LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, hệ thống các cơ quan chính quyền địa phương có một vai trò
rất quan trọng trong việc thi hành các quy định của Hiến pháp, Luật và các văn
bản của cơ quan nhà nước cấp trên; Tổ chức, động viên nhân dân thực hiện pháp
luật và đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Trên nhiều phương diện các
cấp chính quyền địa phương có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân; trực
tiếp ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa đường lối, chủ
trương của Đảng, Nhà nước và là cầu nối giữa Nhà nước với nhân dân.
Những năm gần đây, hoạt động của các cơ quan Nhà nước ở địa phương
đã đổi mới và có nhiều tiến bộ trong việc thi hành Hiến pháp, pháp luật, cũng
như động viên nhân dân tham gia thực hiện pháp luật, giữ vững kỷ cương xã
hội, góp phần quan trọng trong việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng,
từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Qua đó, nó thúc đẩy
công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì
dân với mục tiêu: “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Tuy nhiên, so với đòi hỏi của tình hình hiện nay nhất là trong bối cảnh
của nước ta đang thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập
kinh tế, hoạt động của các cơ quan Nhà nước ở địa phương còn nhiều hạn chế,
trong đó có lĩnh vực xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Những
hạn chế đó đã đưa đến tình trạng ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận
trong các tầng lớp nhân dân giảm sút, dẫn đến hiện tượng coi thường pháp luật,
vi phạm pháp luật gia tăng. Đặc biệt nạn quan liêu, tham nhũng và sự suy thoái
về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức chính quyền
địa phương là một trong những nguy cơ trực tiếp đe dọa sự sống còn của hệ
thống chính trị, gây bất bình và làm giảm lòng tin của nhân dân. Trước thực tế
đó, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
1
của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tại kỳ họp thứ VI. Đây là mốc quan
trọng của pháp luật về công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội
Chương 1: Những vấn đề lí luận về văn bản quy phạm pháp luật của các
cơ quan Nhà nước ở địa phương.
Chương 2: Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ
quan Nhà nước ở địa phương.
Chương 3: Phương hướng đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động ban hành
VBQPPL của các cơ quan Nhà nước ở địa phương.
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP
LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG
1.1. Cơ quan Nhà nước ở địa phương và VBQPPL do cơ quan Nhà
nước ở địa phương ban hành
Thuật ngữ cơ quan Nhà nước ở địa phương được sử dụng trong khoa học
pháp lý như một khái niệm tổng quát bao gồm các cấp chính quyền từ cấp tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương đến cấp huyện (quận), xã (phường). Trong hệ
thống tổ chức bộ máy nhà nước, các cơ quan Nhà nước ở địa phương có vị trí
hết sức quan trọng trong việc xây dựng và quản lý mọi mặt của đời sống xã hội,
kinh tế, văn hóa, an ninh quốc phòng… Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII
nêu rõ: “Các cơ quan chính quyền nhà nước ở cấp địa phương dựa trên hệ thống
thống nhất về luật pháp, chính sách và theo định hướng của kế hoạch nhà nước
để thực hiện chức năng quản lí nhà nước về kinh tế, xã hội đối với mọi tổ chức,
cá nhân hoạt động trên lãnh thổ, bảo đảm thi hành pháp luật nghiêm minh, chăm
lo đời sống nhân dân, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội ở địa phương,
củng cố an ninh quốc phòng”.
Cơ quan Nhà nước ở địa phương được lập ra để thực hiện các chức năng
quản lí nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân trên địa bàn lãnh
thổ. Với tinh thần đổi mới của Đảng, Hiến pháp năm 1992 đã đặt nền tảng, cơ sở
pháp lý cho sự đổi mới về tổ chức hoạt động của các cơ quan chính quyền địa
phương [14, tr.3]. Theo quy định của Luật Tổ chức HĐND, UBND năm 2003
các cơ quan Nhà nước ở địa phương hiện nay có hai hệ thống cơ quan chính:
vừa đảm bảo lợi ích của nhân dân địa phương, vừa đảm bảo lợi ích của Nhà
nước.
