Nghiên cứu mô hình tối ưu hệ thống tổ chức lưu trữ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào - Pdf 25

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
 MANIVONG CHAMLONG

NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH TỐI ƯU
HỆ THỐNG TỔ CHỨC LƯU TRỮ
NƯỚCCỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH LƯU TRỮ

NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH TỐI ƯU
HỆ THỐNG TỔ CHỨC LƯU TRỮ
NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH LƯU TRỮ

Mãsố: 60 32 24
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. VƯƠNG ĐÌNH QUYỀN
7

MỤC LỤC
Trang
Phầnmởđầu
01
1. Lý do chọnđềtài
01
2. Mụctiêunghiêncứuđềtài
03
3. Đốitƣợngvàphạm vi nghiêncứuđềtài
03
4. Nhiệmvụnghiêncứuđềtài

giacủamộtsốnướctrênthếgiớihiệnnay 18
1.2.3. Nhữngyêucầuchungvềxâydựnghệthốngtổchức
Lưutrữcủanước CHDCND Lào

30
8

1.2.4. Nhữngcăncứcầnđượcxemxét khi xâydựnglưutrữ
cơquan, kho, cáctrungtâmlưutrữlịchsử

32
Tiểukếtchƣơng 1
38
Chƣơng 2 : HệthốngtổchứclƣutrữNhànƣớc
củanƣớc CHDCNDLàohiệnnay

39
2.1.Sơlƣợcquátrìnhhìnhthànhcơquanquảnlýlƣutrữ
Nhànƣớc CHDCND Lào

39
2.2. HệthốngtổchứclƣutrữNhànƣớc CHDCND Lào
hiệnnay

42
2.2.1. CụcLưutrữQuốcgiaLào
42

3.1.2. Cáccơquansựnghiệptrựcthuộc
CụcLưutrữQuốcgia

73
3.1.2.1. TrungtâmLưutrữQuốcgia:
73
3.1.2.2. Cáccơquanđàotạo, bồidưỡngcánbộlưutrữ
77
9

3.1.3. TổchứclưutrữhiệnhànhcủacácBộ, ngành TW
78
3.1.4. Tổchứclưutrữchuyênngành
79
3.2.Hệthốngcáccơquan, tổchứclƣutrữ ởđịaphƣơng
82
3.2.1. Lưutrữcấptỉnh
82
3.2.2. Lưutrữcấphuyện
3.2.3. Lưutrữcấpbảnlàng
84
85
3.4. Cácgiảipháptriểnkhaithựchiện
88
3.4.1. Nângcaosựhiểubiếtvànhậnthứccủalãnhđạocác
cấpvềtầmquantrọngvềgiátrịcủatàiliệulưutrữ

88
3.4.2. Thểchếhóahệthốngtổchứclưutrữnước
CHDCND Làobằngcácvănbản qui phạmphápluật

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài.

