Soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan cấp bộ - Pdf 25

Đại học Quốc gia hà nội
Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
___________________
Nguyễn Mạnh Cường
Soạn thảo và ban hành
văn bản quy phạm pháp luật
của các cơ quan cấp bộ
____________

Tóm tắt luận văn thạc sĩ khoa học
Chuyên ngành: Lưu trữ (Lưu trữ học và Tư liệu học)
Mã số: 60 32 20

Người hướng dẫn khoa học :
PGS. Vương Đình Quyền Hà Nội - 2005 Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Mạnh
Cường


B. PHẦN NỘI DUNG
14

Chƣơng 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SOẠN THẢO VÀ BAN HÀNH VĂN BẢN
QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN CẤP BỘ

14

1.1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan cấp bộ.
14
1.2. Khái niệm, đặc điểm của VBQPPL và thẩm quyền ban hành
VBQPPL của các cơ quan cấp bộ.
15
1.3. Các yêu cầu về soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp
luật.
22
1.4. Thủ tục, quy trình soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của các cơ quan cấp bộ.
33

Chƣơng 2:
TÌNH HÌNH SOẠN THẢO VÀ BAN HÀNH
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN CẤP BỘ. 43
2.1. Tình hình ban hành các văn bản quy định, hướng dẫn về soạn
thảo và ban hành VBQPPL của các cơ quan cấp bộ.

các cơ quan cấp bộ.
101
3.3. Đổi mới về nhận thức và cải tiến phương thức hợp tác, phân
công nhiệm vụ trong việc soạn thảo, ban hành và thẩm định
VBQPPL.
105
3.4. Thường xuyên rà soát và hệ thống hoá các VBQPPL, loại bỏ
những văn bản không còn hiệu lực hoặc chồng chéo, trùng lặp.
112
3.5. Cần tăng cường về số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ tham
gia, thực hiện soạn thảo và ban hành văn bản của các cơ quan cấp
bộ.
113
3.6. Xây dựng và ứng dụng công nghệ hành chính hiện đại vào công
tác soạn thảo và ban hành VBQPPL của các cơ quan cấp bộ.
114
3.7. Đầu tư kinh phí cho công tác soạn thảo và ban hành VBQPPL.
116

C. KẾT LUẬN

117

D. TÀI LIỆU THAM KHẢO

119
Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Mạnh

VBQPPL
07
Văn thư Lưu trữ Việt Nam
VTLTVN
08
Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao
vksndtc

Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Mạnh
Cường
giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật” [14;135]
Có thể thấy rằng việc xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đồng
bộ sẽ góp phần quan trọng vào việc hình thành, củng cố và vận hành thông
suốt, có hiệu quả nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng
thời để thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng trở thành hiện thực trong
xã hội.
Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Mạnh
Cường 5 Trong quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, lập quy là một hình thức
quản lý nhà nước của các cơ quan hành pháp và một số cơ quan tư pháp thông
qua hoạt động xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc
thẩm quyền theo luật định. Các văn bản của hoạt động lập quy nhằm cụ thể
hoá Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quản
lý nhà nước có hiệu quả, hiệu lực. Thẩm quyền của hoạt động lập quy là
Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan chính quyền cấp tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương, cấp huyện, cấp xã và một số cơ quan tư
pháp. Trong đó có sự phân biệt rõ về thẩm quyền của từng chủ thể và các lĩnh
vực lập quy. Các lĩnh vực thuộc thẩm quyền lập quy của Chính phủ bao quát
nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và mang tính thường xuyên, liên tục ở tầm
vĩ mô. Đối với những vấn đề có tính chất chuyên ngành, lĩnh vực hoạt động
thuộc thẩm quyền tự chủ địa phương thì thuộc thẩm quyền lập quy của bộ
hoặc chính quyền địa phương. Trong đó công tác soạn thảo và ban hành văn
bản có vai trò quan trọng trong hoạt động lập quy, đặc biệt đối với những hoạt
động lập quy về các chuyên ngành, lĩnh vực.