Trong bối cảnh chính quyền trung ương đang tiến hành những cải cách
mạnh mẽ nhằm phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương các cấp, phát
huy quyền chủ động, sáng tạo của mỗi địa phương, các cơ quan Nhà nước ở địa
5
phương sử dụng pháp luật như một công cụ quan trọng để quản lí và phát triển.
Một hoạt động quan trọng trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
mình là cơ quan Nhà nước ở địa phương có thẩm quyền ban hành VBQPPL.
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992, Luật tổ chức HĐND và UBND, Luật
Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004, VBQPPL do HĐND và
UBND ban hành để thi hành VBQPPL của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc
hội và văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên.
Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004 định nghĩa về
VBQPPL của HĐND và UBND tại khoản 1 Điều 1 như sau: “Văn bản quy
phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân là văn bản do Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tụ do
Luật quy định, trong đó có quy tắc xử sự chung có hiệu lực trong phạm vi địa
phương, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội
ở địa phương theo định hướng XHCN”. Khoản 1 Điều 1 Luật Ban hành
VBQPPL năm 2008 đưa ra định nghĩa về VBQPPL: “VBQPPL là văn bản do cơ
quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức,
trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành
VBQPPL của HĐND, UBND, trong đó có quy tắc xử sự chung có hiệu lực bắt
buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các QHXH”. Như
vậy, so với định nghĩa về VBQPPL trong Luật Ban hành VBQPPL năm 2008,
định nghĩa về VBQPPL của HĐND, UBND trong Luật Ban hành VBQPPL của
HĐND, UBND năm 2004 về cơ bản là thống nhất với các yêu cầu cũng như đặc
điểm và nguyên tắc chung của VBQPPL. Tuy nhiên, định nghĩa nêu trong Luật
Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND đã cụ thể hơn về “cơ quan nhà nước có
Chỉ thị của UBND.
Thứ hai, VBQPPL của các cơ quan Nhà nước ở địa phương có nội dung là
các QPPL mang tính bắt buộc chung, được áp dụng nhiều lần đối với nhiều đối
tượng liên quan, có hiệu lực trong phạm vi từng địa phương.
7
Cũng giống như VBQPPL nói chung, VBQPPL của các cơ quan Nhà
nước ở địa phương luôn chứa đựng các QPPL và mang tính chất bắt buộc chung,
được Nhà nước bảo đảm thực hiện. QPPL ở bất kì chế độ nào đều là quy tắc xử
sự do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện. Tính bắt buộc chung của các
QPPL được hiểu là bắt buộc đối với mọi đối tượng liên quan đến điều kiện, hoàn
cảnh mà QPPL quy định. Sự bắt buộc đó, trước hết được hiểu là sự bắt buộc đối
với những công dân cư trú ở địa phương. Những ai cư trú tại địa phương đều có
thể trở thành đối tượng bắt buộc phải tuân theo những QPPL mà HĐND, UBND
tại địa phương đó ban hành. Tính bắt buộc chung của các văn bản do HĐND,
UBND ban hành còn được áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức đang hoạt động
tại địa phương. Như vậy, ta có thể thấy, VBQPPL của các cơ quan Nhà nước ở
địa phương mang tính bắt buộc chung và được áp dụng nhiều lần đối với các cá
nhân, tổ chức đang cư trú, hoạt động trên địa bàn của địa phương. Không chỉ
vậy, VBQPPL của HĐND,UBND còn có hiệu lực bắt buộc đối với đối tượng
thuộc quyền quản lí của mình đang ở một địa phương khác. VBQPPL của các cơ
quan Nhà nước ở địa phương luôn được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng
nhiều biện pháp như: tuyên truyền, thuyết phục, giáo dục, hành chính, kinh tế…
Thứ ba, VBQPPL của các cơ quan Nhà nước ở địa phương có hình thức do
pháp luật quy định
Hình thức văn bản pháp luật bao gồm hai yếu tố cấu thành là: tên gọi và
thể thức của văn bản.