Tài liệu lưu trữ là di sản văn hóa có giá trị nhiều mặt của mỗi dân tộc,
quốc gia. Đó là nguồn sử liệu phản ánh một cách chân thực, chính xác những
thành tựu trong quá trình đấu tranh, lao động sáng tạo cả về vật chất và tinh thần
của nhân loại qua các thời kỳ lịch sử.
Nhận thức được vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng và giá trị của tài liệu lưu
trữ, mỗi quốc gia đều có những chủ trương, biện pháp khác nhau nhằm tổ chức
quản lý tốt nhất đối với những di sản văn hóa đặc biệt này. Một trong những
biện pháp mang tính quyết định là phải xây dựng một hệ thống tổ chức lưu trữ
hoàn chỉnh, hoạt động có hiệu quả từ TW đến địa phương.Ở nước CHDCND
Lào vấn đề tổ chức, thiết lập các cơ quan quản lý lưu trữ đã sớm được quan tâm.
Nhân dân các bộ tộc Lào có lịch sử và văn hóa lâu đời.Cuộc đấu tranh
dựng nước và giữ nước đã để lại cho nhân dân các bộ tộc Lào và nhân loại
nhiều di sản văn hóa đặc biệt quý giá.Một trong những di sản đó là tài liệu lưu
trữ của Quốc gia Lào, bao gồm tài liệu cổ được viết trên lá cọ (được bảo quản
trong các chùa chiền và hoàng cung trước đây), tài liệu được viết trên giấy và
ghi trên những vật mang tin khác nhau. Đặc biệt từ khi Đảng Nhân dân Cách
mạng Lào ra đời ( ngày 22 tháng 3 năm 1955), Đảng đã lãnh đạo nhân dân các
bộ tộc Lào đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước. Trong quá
trình này, đã sản sinh ra nhiều tài liệu lưu trữ quí giá. Những tài liệu đó đã phản
ánh trung thực sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng trong cuộc đấu tranh cách mạng
anh dũng giành thắng lợi vẻ vang và quá trình xây dựng đất nước của nhân dân
các bộ tộc Lào. Tài liệu lưu trữ Quốc gia Lào là di sản vô giá cần được bảo vệ
an toàn và sử dụng có hiệu quả phục vụ cho sự nghiệp xây dựng kinh tế, phát
triển văn hóa, bảo vệ Tổ quốc hiện nay và cho muôn đời con cháu các bộ tộc
Lào mai sau.
Từ sau năm 1975, hệ thống tổ chức lưu trữ Nhà nước CHDCND Lào đã

12

Việc tổ chức hợp lýcác hoạt động quản lý bao giờ cũng là yếu tố quan trọng
hàng đầu để đem lại kết quả trong công tác quản lý của bất kể ngành nào trong
xã hội.
Vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài :„„Nghiên cứu mô hình tối ưu hệ thống tổ
chức lưu trữ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào‟‟ để làm luận văn thạc sĩ
về chuyên ngành lưu trữ, nhằm góp phần của mình vào việc giải quyết vấn đề
quan trọng nói trên, dẫu biết đây là vấn đề không chút đơn giản.
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài.
Với đề tài này, chúng tôi muốn giải quyết hai mục tiêu cơ bản sau:
Một là, nghiên cứu thực trạng hệ thống tổ chức lưu trữ của Nhànước
CHDCND Lào, rút ra được những ưu điểm và tồn tại của hệ thống tổ chức lưu
trữ này đối với việc quản lý nhà nước về công tác lưu trữ và tập trung quản lý
tài liệu lưu trữ Quốc gia Lào.
Hai là, trên cơ sở thực trạng của hệ thống tổ chức lưu trữnước CHDCND
Lào, đề xuất ý kiến của tác giả về mô hình tối ưu hệ thống tổ chức lưu trữ của
Nhà nước CHDCND Lào và các giải pháp triển khai thực hiện. Mô hình này sẽ
giúp cho cán bộ lưu trữ Lào nói chung, Cục Lưu trữ Quốc gia Lào nói riêng
tham khảo vận dụng để đảm bảo có một hệ thống tổ chức lưu trữ ổn định phù
hợp với thực tiễn và yêu cầu của ngành lưu trữ trong giai đoạn hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài.
Đối tượng nghiên cứu : Nghiên cứu chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức
và đội ngũ cán bộ lưu trữ của hệ thống tổ chức lưu trữ Nhà nước CHDCND Lào
hiện tại và thời gian tới.
Hiện nay, ở nước CHDCND Lào có hai hệ thống tổ chức lưu trữ hoạt
động độc lập. Đó là hệ thống tổ chức lưu trữ của Đảng Nhân dân Cách mạng
Lào ( Cục Lưu trữ trực thuộc Văn phòng TW Đảng Nhân dân Cách mạng Lào)
và hệ thống tổ chức lưu trữ của Nhà nước Lào ( Cục Lưu trữ Quốc gia trực
thuộc Bộ Nội vụ).Trong đề tài này, chúng tôi chỉ nghiên cứu đề xuất mô hình

