Bà
Nguyễn Thị Thập - ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng
được bầu làm Hội trưởng.
Số lượng đại biểu tham dự, Đại hội phụ nữ lần II đã thấy
sự phát triển mạnh mẽ của Hội LHPN Việt Nam. Đó là là sự
tưởng thành mạnh mẽ về cơ cấu tổ chức, về khả năng tập hợp
lực lượng. Đây thực sự là bước tiến đáng ghi nhận trong lịch sử
Nam Việt Nam được thành lập.
Ngày 22-6-1963, Ban Binh vận Trung ương Cục Miền
Nam ra chỉ thị chủ trương đẩy mạnh công tác binh vận, địch
vận và phá ấp chiến lược đề cập công tác phụ nữ.
Bước sang năm 1965, trước những bước tiến mới của cuộc
chiến tranh cách mạng, Trung ương Đảng, Trung ương Cục
13
miền Nam đã có nhiều Chỉ thị, Nghị quyết về công tác vận
động phụ nữ, đẩy mạnh hơn nữa phong trào của quần chúng
phụ nữ tham gia vào đấu tranh cách mạng.
Ngày 6-3-1965, Trung ương Cục miền Nam đã tổng kết
công tác phụ vận và ra Nghị quyết về công tác phụ vận nhằm
đẩy mạnh phong trào phụ nữ.
Đại hội đại biểu lần thứ I, Hội LHPN giải phóng miền
Nam Việt Nam được tổ chức vào ngày 8-3-1965 tại căn cứ
Dương Minh Châu (Tây Ninh), gần 500 đại biểu thay mặt cho
hơn 2 triệu hội viên các địa phương đã về dự Đại hội. Đại hội
đã nhấn mạnh các nhiệm vụ: Kiên quyết đấu tranh chống mọi
hoạt động áp bức, bóc lột, khủng bố giết chóc, chà đạp nhân
phẩm đạo đức của đế quốc Mỹ và tay sai, triệt để bênh vực mọi
quyền lợi thiết thân cho mọi tầng lớp phụ nữ; Cùng với toàn
dân kiên quyết đấu tranh đánh đổ đế quốc Mỹ xâm lược, đánh
đổ mọi chế độ bù nhìn phản dân hại nước, tay sai của đế quốc
Mỹ, thành lập chính quyền liên hiệp dân tộc dân chủ ở miền
Nam, giành độc lập dân chủ và hòa bình, tiến tới thống nhất Tổ
quốc, thực hiện nam nữ bình đẳng, từng bước giải phóng phụ
nữ; Phát động phong trào thi đua “Năm tốt”. Bà Nguyễn Thị
Định – Phó Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền
phóng miền Nam, đánh bại âm mưu thâm độc, đen tối của đế
quốc Mỹ, thực hiện Đại hội phụ nữ Việt Nam lần thứ III (31961), Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động
trong toàn thể phụ nữ miền Bắc phong trào thi đua “Năm tốt” ở
miền Bắc (1961) với nội dung:
- Đoàn kết, sản xuất, tiết kiệm tốt
15
- Chấp hành chính sách tốt
- Tham gia quản lý tốt
- Học tập chính trị, văn hoá, kỹ thuật tốt
- Xây dựng gia đình, nuôi dạy con tốt. [4,tr5]
Phong trào diễn ra sôi nổi rộng khắp với khẩu hiệu: “Cần
kiệm xây dựng Tổ quốc, cần kiệm xây dựng gia đình, phấn đấu
thực hiện nam nữ bình đẳng”.[ 4,tr5]. Phong trào “Năm tốt” đã
động viên phụ nữ đẩy mạnh sản xuất, công tác, nuôi con khỏe,
dạy con ngoan, xây dựng gia đình thuận hòa, hạnh phúc.
Thi hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11, 12 của Ban chấp
hành Trung ương Đảng, tháng 3-1965, Trung ương Hội LHPN
Việt Nam phát động phong trào phụ nữ “Ba đảm nhiệm”. Sau
đó phong trào đã được Bác Hồ đổi tên thành “Ba đảm đang”.