Pháp luật hiện hành quy định rất nhiều loại văn bản pháp luật có tên gọi
khác nhau, như: hiến pháp, luật, pháp lệnh, lệnh, nghị quyết, quyết định, chỉ thị,
thông tư,… Những quy định đó có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phân biệt
các văn bản pháp luật khác nhau trong cùng hệ thống; xác định hiệu lực thứ bậc
Ví dụ: Theo Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004 việc
ban hành Nghị quyết của HĐND cấp huyện phải theo trình tự, thủ tục như sau:
9
soạn thảo Nghị quyết, thẩm tra dự thảo Nghị quyết và cuối cùng là xem xét
thông qua dự thảo Nghị quyết.
Việc tuân thủ những quy định về trình tự, thủ tục trong hoạt động ban
hành VBQPPL nói chung cũng như ban hành VBQPPL của các cơ quan Nhà
nước ở địa phương nói riêng nhằm đảm bảo nguyên tắc pháp chế XHCN là
nguyên tắc cơ bản trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của
dân, do dân, vì dân.
Thứ năm, VBQPPL của các cơ quan Nhà nước ở địa phương được Nhà
nước bảo đảm thực hiện
Qua pháp luật, Nhà nước trao cho các chủ thể có thẩm quyền được ban
hành VBQPPL bao gồm cả VBQPPL của các cơ quan Nhà nước ở địa phương.
Do đó, Nhà nước có những biện pháp mềm dẻo và cứng rắn khác nhau để bảo
đảm thực hiện các VBQPPL. Trên thực tế, Nhà nước tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật để bảo đảm tính tuân thủ theo pháp luật, qua đó, khuyến
khích các chủ thể tự nguyện tuân thủ pháp luật và thực hiện đúng VBQPPL.
Thông qua nội dung VBQPPL, các đối tượng có liên quan sẽ hiểu được
hành vi nào được phép thực hiện và hành vi nào không được phép thực hiện.
Nếu các cá nhân, tổ chức liên quan không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nội dung, yêu cầu của các VBQPPL thì Nhà nước sẽ sử dụng biện pháp cưỡng
chế buộc các đối tượng đó phải chịu trách nhiệm pháp lí trước Nhà nước. Ngược
lại, nếu các đối tượng có liên quan thực hiện tốt nội dung của các VBQPPL sẽ
được Nhà nước khích lệ về tính thần hoặc vật chất như tặng huân, huy chương,
bằng khen, tiền thưởng…
Đây là một điểm riêng của văn bản pháp luật nói chung, đặc biệt là với
các VBQPPL. Bởi chỉ có VBPL mới được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Còn
các văn bản khác không phải là VBPL thì sự thực hiện các yêu cầu trong văn
bản phụ thuộc vào sự tự giác của các chủ thể là chính.
và UBND. HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý
chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân bầu ra, chịu trách
11
nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Còn UBND là
cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu
trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên. Tính quyền
lực của HĐND không chỉ thể hiện ở cách thức thành lập, vị thế Hiến định và
tính chất của cơ quan này, mà còn được khắc họa và minh chứng bằng chính
hoạt động thực tiễn của HĐND. Về nguyên tắc, những vấn đề quan trọng ở địa
phương, đặc biệt là những vấn đề có liên quan đến sự phát triển của địa phương,
đến đời sống của toàn thể hay một bộ phận dân cư phải do HĐND quyết định.
Cần khắc phục một thực tế là HĐND chỉ quy định những định hướng và dành
quyền quyết định cụ thể cho UBND. Nếu HĐND sử dụng một cách tích cực
thẩm quyền Luật định của mình là ra nghị quyết thì đương nhiên nhu cầu ban
hành quyết định, chỉ thị của UBND sẽ thu hẹp lại. Trong mô hình Nhà nước
pháp quyền XHCN, hơn lúc nào hết, cần ưu tiên và đề cao quyền quyết định
chính sách của cơ quan dân cử. Đối với cơ quan chấp hành, đặc biệt là ở địa
phương, nên nhấn mạnh vai trò tổ chức thực hiện các quyết định của cơ quan
dân cử. Như vậy, Nghị quyết của HĐND quy định các biện pháp, chủ trương
quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa
phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương; còn quyết định, chỉ thị
của UBND được ban hành với vai trò để triển khai, thi hành nghị quyết của
HĐND với tính chất là cơ quan chấp hành của HĐND.