VBQPPL của cơ quan cấp bộ là văn bản có cấp độ hiệu lực ở tầm vĩ mô
cuối cùng sau các văn bản của Quốc hội, UBTVQH, Chủ tịch nước, Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời cũng là văn bản hướng dẫn cụ thể, chi
tiết về ngành, lĩnh vực cuối cùng ở cấp Trung ương để đi vào cuộc sống. Tuy
nhiên, công tác soạn thảo và ban hành VBQPPL của các cơ quan cấp bộ hiện
nay chưa được quan tâm đúng mức nên đã bộc lộ một số hạn chế nhất định.
Để đánh gía được thực trạng về công tác này, tìm ra những nguyên nhân và đề
ra một số giải pháp khắc phục đòi hỏi phải có sự nghiên cứu tìm hiểu thực
tiễn. Đây là vấn đề rất lý thú và khá mới, nhưng chưa có nhiều công trình
nghiên cứu. Đó là lý do tôi chọn đề tài: "Soạn thảo và ban hành văn bản quy
phạm pháp luật của các cơ quan cấp bộ" để làm luận văn Thạc sĩ khoa học
của mình.

2. Mục tiêu của đề tài:
Mục tiêu cần đạt được của đề tài:
- Một là, nghiên cứu tìm hiểu thực tiễn để khái quát được về tình hình
soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan cấp bộ
nhằm chỉ ra những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của nó.
- Hai là, đề xuất các giải pháp nhằm góp phần làm tốt hơn công tác này
của các cơ quan cấp bộ.

3. Phạm vi nghiên cứu:
Như trên đã đề cập, trong hoạt động quản lí nhà nước của các cơ quan
cấp bộ theo từng ngành và lĩnh vực được phân cấp, các cơ quan cấp bộ có
thẩm quyền ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật như: quyết định, chỉ
thị, thông tư về các ngành, lĩnh vực mà cơ quan cấp bộ quản lí. Đồng thời
cũng được giao chủ trì hoặc tham gia soạn thảo để ban hành VBQPPL liên
Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Mạnh
Cường


- Nghiên cứu và đề xuất giải pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả
công tác soạn thảo và ban hành VBQPPL của các cơ quan cấp bộ.

5. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Soạn thảo và ban hành văn bản nói chung có vị trí và vai trò quan trọng
trong hoạt động quản lí của các cơ quan. ý nghĩa của nó ngày càng được
khẳng định khi những yêu cầu của công tác quản lí đặt ra ngày càng cao và
những đòi hỏi từ thực tiễn ngày càng gia tăng. Vì vậy soạn thảo và ban hành
Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Mạnh
Cường 8 văn bản đã và đang được đặt thành một trọng tâm nghiên cứu để nâng cao
chất lượng và hoàn thiện hệ thống văn bản phục vụ cho hoạt động quản lí và
công cuộc cải cách hành chính.
Đây là một trong những nội dung quan trọng được đặt ra trong
"Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010"
ban hành kèm theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 và
“Chương trình đổi mới công tác xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng
văn bản quy phạm pháp luật” ban hành kèm theo Quyết định số
909/2003/QĐ-TTg ngày 14/8/2003 của Thủ tướng Chính phủ.
Về lý luận và thực tiễn công tác soạn thảo và ban hành văn bản đã có
một số công trình nghiên cứu, xuất bản phẩm, bài viết của các cán bộ, nhà
nghiên cứu và đề tài nghiên cứu khoa học, khoá luận tốt nghiệp, luận văn thạc
sĩ của các sinh viên đại học, học viên cao học.
Về các xuất bản phẩm gồm: Các giáo trình, sách tham khảo dùng để
giảng dạy trong các trường đại học, học viện, các trường trung học như: "Văn