Phong trào thi đua phong trào thi đua “Ba đảm đang” với
3 nội dung:
- Đảm nhiệm sản xuất và công tác thay thế cho nam giới đi
chiến đấu
- Đảm nhiệm gia đình khuyến khích chồng con yên tâm
chiến đấu
- Đảm nhiệm phục vụ chiến đấu. [4,tr5]
Phong trào “Ba đảm đang” là một phong trào cách mạng
của quần chúng phụ nữ, lôi cuốn đông đảo các tầng lớp phụ nữ
Về sức của: Ở hậu phương, hàng chục triệu phụ nữ đã
không quản ngày đêm, bom đạn, vừa hăng hái thi đua lao động
sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Chị em
nông dân “tay cày, tay súng”, đảm đang thay nam giới làm chủ
ruộng đồng, quản lý hợp tác xã với tinh thần “Ruộng rẫy là
17
chiến trường, cuốc cày là vũ khí”. Hàng chục vạn nữ công nhân
“tay búa, tay súng” hưởng ứng khẩu hiệu “Mỗi người làm việc
bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, làm việc với quyết tâm “tim
có thể ngừng đập, máy không thể ngừng chạy”; tham gia phong
trào thi đua “luyện tay nghề, thi thợ giỏi” nêu cao tinh thần làm
chủ tập thể, ra sức phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật.
Về tinh thần: Không chỉ chi viện về sức người sức của,
lực lượng phụ nữ còn là hậu phương vững chắc, là chỗ dựa tinh
thần vững chắc để các chiến sĩ yên tâm chiến đấu. Sự động viên
về tinh thần có ý nghĩa to lớn, là nguồn cổ vũ lớn lao vào sự
nghiệp đấu tranh trường kỳ giành độc lập dân tộc.
2.2.2. Hội liên hiệp phụ nữ giải phóng miền Nam Việt
Nam trong công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất
nước
2.2.2.1. Trong sản xuất
Sau kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, đế quốc
Mỹ vào miền Nam Việt Nam, âm mưu chia cắt và xâm lược
miền Nam Việt Nam với nhiều hình thức và thủ đoạn, tiến hành
các chiến dịch đàn áp, khủng bố hết sức dã man phong trào
cách mạng khiến cách mạng miền Nam phải trải qua những
năm, tháng khó khăn nhất, trong đó phụ nữ miền Nam liên tiếp
phải đương đầu với những thách thức nghiêm trọng.
nữa vào công tác đấu tranh vũ trang, đấu tranh du kích, xây
dựng xã chiến đấu và bảo vệ xóm làng đã giải phóng. Lực
lượng phụ nữ tích cực hưởng ứng và tham gia đông đảo các
công tác như xây dựng xã chiến đấu, phá hoại, đào địa đạo,
trồng cây gây rừng, tạo chướng ngại vật, tham gia chống phá ấp
19
chiến lược, gia nhập các lực lượng quân đội.
“Phong trào địa đạo” của phụ nữ ở khắp các xã vùng giải
phóng tăng lên rất mạnh, phụ nữ tham gia đào hố đinh, đổ xi
măng làm bàn chông đinh đánh giặc, xây dựng căn cứ của ta,
phá hoại cơ sở địch và đạt nhiều thành tích.
Suốt các giai đoạn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, phụ
nữ miền Nam góp phần to lớn nhằm đánh bại cuộc “Chiến
tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hoá chiến
tranh” của bọn Mỹ Ngụy. Lực lượng phụ nữ đã đấu tranh trực
diện với bọn Mỹ - Ngụy và bọn chư hầu. “Đội quân tóc dài” đã
kiên cường và liên tục đấu tranh phá ấp chiến lược, chống bình
định nông thôn, chống hành quân càn quét, chống phi pháo huỷ
diệt và dồn quân bắt lính của Mỹ - Nguỵ.