1.3. Thẩm quyền ban hành VBQPPL của các cơ quan Nhà nước ở địa
phương
Theo từ điển luật học, thẩm quyền được hiểu là “quyền chính thức được
xem xét để kết luận và định đoạt, quyết định một vấn đề. Thẩm quyền gắn liền với
quyền và nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho cơ quan nhà nước, người nắm giữ
những chức vụ lãnh đạo, quản lí trong các cơ quan đó để thực hiện chức năng và
Nói cụ thể hơn, quản lí nhà nước có thể được tiến hành bằng nhiều hoạt động đa
dạng (ban hành VBQPPL, ban hành văn bản cá biệt, tổ chức thực hiện pháp
13
luật...). Do vậy, không phải vấn đề nào thuộc nội dung quản lí nhà nước cũng
đòi hỏi phải ban hành VBQPPL. Bên cạnh đó, mỗi lĩnh vực quản lí nhà nước
thường bao gồm nhiều vấn đề và chỉ một số trong đó cần được điều chỉnh bằng
các QPPL [15, tr.7].
Mặt khác, thẩm quyền ban hành VBQPPL của HĐND và UBND còn
được giới hạn bởi mức độ thực hiện quyền lực. Nghĩa là HĐND và UBND chỉ
được ban hành trong giới hạn luật định, không được ban hành văn bản vượt
thẩm quyền. Quy định này nhằm bảo đảm thực thi pháp luật ở địa phương, tránh
việc các chủ thể lạm quyền, tùy tiện đưa ra các quyết định gây ảnh hưởng đến
hiệu lực của VBQPPL và bảo đảm tính thống nhất của VBQPPL.
1.4. Hiệu lực của VBQPPL do cơ quan Nhà nước ở địa phương ban
hành
Hiệu lực là một vấn đề quan trọng thuộc nội dung của VBQPPL. Là
những văn bản thuộc hệ thống VBQPPL, các VBQPPL do cơ quan Nhà nước ở
địa phương ban hành cũng bị chi phối bởi nguyên tắc chung về cách xác định
hiệu lực của văn bản pháp luật.
Trên thực tế, HĐND và UBND là cơ quan quyền lực và cơ quan hành
chính ở địa phương, được tổ chức tương ứng với từng đơn vị hành chính, lãnh
thổ, nên về nguyên tắc, VBQPPL của cơ quan Nhà nước ở địa phương chỉ có
hiệu lực trên phạm vi lãnh thổ mà chính quyền quản lí, và theo đó đối tượng thi
hành cũng hạn chế.
Để thể hiện nguyên tắc trên, Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND
năm 2004 đã quy định hiệu lực VBQPPL của HĐND, UBND tại chương V.
* Hiệu lực về không gian
Hiệu lực về không gian của VBQPPL là giới hạn phạm vi tác động của
văn bản về mặt không gian, có thể là toàn bộ lãnh thổ quốc gia, một địa phương
hoặc một vùng nhất định. Hiệu lực không gian của VBQPPL phụ thuộc vào
này được sáp nhập về một đơn vị hành chính khác thì VBQPPL của HĐND,
15
UBND của đơn vị hành chính được mở rộng có hiệu lực đối với phần địa phận và
dân cư được sáp nhập.”
* Hiệu lực theo đối tượng thi hành
Một trong những tiền đề quan trọng trong bảo đảm hiệu lực thực tế và
hiệu quả điều chỉnh của VBQPPL là việc xác định quyền và nghĩa vụ của các
chủ thể trong văn bản. Đây chính là việc xác định hiệu lực theo đối tượng thi
hành đối với VBQPPL. Hiệu lực theo đối tượng thi hành được xác định như sau:
VBQPPL của địa phương có hiệu lực theo đối tượng áp dụng đối với tất cả các
công dân, tổ chức, cơ quan nhà nước (kể cả cơ quan Nhà nước Trung ương)
đóng trên địa bàn địa phương quản lí.