quy phạm pháp luật và biện pháp xử lý các khiếm khuyết của nó” (Vũ thư,
Tạp chí “Nhà nước và pháp luật” số 01/2003), “Bàn thêm về hoàn thiện hệ
thống pháp luật theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam” (Nguyễn Quốc Sửu, Tạp chí QLNN số 112/2005) vv.
Các luận văn thạc sĩ, khoá luận tốt nghiệp, niên luận của sinh viên, học
viên cao học trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn có khoảng 20 đề
tài nghiên cứu tìm hiểu về hệ thống văn bản, quy trình soạn thảo văn bản, xây
dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản của một cơ quan cụ thể. Chẳng hạn như
luận văn thạc sĩ "Hoàn thiện việc xây dựng ban hành văn bản của Quốc hội
và Văn phòng Quốc hội trong giai đoạn hiện nay" của tác giả Đỗ Thị Thanh;
khoá luận tốt nghiệp "Quy trình soạn thảo, ban hành và quản lí văn bản hành
chính ở cơ quan Bộ Công nghiệp" của tác giả Vũ Thị Nga (năm 1999); khoá
luận tốt nghiệp "Tìm hiểu việc ban hành Quyết định hành chính ở Bộ Văn hoá
Thông tin hiện nay" của tác giả Nguyễn Thị Thuý (2002), vv
Có thể thấy rằng các nội dung nghiên cứu và trình bày trong các xuất
bản phẩm, bài viết, bài nghiên cứu, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp chỉ
tập trung nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận nói chung hoặc chỉ đề
cập đến việc soạn thảo và ban hành văn bản của một cơ quan cụ thể mà chưa
có một công trình nào nghiên cứu một cách tổng hợp về soạn thảo và ban
hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan cấp bộ. Như vậy chúng ta
có cơ sở để khẳng định lý luận và thực tiễn về soạn thảo và ban hành
VBQPPL của cơ quan cấp bộ còn nhiều vấn đề chưa được nghiên cứu một
cách toàn diện và đầy đủ.

6. Các nguồn tƣ liệu chính đƣợc sử dụng:
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng những nguồn tư liệu sau:
- Các văn bản của Nhà nước quy định về các vấn đề có liên quan như:
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996; Luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật (sửa đổi, bổ sung năm 2002); Nghị định số 161/2005/NĐ
Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Mạnh

- Công báo nước CHXHCNVN.
- Hồ sơ, tài liệu lưu trữ của một số cơ quan (Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Bộ Y tế, Bộ Công nghiệp, Bộ Thuỷ sản, Văn phòng
Quốc hội, Văn phòng Chính phủ vv).
- Cơ sở dữ liệu luật Quốc gia, các Báo điện tử, website của các cơ quan
cấp bộ.

7. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Để thực hiện việc nghiên cứu đề tài, trên cơ sở phương pháp lý luận
của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng tôi sử dụng các
Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Mạnh
Cường 11 phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp phân tích, phương pháp
tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống, phương pháp điều tra
xã hội học.

8. Đóng góp của đề tài:
Đóng góp của đề tài nghiên cứu được thể hiện trên các mặt lý luận và
thực tiễn:
- Về mặt lý luận: Đóng góp của đề tài là trình bày một cách hệ thống
những vấn đề liên quan đến soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp
luật nói chung và đối với cơ quan bộ nói riêng. Trong đó đưa ra những vấn đề
mới làm phong phú hơn hệ thống lý luận.
- Về mặt thực tiễn: Đóng góp của đề tài là khái quát lên một bức tranh
toàn cảnh về tình hình thực tiễn công tác xây dựng và ban hành văn bản quy

hiện nay.
Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng và hiệu quả công
tác soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan
bộ.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về soạn thảo và ban hành văn bản của
các cơ quan cấp bộ trình bày ở trên, chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác này ở các cơ quan
cấp bộ. Trong đó có các giải pháp mang tính tổng thể như xây dựng và hoàn
thiện thể chế về soạn thảo và ban hành VBQPPL; các giải pháp mang tính
nghiệp vụ như: đổi mới quy trình, thủ tục soạn thảo và ban hành VBQPPL;
cải tiến phương thức hợp tác và phân công nhiệm vụ; quy hoạch, đào tạo đội
ngũ cán bộ làm công tác soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
đầu tư kinh phí; ứng dụng công nghệ hành chính hiện đại vào công tác soạn
thảo và ban hành VBQPPL để hoàn thiện và nâng cao chất lượng hiệu quả
công tác này trong hoạt động lập quy của các cơ quan cấp bộ.
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi có được những thuận lợi
là được sự giúp đỡ của cán bộ các cơ quan đến khảo sát. Đặc biệt là sự giúp
đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của Nhà giáo ưu tú – PGS. Vương Đình
Quyền - người hướng dẫn tôi làm luận văn này.
Bên cạnh những thuận lợi, chúng tôi cũng gặp rất nhiều khó khăn về
mặt khảo sát và tìm hiểu thực tiễn ở nhiều cơ quan bộ. Việc tiếp cận và xin tư
liệu có những giới hạn nhất định do thời gian hạn hẹp và những quy định của
cơ quan đến khảo sát. Đồng thời đây là đề tài mới nên tài liệu nghiên cứu,
tham khảo về vấn đề này không nhiều và mang tính rời lẻ. Ngoài ra, số lượng
văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan cấp bộ soạn thảo và ban hành lớn
nên việc nghiên cứu cũng không thể tiếp cận hết. Với những khó khăn trên,
chắc chắn sẽ làm cho luận văn này không thể tránh khỏi những khiếm khuyết.
Do đó chúng tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý kiến của các thầy, cô
giáo và các bạn quan tâm để luận văn hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn những người đã giúp tôi trong quá


Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Mạnh
Cường 14 B. PHẦN NỘI DUNG

Chƣơng 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SOẠN THẢO VÀ BAN HÀNH VĂN
BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN CẤP BỘ

1.1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan cấp bộ.
Theo Luật Tổ chức Chính phủ, bộ và cơ quan ngang bộ (gọi chung là
các cơ quan cấp bộ) có vị trí và chức năng như sau: Bộ, cơ quan ngang bộ là
cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các
ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các
dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực; thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn
của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước theo quy định của pháp luật

quản lý nhà nước đối với các dịch vụ công trong lĩnh vực quản lý của Bộ theo
quy định của pháp luật [49].
- Bộ Thương mại là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về thương mại; quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện
đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà
nước thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật [60].
Các cơ quan cấp bộ là một trong những chủ thể có quyền lập quy liên
quan đến những vấn đề thuộc phạm vi quản lí có tính chất nội bộ ngành, lĩnh
vực hoặc những vấn đề được Chính phủ uỷ quyền.
Để thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn và thẩm quyền nói trên, các
VBQPPL do cơ quan cấp bộ soạn thảo và ban hành có vai trò quan trọng đối
với hoạt động quản lí nhà nước nói chung và hoạt động lập quy nói riêng.

1.2. Khái niệm, đặc điểm và thẩm quyền ban hành VBQPPL của
các cơ quan cấp bộ.
1.2.1. Khái niệm về văn bản quy phạm pháp luật.
Trong xã hội có nhà nước, hầu hết các quan hệ xã hội đều được điều
chỉnh bằng pháp luật. Tuy nhiên không phải toàn bộ các quan hệ xã hội phát
sinh trong đời sống xã hội đều được nhà nước điều chỉnh. Tuỳ theo mục đích,
yêu cầu quản lí của nhà nước và các thiết chế xã hội để xác định quan hệ xã
hội nào cần điều chỉnh bằng pháp luật và quan hệ nào dành cho các quy phạm
xã hội điều chỉnh.
Pháp luật là tổng hợp các quy tắc xử sự thể hiện ý chí của nhà nước có
tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và được nhà nước đảm
bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế [29;268]. Để điều chỉnh những quan
hệ xã hội bằng pháp luật, nhà nước phải sử dụng văn bản quản lí nhà nước để
làm phương tiện. Trong đó, nhóm văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng
để thể hiện ý chí của nhà nước và tính quyền lực của nhà nước. Nhóm văn
Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Mạnh
Cường

định tại Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn
bản quy phạm pháp luật. Đặc điểm này liên quan tới thẩm quyền ban hành
VBQPPL.

- Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo thủ tục,
trình tự và thể thức do luật định.
Đây là đặc điểm phân biệt với các hình thức văn bản khác về thẩm
quyền, thủ tục, trình tự và thể thức.
Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Mạnh
Cường 17 Về thẩm quyền ban hành VBQPPL: Văn bản quy phạm pháp luật thuộc
thẩm quyền ban hành của một số cơ quan nhà nước nhất định. Điều này đã
được quy định rõ trong Hiến pháp 1992 và trong chương II của Luật BH
VBQPPL (sửa đổi, bổ sung năm 2002) gồm những cơ quan sau: Quốc hội, Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân
dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân,
Uỷ ban nhân dân.
Về thủ tục và trình tự ban hành VBQPPL: Được quy định và thực hiện
mang tính nguyên tắc bắt buộc. Tuy nhiên tuỳ vào hình thức văn bản, mức độ
quan trọng, hiệu lực và thẩm quyền ban hành mà thủ tục và trình tự có khác
nhau. Nhưng nó có một điểm chung nhất đó là phải thực hiện những quy
trình, thủ tục đó theo quy định của pháp luật.
Về thể thức VBQPPL: Để phân biệt giữa hình thức VBQPPL với hình
thức văn bản hành chính và các hình thức văn bản khác đồng thời tạo điều