“Đội quân tóc dài” đã góp phần to lớn vào thắng lợi vẻ
vang của dân tộc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Đảng ta đã đánh giá: Phụ nữ miền Nam không những có thành
tích lớn trong đấu tranh binh vận mà còn tỏ ra có năng lực lớn
trong đấu tranh vũ trang.
Gắn liền với “Đội quân tóc dài” là Phó tổng tư lệnh các
lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị
Định. Năm 1961, bà được bầu làm Hội trưởng Hội Liên hiệp
Phụ nữ giải phóng miền Nam, bà đã có công rất lớn trong việc
hành đường lối, chính sách cán bộ nói chung và chính sách đối
với cán bộ nữ ở các cấp, các ngành nói riêng đã dần dần đi vào
phương hướng đúng đắn và ngày càng được tăng cường.
Về chính trị, tư tưởng: Công tác giáo dục chính trị tư
tưởng cho phụ nữ đã được đề cao. Giáo dục phụ nữ hiểu rõ
21
cách mạng XHCN là cuộc cách mạng sâu sắc nhất, triệt để
nhất, là sự nghiệp đấu tranh lâu dài, gian khổ. Chỉ xây dựng
thành công CNXH thì mới có những điều kiện triệt để để giải
phóng phụ nữ.
Về công tác tổ chức Hội: Là một tổ chức vừa có tính chất
giới, vừa có tính chất quần chúng, Hội LHPN Việt Nam đã
tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng cách mạng,
phẩm chất đạo đức, lối sống, đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Như vậy, có thể thấy rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng và
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Hội LHPN Việt Nam tự hào lớn
lên cùng đất nước. Suốt chặng đường lịch sử vinh quang, hào
hùng của hai cuộc chiến tranh, Hội đã không ngừng phát triển,
sáng tạo, linh hoạt trong xác định mục tiêu, nhiệm vụ từng thời
kỳ để kịp thời đáp ứng trọng trách mà Đảng và Nhà nước giao
phó.
2.3. MỘT SỐ KẾT QUẢ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
2.3.1. Kết quả
- Thành tựu:
Những thành tựu mà phong trào phụ nữ đã đạt được khái
quát trong báo cáo tại Đại hội phụ nữ Việt Nam lần thứ IV
(tháng 3-1974) như sau:
còn bộc lộ một số nhược điểm, thiếu sót sau đây:
Tinh thần làm chủ tập thể, trình độ văn hóa, nghề nghiệp,
kỹ thuật của phụ nữ chưa theo kịp với yêu cầu của cách mạng.
Điều kiện lao động, đời sống, sức khỏe của phụ nữ còn
nhiều khó khăn.
23
Tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp Hội chưa theo kịp
phong trào phụ nữ ngày càng lớn mạnh.
2.3.2. Bài học kinh nghiệm
Từ thực tiễn phong phú của phong trào phụ nữ Việt Nam,
chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm sau đây:
Thứ nhất, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là
nhân tố quyết định mọi thắng lợi của phong trào phụ nữ, của sự
nghiệp giải phóng phụ nữ.
Thứ hai, để động viên và phát huy cao độ mọi khả năng
của các tầng lớp phụ nữ phục vụ cho sự nghiệp cách mạng cần
phát động phong trào vừa đáp ứng yêu cầu của cách mạng, vừa
phù hợp với đặc điểm, nguyện vọng của phụ nữ.
Thứ ba, phát huy vai trò, tác dụng của Hội trong việc giáo
dục, động viên, tổ chức phụ nữ thực hiện nhiệm vụ chính trị
của Đảng, đại diện cho quyền lợi, nguyện vọng của các tầng
lớp phụ nữ.
Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ để đáp ứng yêu cầu
chung của cách mạng và đẩy mạnh phong trào phụ nữ, hoàn
thiện tổ chức Hội phụ nữ cả về số lượng và chất lượng.
Tiểu kết chương 2
Vai trò của phụ nữ Việt Nam được thể hiện qua các phong
trào “Năm tốt”, “Ba đảm đang”. Có được những thành công đó