14

Các đề tài trên cũng đã đề xuất về hệ thống tổ chức mạng lưới lưu trữ và
đề ra các giải pháp thực hiện, từ việc nghiên cứu lịch sử hình thành của nhà
nước; đặc điểm tài liệu lưu trữ; cơ sở khoa học và thực tiễn của tổ chức lưu trữ
Lào.Cục Lưu trưc Quốc gia Lào đã trình Đề án trên lên cơ quan có thẩm quyền
nhưng Đề án đã không được phê duyệt. Chính phủ yêu cầu Cục Lưu trữ Quốc
gia Lào phải nghiên cứu lại, để cho phù hợp với tình hình kinh tế văn hóa xã hội
của đất nước. Ngoài ra, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu hay tài liệu
riêng nào đề cập đến mô hình tối ưu hệ thống tổ chức lưu trữ của Nhà nước
CHDCND Lào, dù dưới dạng sơ khai nhất. Chúng tôi đã nghiên cứu, tham khảo
đề án và khóa luậntốt nghiệp đã nêu trên với mục đích kế thừa ưu điểm, bổ sung
những thiếu sót,mạnh dạn đưa ra những đề xuất phù hợp với thực tiễn và các
giải pháp để triển khai thực hiện cụ thể hơn.
Qua tìm hiểu của chúng tôi, ở Việt Nam và một số quốc gia khác, việc
nghiên cứu về lý luận và thực tiễn tổ chức lưu trữ đã đạt được những kết quả
nhất định, cho nên đã giải quyết được nhiều vấn đề thiết thực về lĩnh vực
này,nhất là ở Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu như là:
- Đề tài khoa học cấp ngành, Cục Lưu trữ nhà nước, Hà Nội 1990,
Vương Đình Quyền, chủ trì : Lý luận và thực tiễn về tổ chức mạng lưới các
kho lưu trữ ở Việt Nam.
- Luận văn thạc sỹ khoa học của Trần Thanh Tùng: Hoàn thiện hệ
thống tổ chức lưu trữ nhà nước, Hà Nội- 2003,
- Đề tài : Cơ sở khoa học để tổ chức quản lý nhà nước về công tác lưu
trữ. Chủ nhiệm đề tài: Dương Văn Khảm, Năm 2005, . v.v…
Những đề tài trên đã trình bày cơ sở lí luận về tổ chức mạng lưới lưu trữ,
những ưu điểm và hạn chế về hệ thống tổ chức lưu trữ nhà nước ở Việt Nam, đề
xuất về xây dựng và hoàn thiện hệ thống tổ chức lưu trữ của nhà nước phù hợp
với thực tiễn Việt Nam. Có thể nói, đó là nhữngtài liệu tham khảo bổ ích
chochúngtôi trong việc tìm hiểu các cơ sở khoa họcvề xây dựng hệ thống tổ

thừa, phát triển và đưa ra những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong
hệ thống tổ chức lưu trữ của Nhà nước Lào.
16

-Phương pháp so sánh:Phương pháp so sánh được xem là một phương
pháp cần được vận dụng trong nghiên cứu đề tài, để thấy rõ sự khác nhau giữa
mô hình về hệ thống tổ chức của Nhà nước Lào với các nước trên thế giới.
Phương pháp này, còn cho phép đánh giá sự thành công của công tác lưu trữ
Nhà nước Lào nói chung và hệ thống tổ chức lưu trữ nói riêng từ khi thành lập
nước CHDCND Lào đến nay và tương lai.
- Phương pháp khảo sát thực tế: Chúng tôi đã tiến hành khảo sát về tổ
chức, quản lý công tác văn thư và lưu trữ của các cơ quan, tổ chức ở TW và một
số địa phương, trong đó chủ yếu là khảo sát về hệ thống tổ chức lưu trữ ở cấp
TW.
Ngoài các phương pháp trên, trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi
còn sử dụng kết hợp một số phương pháp khác như: mô tả, phỏng vấn…
8. Đóng góp của đề tài.
Đề tài nếu được triển khai và thực hiện tốt, sẽ có những đóng góp nhất
định :
Thứ nhất, về thực tiễn quản lý đề tài cho chúng ta thấy toàn cảnh thực
trạng cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức lưu trữ Nhà
nước Lào. Qua đó, thấy được sự cần thiết phải nghiên cứu mô hình tối ưu hệ
thống tổ chức lưu trữ Nhà nước CHDCND Lào.
Thứ hai, kết quả nghiên cứu của đề tài cả về mặt lý luận và thực tiễn có
thể giúp cơ quan có thẩm quyền tham khảo để xây dựng một mô hìnhvề hệ
thống tổ chức lưu trữ phù hợp và tối ưu nhất đối với Nhà nước CHDCND Lào
hiện nay.