- Giả định: Nêu những điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong cuộc
sống mà con người (chủ thể) gặp phải và họ cần phải xử sự theo những chỉ
dẫn, cách thức được ghi trong phần quy định.
- Quy định: Nêu cách xử sự bắt buộc mọi người phải tuân theo khi ở
vào điều kiện, hoàn cảnh phải nêu trong phần giả định.
- Chế tài: Biện pháp tác động của Nhà nước đối với các chủ thể do
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng với những nội dung trong phần
quy định.
Như vậy "Quy phạm pháp luật" là những quy tắc xử sự chung. Đó là
những chuẩn mực mà mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân theo khi tham
gia quan hệ xã hội và được quy tắc đó điều chỉnh.
Các quy phạm pháp luật là quy tắc hành vi thành văn được ghi trong
các hình thức văn bản tương ứng. Nó được thể chế hoá bằng các hình thức
văn bản và đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp của Nhà nước.
Do VBQPPL có chứa các quy tắc xử sự chung nên đối tượng tác động
của văn bản là mọi nhóm đối tượng hoặc nhóm đối tượng có chung hoặc một
số yếu tố như quốc tịch, địa bàn cư trú, nghề nghiệp, thành phần xã hội vv.
Đồng thời các quy phạm đưa ra tình huống dự kiến, khi đối tượng tác động
của quy phạm rơi vào tình huống đó phải xử sự theo cách thức quy phạm định
ra. Tình huống đó có tính lặp lại trên thực tế cho nên các quy phạm sẽ được
sử dụng nhiều lần với mọi đối tượng hoặc một nhóm đối tượng. Mặt khác,
hiệu lực của nó có sự tác động trong phạm vi toàn quốc hoặc từng địa
phương.

- Thứ tư, văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước đảm bảo thực
hiện bằng các biện pháp theo quy định của pháp luật.
Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Mạnh
Cường
phạm pháp luật do các cơ quan cấp bộ ban hành.
Như trên đã nêu, các cơ quan cấp bộ là những cơ quan có chức năng
quản lí nhà nước về các ngành, các lĩnh vực chuyên môn. Trong Hiến pháp
nước CHXHCNVN năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001); Luật
BHVBQPPL, Nghị định số 161/2005/NĐ - CP ngày 27/12/2005 của Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Mạnh
Cường 20 BHVBQPPL và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHVBQPPL) đã
quy định về thẩm quyền ban hành VBQPPL của các cơ quan cấp bộ gồm:
Quyết định, chỉ thị, thông tư, thông tư liên tịch, nghị quyết liên tịch.
Các hình thức văn bản quy phạm pháp luật của bộ, cơ quan ngang bộ
được quy định cụ thể trong Điều 58, mục 2, chương V của Luật BHVBQPPL
(sửa đổi, bổ sung năm 2002) như sau:
- Quyết định của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ quy định về
tổ chức và hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc; quy định các tiêu
chuẩn, quy trình, quy phạm và các định mức kinh tế - kỹ thuật của ngành, lĩnh
vực do mình phụ trách; quy định các biện pháp để thực hiện chức năng quản
lí ngành, lĩnh vực do mình phụ trách và những vấn đề được Chính phủ giao.
Ví dụ:
+ Quyết định số 18/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 06/6/2000 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo v/v ban hành Quy chế đào tạo sau đại học.
+ Quyết định số 02/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 29/01/2001 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo v/v ban hành Quy chế tuyển sinh sau đại học.
+ Quyết định số 19/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 09/4/2002 của Bộ

trách. Ví dụ:
+ Thông tư số 118/2004/TT-BTC ngày 08/12/2004 của Bộ Tài chính
quy định chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị đối với các cơ quan
hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập trong cả nước.
+ Thông tư số 01/2004/TT-BTP ngày 16/6/2004 của Bộ Tư pháp về
hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày
14/11/2003 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật.
+ Thông tư số 01/2004/TT-BKH ngày 02/02/2004 của Bộ Kế hoạch và
Đầu tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số 66/2003/NĐ-CP ngày 12/6/2003
của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đấu thầu.
- Thông tư liên tịch của các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ:
Sử dụng trong trường hợp các bộ, cơ quan ngang bộ cùng phối hợp với nhau
hoặc với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, cơ quan
Trung ương của đoàn thể nhân dân để quy định chi tiết hoặc hướng dẫn thực
hiện các quy định của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
các cơ quan đó (trước đây gọi là thông tư liên bộ). Ví dụ:
+ Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-BKHĐT-BNV ngày 01/6/2004
của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân nhân
quản lí nhà nước về kế hoạch và đầu tư ở địa phương.
+ Thông tư liên tịch số: 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06/5/2005
của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình
bày văn bản .
Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Mạnh
Cường 22