Để làm rõ hiệu lực về đối tượng thi hành VBQPPL của HĐND, UBND,
khoản 3 điều 49 Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004 đã quy
định VBQPPL của HĐND, UBND có hiệu lực áp dụng đối với cơ quan, tổ chức
cá nhân khi tham gia các quan hệ xã hội được VBQPPL đó điều chỉnh.
* Hiệu lực về thời gian
Hiệu lực về thời gian thể hiện ở thời điểm bắt đầu có hiệu lực và thời
điểm chấm dứt hiệu lực của VBQPPL. VBQPPL ban hành nhằm điều chỉnh các
quan hệ xã hội, tiên lượng quá trình biến đổi và định hướng các quan hệ xã hội
theo quy luật phát triển của đời sống xã hội.
Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004 quy định về thời
điểm có hiệu lực của VBQPPL của HĐND, UBND dựa trên hai căn cứ, đó là:
hiệu lực sau một khoảng thời gian nhất định kể từ ngày HĐND thông qua hoặc
Chủ tịch UBND kí ban hành và việc bắt buộc phải công bố văn bản bằng hình
thức đăng công báo cấp tỉnh hoặc niêm yết văn bản. Hai điều kiện này là điều
kiện cần và đủ để VBQPPL của HĐND, UBND có hiệu lực trên thực tế.
Như vậy, Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004 đã
khẳng định đăng công báo, niêm yết là nguyên tắc để văn bản của HĐND,
UBND có hiệu lực. Đây có thể coi là hình thức “công bố” VBQPPL của HĐND,
pháp của các cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên, về mặt lí luận và thực tiễn có thể xác
17
định thời điểm kết thúc của VBQPPL. Vì thế, Luật Ban hành VBQPPL năm
2008 và Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004 đã quy định
VBQPPL hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp: hết thời hạn
có hiệu lực đã được quy định trong văn bản; được thay thế bằng văn bản mới
của chính cơ quan Nhà nước đã ban hành văn bản đó; bị huỷ bỏ hoặc bãi bỏ
bằng một văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; không còn đối tượng
điều chỉnh; văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành của văn bản hết hiệu
lực đồng thời hết hiệu lực cùng văn bản đó. VBQPPL của HĐND và UBND kết
thúc hiệu lực cũng không nằm ngoài những trường hợp trên.
Trên đây là những lí luận chung nhất, khái quát nhất về vấn đề ban hành
VBQPPL của các cơ quan Nhà nước ở địa phương. Qua đó, cho ta một cái nhìn
tổng thể về các khái niệm, đặc điểm cũng như quy định của pháp luật hiện hành
về thẩm quyền và hiệu lực của VBQPPL do các cơ quan Nhà nước ở địa phương
ban hành.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG BAN HÀNH VBQPPL CỦA
18
CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG
2.1. Những thành tựu trong hoạt động ban hành VBQPPL của các cơ
quan nhà nước ở địa phương
2.1.1. Những thành tựu trong hoạt động ban hành VBQPPL của HĐND
Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, trong thời gian qua, việc ban
hành VBQPPL của HĐND các cấp ngày càng có những bước phát triển mới, đạt
được nhiều thành tựu quan trọng.