9.Bố cục của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần

cứu, chúng tôi đưa ra những nhận xét và kiến nghị nhằm xây dựng một mô hình
tối ưu hệ thống tổ chức lưu trữ Nhà nước CHDCND Lào.

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã gặp nhiều khó khăn trong
việc tìm kiếm khai thác các tư liệu. Đặc biệt là các tài liệu, tư liệu liên quan đến
18

tổ chức lưu trữ chuyên ngành của Bộ An ninh, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại
giao… Bởi lẽ, đây là những tài liệu thuộc danh mục tài liệu mật của các cơ
quan. Ngoài ra, do phạm vi nghiên cứu rộng sẽ không cho phép chúng tôi có
điều kiện thời gian và vật chất để khảo sát trực tiếp toàn bộ cơ cấu tổ chức, chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và đội ngũ cán bộ của tất cả các cơ quan, đơn vị.
Bên cạnh những khó khăn khách quan, về mặt chủ quan là do trình độ của
bản thân tác giả còn hạn chế. Vì vậy, mặc dù đã rất cố gắng nhưng do đây là
một đề tài khó và phức tạp nên không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Là
học viên nước ngoài, phải nói thực sự tôi đã gặp nhiều khó khăn về sử dụng
tiếng Việt Nam. Nhưng tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình của các thầy, cô
giáo của Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng, Trường ĐHKHXH&NV,
ĐHQGHN, đặc biệt là thầy giáo PGS.Vương Đình Quyền, là người trực tiếp
hướng dẫn khoa học tôi. Nhân đây, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu
sắc về sự quan tâm, giúp đỡ quí báu đó.
Một lần nữa, tôixin gửi lời cảm ơn sâu sắc, chân tình và không bao giờ
quên công ơn của các thầy, cô giáo đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập,
nghiên cứu. Tôi rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy, cô
giáo và các bạn.
Hà nội, ngày 01 tháng 01 năm 2013

H

c viên : Manivong Chamlong

sơn).
Nhu cầu thống nhất cả về quân sự, chính trị, kinh tế của ba vùng để chống
lại sự xâm lược từ bên ngoài đã được Chậu Phà Ngừm thực hiện năm 1353,
Vương quốc Lạn Xạng ra đời (Vương quốc triệu voi), đặt kinh đô tại Xiềng
Đông- Xiềng Khọ. Để xây dựng và phát triển đất nước, Phà Ngừm thiết lập một
hệ thống chính quyền từ trung ương đến địa phương, chia vương quốc thành các
Châu, Mường ; xây dựng và phát triển đạo Phật thành công cụ tinh thần để củng
cố nhà nước thống nhất, chống lại mưu đồ cát cứ của các Châu, Mường và chú
trọng quan hệ với các nước láng giềng. Sau hơn một thế kỷ, Lạn Xạng trở thành
20