BTWMTTQVN ngày 05/12/2005 về việc ban hành Quy chế về tổ chức và
hoạt động của hội thẩm toà án nhân dân.

Luận văn thạc sĩ khoa học Nguyễn Mạnh
Cường 23 1.3. Các yêu cầu về soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp
luật.
Để VBQPPL phát huy được vai trò, hiệu quả của hoạt động quản lí nhà
nước và đi vào thực tiễn cuộc sống thì văn bản đó phải đáp ứng được một số
yêu cầu cơ bản. Các yêu cầu đó đặt ra như một tiêu chuẩn để đánh giá và so
sánh về chất lượng của công tác soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm
pháp luật trong giai đoạn hiện nay.
Các yêu cầu về soạn thảo và ban hành VBQPPL nói chung và của các
cơ quan cấp bộ nói riêng chưa được các văn bản của Nhà nước quy định một
cách đầy đủ và đồng bộ. Trong Luật BHVBQPPL và Nghị định số
161/2005/NĐ - CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHVBQPPL và Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật BHVBQPPL) chỉ đề cập những quy định chung:
Về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống VBQPPL, tham
gia góp ý kiến xây dựng VBQPPL, hiệu lực của VBQPPL, ngôn ngữ, số và ký
hiệu VBQPPL, đăng công báo, yết thị, đưa tin, gửi và lưu trữ VBQPPL. Văn
bản của các cơ quan cấp bộ cũng không nêu chi tiết và đầy đủ, chỉ đặt ra các
nguyên tắc chung hoặc thậm chí không có quy định về vấn đề này.
Việc nghiên cứu và đặt ra những yêu cầu về soạn thảo và ban hành văn
bản quy phạm pháp luật là rất cần thiết để hoàn thiện và nâng cao chất lượng

ông về tự do, về văn hoá, về luật pháp v.v làm tiêu chuẩn để xét việc xoá bỏ
sở hữu tư sản, thì chẳng cần phải gây sự với chúng tôi làm gì. Chính những tư
tưởng của các ông là con đẻ của chế độ sản xuất và sở hữu tư sản, cũng như
pháp quyền của các ông chỉ là ý chí của giai cấp các ông được đề lên thành
luật pháp, ý chí mà nội dung là do điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp
các ông quy định". [36 ;71]
Từ đó có thể thấy rằng bản chất của pháp luật nước ta khác với pháp
luật của các nhà nước bóc lột ở hai điểm cơ bản:
- Một là, pháp luật của nước ta thể hiện ý chí, nguyện vọng của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động, đó là số đông người trong xã hội.
- Hai là, nội dung ý chí thể hiện trong các văn bản pháp luật là sự phản
ánh điều kiện kinh tế xã hội của nước ta trong từng thời kỳ và phù hợp với sự
phát triển tiến bộ của nhân loại.
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt
Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân nhân dân lao động
và của cả dân tộc. Điều 4 của Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992 (Sửa
đổi) đã khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò "là lực lượng lãnh
đạo Nhà nước và xã hội" [23]. Điều này cho thấy hoạt động xây dựng pháp
luật chính là sự tiếp nối sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.
Thông qua hoạt động xây dựng pháp luật để chuyển hoá nội dung lãnh đạo
của Đảng thành nội dung pháp lý, chuyển hoá hình thức lãnh đạo của Đảng
thành hình thức pháp lý. Hoạt động này thực hiện vai trò quan trọng cơ chế
Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lí, nhân dân làm chủ.

Trích đoạn Triển khai thực hiện chƣơng trình, kế hoạch. Lấy ý kiến tham gia góp ý cho dự thảo. Ngân hàng Nhà nƣớc Các tài liệu có liên quan; Thứ nhất, công tác chỉ đạo, hƣớng dẫn soạn thảo và ban hành VBQPPL.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status