Nhìn chung HĐND ở cả ba cấp (cấp tỉnh, huyện, xã) đã ban hành được
một số lượng lớn các VBQPPL, kịp thời thể chế hoá chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, của cấp uỷ phù hợp với tình hình, đặc
điểm và yêu cầu chính trị của địa phương, góp phần đưa pháp luật vào thực tiễn
dựng VBQPPL hàng năm như Phú Thọ, Nghệ An, Bắc Ninh, Bà Rịa Vũng
Tàu… Sau khi có Luật, hầu hết HĐND các tỉnh đã triển khai thực hiện theo các
quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục ban hành VBQPPL một cách nề
nếp, quy chuẩn. Ví dụ: HĐND tỉnh Nghệ An năm 2009 đã ban hành chương
trình xây dựng nghị quyết gồm 23 nghị quyết; HĐND tỉnh Lào Cai năm 2010 đã
ban hành chương trình xây dựng nghị quyết gồm 17 nghị quyết (ban hành kèm
theo Nghị quyết số 24/NQ-HĐND ngày 17/12/2009). Chương trình được xây
dựng trên cơ sở đảm bảo thực hiện luật, pháp lệnh và văn bản của cơ quan Nhà
nước cấp trên, căn cứ vào chương trình phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng,
an ninh và yêu cầu quản lí ở địa phương trong từng thời kì, bảo đảm các quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Ví dụ: Theo chương trình xây dựng Nghị
quyết năm 2009 của HĐND tỉnh Đồng Nai, dự kiến trong năm sẽ xem xét thông
qua 09 Nghị quyết chuyên đề, tuy nhiên do yêu cầu của tình hình thực tế, tại kỳ
họp thường lệ tổ chức vào giữa năm (tháng 7/2009), HĐND tỉnh đã nhất trí bổ
sung 09 Nghị quyết và đưa ra khỏi chương trình 01 Nghị quyết, nâng số Nghị
quyết dự kiến ban hành trong năm 2009 là 17 Nghị quyết. Tuy nhiên, đến kỳ
họp cuối năm, một lần nữa thực tế lại đặt ra yêu cầu cần phải tiếp tục điều chỉnh
20
chương trình xây dựng Nghị quyết. Vấn đề này đã được UBND trình và được
Thường trực HĐND tỉnh chấp thuận, theo đó đã bổ sung vào chương trình 05
Nghị quyết và đưa ra khỏi chương trình 02 Nghị quyết.
Do có chương trình xây dựng nên HĐND tránh được tình trạng tuỳ tiện,
bị động từ đó nâng cao hiệu quả xây dựng Nghị quyết, đảm bảo tính thống nhất,
đồng bộ của văn bản quy phạm trong hệ thống pháp luật.
Công tác soạn thảo VBQPPL được HĐND các cấp bố trí cán bộ có năng
lực, trình độ để thực hiện. Việc lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức hữu quan, đối
tượng chịu sự tác động của văn bản ngày càng được coi trọng. Công tác thẩm
định văn bản tiếp tục được duy trì, bảo đảm trình tự, thủ tục theo quy định của
Luật Ban hành VBQPPL của HĐND và UBND. Chất lượng thẩm định từng
bước được nâng cao, phù hợp với các quy định về hình thức, thủ tục, thẩm
hành 88 tập hệ thống VBQPPL còn hiệu lực cho các Sở, ban ngành cấp tỉnh và
HĐND, UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh. Ngoài ra, trong năm 2010, UBND
tỉnh còn tiến hành rà soát, hệ thống 58 văn bản QPPL do HĐND và UBND tỉnh
ban hành từ 01/01/2010 đến 30/9/2010. Qua rà soát, hầu hết các văn bản QPPL
của HĐND và UBND tỉnh ban hành đều bảo đảm tính phù hợp và còn hiệu lực
thi hành [32].
Đồng thời, việc nghị quyết của HĐND được in và phát hành trong tập hệ
thống hoá VBQPPL (Đà Nẵng, Bình Dương, Cà Mau…) hoặc đăng tải trên
trang web của nhiều địa phương đã đáp ứng kịp thời nhu cầu tìm hiểu thông tin
của mọi tổ chức, cá nhân phục vụ cho công tác quản lí, điều hành và đảm bảo
được tính dân chủ, công khai, minh bạch trong hoạt động xây dựng VBQPPL
của HĐND.
Như vậy, trong những năm qua, HĐND các cấp đã có những cố gắng to
lớn, khắc phục những thiếu thốn về kinh tế, những khiếm khuyết trong văn bản
pháp luật, hạn chế về chuyên môn để tạo ra những chuyển biến tốt đẹp trong
hoạt động xây dựng văn bản pháp luật, đạt được một số thành tựu quan trọng.