một quốc gia hùng mạnh, tuy mức độ tập quyền chưa cao, nhưng nhà nước
trung ương đã kiểm soát được các địa phương và đã chống lại quân xâm lược
Aythia (Thái Lan) vào năm 1535 và năm 1540.
Năm 1560, kinh đô Viêng Chăn được xây dựng và trở thành thủ đô của
nước Lạn Xạng. Nửa cuối thế kỷ XVI, dưới sự lãnh đạo của Vua Xết Thạ Thị
Lát, một lần nữa nhân dân Lạn Xạng đã chống lại quân xâm lược Avạ (Miến
Điện) vào các năm 1563, 1569 và 1574 nhà nước phong kiến Lạn Xạng rơi vào
tay phong kiến Miến Điện trong vòng 24 năm. Trải qua đấu tranh, năm 1598, đã
đánh đuổi được ngoại xâm, Pha Vô Ra Vông Xổ lên ngôi vua và tuyên bố Lạn
Xạng là một quốc gia độc lập. Vào nửa sau thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII sau
khi vua Xu Li Nhạ Vông Xả chết, nhà nước quân chủ tập quyền tan rã, đất nước
lại bị chia làm ba tiểu quốc : Mường Luông Pra Băng, Mường Viêng Chăn,
Mường Chăm Pa Sắc và thường xuyên xẩy ra các tranh chấp giữa các Mường.
Thực trạng nàyđã tạo cơ hội cho nước láng giềng phong kiến Xiêm xâm chiếm
vào năm 1779.Hiệp ước Pháp- Xiêm ngày 03 tháng 10 năm 1803 đã buộc triều
đình phong kiến Xiêm từ bỏ chủ quyền ở Lào.
Năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập, cuộc đấu tranh của
nhân dân các bộ tộc Lào bước sang một thời kỳ mới. Năm 1945, Mặt trận Neo
Lào Ít Xạ Lạ đượcthành lập; vào tháng 8 năm 1945 Chính phủ lâm thời Ít Xạ Lạ

thắng. Ngày 02 tháng 12 năm 1975, Đại hội đại biểu nhân dân toàn Lào lần thứ
hai tuyên bố xoá bỏ chế độ quân chủ, thành lập chế độ Cộng hòa dân chủ nhân
dân; chấp nhận thoái vị của Vua Xí XạVàng Vát Thạ Na; tuyên bố giải thế các
cơ quan quyền lực nhà nước cũ, gồm Chính phủ Liên hiệp dân tộc lâm thời và
Hội đồng Quốc gia Chính trị liên hiệp; thông qua quyết định thành lập nước
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Từ đây, nước Lào bước vào thời kỳ xây dựng
chế độ dân chủ nhân dân, độc lập, tự chủ, thống nhất và thịnh vượng.
Như vậy, nhân dân các bộ tộc Lào trong quá trình dựng nước và giữ nước
đã viết nên những trang sử hào hùng phản ánh các thời kỳ lịch sử phong kiến,
thực dân và thời kỳ dân chủ nhân dân, để lại một nền văn hoá độc đáo mang bản
sắc dân tộc. Nhiều tài liệu lưu trữ quý giá của Lào đã được lưu truyền từ thế hệ
22

này sang thế hệ khác là bằng chứng lịch sử đáng tin cậy nhất của nhân dân các
bộ tộc Lào. Tài liệu lưu trữ Quốc gia Lào phản ánh từng thời kỳ lịch sử của
nhân dân các bộ tộc Lào,là nguồn sử liệu hết sức quý giá để nghiên cứu lịch sử
và là cơ sở quan trọng để nghiên cứu xây dựng mô hình hệ thống tổ chức lưu trữ
của Nhà nước CHDCND Lào hiện nay.
1.1.2.Cơ cấu tổ chức của Nhà nƣớc CHDCND Lào hiện nay.
Nhà nước CHDCND Lào được tổ chức và hoạt động theo cơ chế đảng
lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ vì mục tiêu hòa bình, độc lập,
dân chủ, thống nhất, thịnh vượng và tiến bộ xã hội. Các tổ chức cấu thành hệ
thống chính trị gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận yêu nước, các tổ chức chính trị -
xã hội từ TW đến địa phương. Bản đồ đơn vị hành chính nước CHDCND Lào Thạt Luổng là biểu tượng Quốc gia Lào

Hiến pháp năm 2003 nước CHDCND Lào khẳng định: Nhà nước, Chính
quyền dân chủ nhân dân các cấp là của nhân dân và do nhân dân xây dựng.