2.1.2. Những thành tựu trong hoạt động ban hành VBQPPL của UBND
22
Thời gian qua, với sự cố gắng và nỗ lực không ngừng trong hoạt động ban
hành VBQPPL, UBND các cấp đã đạt được một số thành tựu cơ bản sau:
1. Nhìn chung, VBQPPL đã được kịp thời ban hành để thể chế hoá đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, của cấp uỷ trong việc hướng
dẫn áp dụng các Luật, Pháp lệnh và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên để
thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của UBND phù hợp với tình hình,
đặc điểm và yêu cầu chính trị của địa phương, quy định những vấn đề thuộc
thẩm quyền của mình trong lĩnh vực chưa được văn bản của cơ quan Nhà nước
cấp trên quy định hoặc quy định chưa cụ thể nhằm đáp ứng yêu cầu quản lí Nhà
nước ở địa phương. Qua đó, hỗ trợ cho việc triển khai thực hiện có hiệu quả các
giải pháp nhằm ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh
xã hội; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ
soạn thảo [22].
Thực tế, các cơ quan Tư pháp ở nhiều địa phương đã làm rất tốt công tác
này. Ví dụ: Ở Cao Bằng, trong năm 2010 cơ quan Tư pháp đã tham mưu cho
UBND tỉnh ban hành Chương trình xây dựng VBQPPL năm 2010; Kế hoạch
công tác kiểm tra và xử lí VBQPPL năm 2010; Chỉ thị về việc tăng cường và
nâng cao công tác trợ giúp pháp lí trên địa bàn tỉnh Cao Bằng và Chỉ thị về tổ
chức thi hành Nghị định 17/2010/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh
Cao Bằng. Năm 2010 đã tiến hành thẩm định được 40 văn bản gồm 17 dự thảo
nghị quyết, 23 quyết định (tăng 7 dự thảo so với cùng kì năm 2009); tham gia
24
góp ý kiến đối với 40 dự thảo văn bản (10 dự thảo quyết định, 01 chỉ thị của
UBND tỉnh). Giai đoạn 2007 – 2010 đã tiến hành thẩm định 221 dự thảo văn
bản (gồm 66 Nghị quyết, 77 Quyết định, 78 Chỉ thị). Tổ chức góp ý kiến đối với
123 dự thảo văn bản [23].
Ở Quảng Ngãi, trong năm 2010 Sở Tư pháp đã thẩm định 107 dự thảo
văn bản quy phạm pháp luật, đạt 147% kế hoạch, kiểm tra 47.992 văn bản các
loại, qua đó kiến nghị xử lý 141 văn bản quy phạm pháp luật; thực hiện rà soát,
hệ thống hóa 250 văn bản về lĩnh vực phí, lệ phí do UBND tỉnh và Chủ tịch
UBND tỉnh ban hành từ tháng 7/1989-10/2010 [29].
4. Hầu hết các tỉnh, thành phố đã thành lập trung tâm công báo để thực
hiện chức năng công báo các VBQPPL do địa phương mình ban hành. Tính từ
khi được thành lập (5/2006) đến nay, các địa phương đã công bố được hơn
11.000 VBQPPL trên công báo cấp tỉnh, phát hành rộng rãi đến các cơ quan, tổ
chức, cá nhân trên địa bàn. Công báo điện tử cũng đang từng bước được nghiên
cứu, triển khai và xây dựng cơ sở hạ tầng để sớm đưa vào khai thác, sử dụng. Ví
dụ: Ở Bình Dương năm 2010 đã thực hiện xuất bản 43 số, năm 2009 xuất bản 99
số Công báo của UBND [30]. Ở Phú Thọ năm 2010 đã thực hiện xuất bản 34 số,
năm 2009 đã xuất bản 29 số Công báo [31].
5. Nhiều địa phương đã coi trọng công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá
VBQPPL. Qua thực hiện công tác này ở một số địa phương đã phát hiện kịp thời