17. Bộ Khoa học và Công nghệ 18. Bộ Tài nguyên và Môi trường
19. Thanh tra Chính phủ 20. Ngân hàng Quốc gia
21. Văn phòng Chính phủ.

Một đặc điểm, trong cơ cấu tổ chức ở cấp Bộ là có nhiều Cục, Tổng Cục,
Công ty trực thuộc như : Cục Đo đạc Bản đồ và Cục Lưu trữ Quốc gia trực
thuộc Bộ Nội vụ ; Cục Khí tượng- Thủy văn thuộc Bộ Tài nguyên và Môi
24

trường; Đài phát thanh và Truyền hình Lào thuộc Bộ Văn hóa- Tuyên truyền và
Du lịch,.v.v…
Về tổ chức bộ máy nhà nước địa phương củanước CHDCND Lào, như
trên đã nêu được xây dựng ở 03 cấp: Tỉnh, huyện và bản làng, hoạt động theo
nguyên tắc tập trung thống nhất tạo thành một cơ chế đồng bộ.Nước CHDCND
Lào hiện có 17 tỉnh, đó là:
1. Thủ đô Viêng Chăn (thành phố trực thuộc TW);
2. Tỉnh Phông Xa Lỳ;3. Tỉnh Luông Nậm Thà;
4. Tỉnh U Đôm Xay;5.Tỉnh Bò Kẹo;
6. Tỉnh Luông Pra Băng;7. Tỉnh Hủa Phăn;
8. Tỉnh Xay Nhạ Bu Ly; 9. Tỉnh Xiêng Khoảng;
10. Tỉnh Viêng Chăn;11.Tỉnh Bò Ly Khăm Xay;
12.Tỉnh Khăm Muộn;13.Tỉnh Sạ Vắn Nạ Khết;
14. Tỉnh Xa La Văn;15.Tỉnh Xê Koong;
16. Tỉnh Chăm Pa Sắc;17.Tỉnh Át Tạ Pư. Cơ cấu tổ chức cấp tỉnh gồm có: Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân
dân tỉnh, các sở, ngành trực thuộc UBND tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh.
Cơ cấu tổ chức cấp huyệngồm có: Hội đồng nhân dân huyện, Ủy ban

Ghi chú:
Trật tự hình thành
Chỉ quan hệ lãnh đạo và bị lãnh đạo

UBND
CẤP BẢN LÀNG

QUỐC
HỘI

CHỦ TỊCH
NƢỚC

CHÍNH PHỦ

VKSND
TỐI CAO

VKSND
CẤP TỈNH
VKSND

thống tổ chức lưu trữ‟‟.
1.2.1. Khái niệm ‘‘Mô hình tối ưu hệ thống tổ chức lưu trữ ’’
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam,„„mô hình‟‟ có hai nghĩa :
Theo nghĩa hẹp, mô hình là „„mẫu, khuôn, tiêu chuẩn theo đó mà chế tạo ra sản
phẩm hàng loạt, là thiết bị, cơ cấu tái hiện hoặc bắt chước cấu tạo và hoạt động
của cơ cấu khác (của nguyên mẫu hay cái được mô hình hóa) vì mục đích khoa
học và sản xuất‟‟;
Theo nghĩa rộng, mô hình là „„hình ảnh(hình tượng, sơ đồ, sự mô tả,v.v.) ước lệ
của một khách thể (hay một hệ thống các khách thể, các quá trình hoặc hiện
tượng). Khái niệm mô hình được sử dụng rộng rãi trong triết học, tin học, kinh
tế học, toán học, ngôn ngữ học và các khoa học khác‟‟…[20 ;932]
„„Tối ưu‟‟có nghĩa là tốt nhất, đưa lại hiệu quả tốt nhất. Như vậy „„ Mô hình tối
ưu‟‟ là mô hình hợp lý nhất.
„„Hệ thống‟‟ là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có
quan hệ hoặc liên hệchặt chẽ với nhau, làm thành một thể thống nhất, là phương
pháp, cách thức phân loại, sắp xếp sao cho có trật tự lôgíc.
„„Hệ thống tổ chức lưu trữ‟‟ được hiểu là hệ thống các cơ quan lưu trữ
trong cả nước, để thực hiện chức năng quản lý công tác lưu trữ của một quốc
gia, hệ thống tổ chức lưu trữ gồm hai loại cơ quan chính như : Cơ quan quản lý
nhà nước về công tác lưu trữ và cơ quan tập trung quản lý tài liệu lưu trữ như
các trung tâm, viện hoặc kho lưu trữ.
Trên cơ sở khái niệm các từ và cụm từ nói trên, có thể giải thích ‘‘Mô
hình tối ưu hệ thống tổ chức lưu trữ’’ của một quốc gia là một hệ thống các
cơ quan lưu trữ từ TW đến địa phương có chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ
27

chức hợp lý nhất, được liên kết với nhau một cách lôgíc, có quan hệ chặt chẽ
với nhau để thực hiện hai chức năng cơ bản là : Quản lí nhà nước về công
tác lưu trữ và quản lí tài liệu lưu trữ của quốc gia.
Nên hiểu rằng, tối ưu ở đây chỉ có ý nghĩa tương đối, đặt trong điều kiện

trữ Liên bang‟‟[4 ;46]
Một số nước khác gọi tên cơ quan quản lí nhà nước công tác lưu trữ là
Lưu trữ quốc gia; người đứng đầu lưu trữ quốc gia là giám đốc hoặc tổng giám
đốc. Theo luật lưu trữ của Liên bang Australia ban hành năm 1983 thì gọi là
Lưu trữ Australia. Đứng đầu lưu trữ Australia là một tổng giám đốc. Ngoài tổng
giám đốc còn lập Hội đồng tư vấn về lưu trữ Australia. Hội đồng gồm một nghị
sĩ do Thượng Nghị viện lựa chọn, một thành viên của Hạ viện và các thành viên
khác do Bộ trưởng chỉ định. Tổng giám đốc lưu trữ Australia có quyền được
nhận biên bản họp Hội đồng tư vấn. Tổng giám đốc có thể tham dự bất kỳ cuộc
họp nào của Hội đồng nhưng không có quyền biểu quyết. Ở Inđônêxia theo Luật
số 7 ban hành năm 1971, thì cơ quan quản lí nhà nước về công tác lưu trữ là
Lưu trữ quốc gia. Lưu trữ quốc gia ở TW là nòng cốt của hệ thống lưu trữ ở
Inđônêxia. Các nước như Thái Lan, Malaixia, Singapore cũng gọi là Lưu trữ
quốc gia.
Các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, như Liên Xô, Bungari… Thì cơ
quan quản lí nhà nước về công tác lưu trữ được gọi là Tổng Cục quản lí Lưu trữ.
Đứng đầu cơ quan này là Tổng Cục trưởng. Hiện nay, ở Trung Quốc theo quy
định của Luật Lưu trữ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa do Ủy ban thường
vụ Đại hội đại biểu nhân dân thông qua, ngày 05 tháng 9 năm 1987 là Cục Lưu
trữ nhà nước. Cục có chức năng quản lí nhà nước về công tác lưu trữ, thống
nhất quy hoạch sự nghiệp lưu trữ trong toàn quốc.
- Về chức năng, nhiệm vụ :
Ở Việt Nam hiện nay: Theo Quyết định số : 89/2009/QĐ-TTg, ngày 24
tháng 6 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước
trực thuộc Bộ Nội vụ như sau:
+ Vị trí và chức năng :

Trích đoạn Lưu trữ cấp tỉnh. Lưu trữ cấp huyện. Nóng cao nhận thức của lọnh đạo cõc cấpvề giõ trị của tỏiliệu lưu trữ vỏ tầm quan trọng của cừng tõc lưu trữ. Cừng tõc đỏo tạo bồi dưỡng đội ngũ cõn bộ cần được tiến hỏnh tợch cực, khẩn trương, gấp rỷt ; sử dụng hợp lợ đội ngũ cõn bộ lưu trữ. Tỏiliệu tiếng Việ t:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status