Trung Tâm thương mại Cửa Khẩu Quốc tế Lào Cai
___________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________________
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Một dự án có hiệu quả phải đáp ứng được mục tiêu lợi nhuận cho các nhà đầu tư
và các mục tiêu kinh tế – xã hội của nhà nước. Điều đó phải đòi hỏi dự án phải
được soạn thảo, phân tích và đánh giá một cách cẩn thận từ giai đoạn tiền đầu tư.
Nhiều dự án đầu tư bò đỗ vỡ hay kém hiệu quả trong thời gian qua bắt nguồn từ
việc phân tích đánh giá dự án không toàn diện hoặc không nghiêm túc. Các dự án
được đánh giá không lường hết các yếu tố rủi ro cũng như thực hiện cách phân tích
khác ngoài phân tích tài chính cho dự án.
Vì vậy, việc nghiên cứu môi trường đầu tư, lựa chọn phương pháp phân tích đánh
giá dự án đúng đắn cũng như dự báo các yếu tố tác động đến dự án trong tương lai
sẽ góp phần nâng cao chất lượng của dự án.
2. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu:
Mục tiêu đánh giá kinh tế của dự án là xác đònh xem dự án đạt yêu cầu mong
muốn về mặt tài chính hay không?. Một cách cụ thể, đánh giá nhằm giải quyết hai
câu hỏi sau đây:
• Dự án đó có đáng giá hay không? Nghóa là đạt các tiêu chuẩn như lợi
nhuận cho chủ đầu tư, giải quyết về việc làm, khai thác thế mạnh về tài
nguyên, du lòch quốc gia…
• Với một danh sách dự án đã cho, dự án nào là tốt nhất? Thứ hạng của mỗi
dự án đó như thế nào?
3. Mục tiêu và phạm vi của vấn đề nghiên cứu
Mục tiêu chính của luận án này là ứng dụng lý thuyết phân tích hiệu quả tài chính
của dự án, đánh giá mức độ rủi ro của dự án trong điều kiện xác đònh và điều kiện
bất đònh nhằm đánh giá hiệu quả đầu tư của dự án đối với chủ đầu tư -Biti’s và
mức độ ảnh hưởng của dự án đối với nền kinh tế xã hội của tỉnh Lào Cai trong
đònh hướng phát triển tỉnh Lào Cai đến năm 2010.
Phạm vi nghiên cứu của luận án bao gồm các vấn đề sau:
- Giới thiệu các lý thuyết liên quan đến phân tích tài chính của dự án và các
rủi ro trong điều kiện xác đònh và bất đònh.
- Ứng dụng lý thuyết để phân tích đánh giá thẩm đònh dự án đầu tư Trung
tâm cửa khẩu quốc tế Lào Cai, chủ đơn vò đầu tư là Công ty Biti’s
- p dụng phương pháp đánh giá dự án trong điều kiện xác đònh và bất đònh
để phân tích tài chính dự án và mức độ rủi ro của dự án.
- p dụng phương pháp phân tích kinh tế xã hội để đánh giá hiệu quả xã hội
của dự án.
Trung Tâm thương mại Cửa Khẩu Quốc tế Lào Cai
___________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________________
3
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT PHÂN TÍCH CHI PHÍ VÀ LI ÍCH ĐỂ QUYẾT
ĐỊNH ĐẦU TƯ
I.1 Những khái niệm tài chính cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu:
I.1.1 Phân tích tài chính dự án
a. Xây dựng dòng tiền tệ ròng (dòng ngân lưu của dự án)
Xây dựng báo cáo dòng tiền tệ là công việc đầu tiên trong viêc phân tích tài chính
Thu hồi hoàn vốn : là thu hồi ở giai đoạn hoạt động hàng năm dùng để hoàn lại
vốn đầu tư ban đầu được xác đònh bằng tổng khấu hao và thu nhập ròng hàng năm.
Thu hồi thuần hàng năm: là hiệu số giữa thu nhập hàng năm và tổng chi hàng
năm của dự án. Trong giai đoạn nghiên cứu, lập dự án và thực hiện đầu tư chưa có
thu nhập thì thu hồi thuần là số âm và bằng tổng chi phí đầu tư, trong những năm
Dòng tiền tệ ròng
(thu hồi thuần)
Khoản thu
(tiền mặt)
Khoản chi
(tiền mặt)=
-
Trung Tâm thương mại Cửa Khẩu Quốc tế Lào Cai
___________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________________
4
hoạt động, không có đầu tư bổ sung thu hồi thuần bằng thu hồi hoàn vốn tại năm
đó.
c. Các khái niệm về chi phí:
Các hoạt động của dự án được đảm bảo bằng các nguồn lực khác nhau, đó là
những đầu vào đảm bảo cho hệ thống hoạt động. Những đầu vào này biểu hiện
dưới nhiều hình thức khác nhau, tuỳ thuộc từng giai đoạn dự án như lao động, công
quá khứ mà thường được cho là không vô ích.
Chi phí khấu hao: Trong phân tích hiệu quả dự án, khi xác đònh chi phí hàng năm
người ta không tính chi phí khấu hao vì toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu của dự án
đã được tính đủ và khấu trừ hết trong những năm thực hiện việc đầu tư. Do vậy khi
xác đònh chi phí tiêu hao nếu tính chi phí khấu hao thì ta đã tính khấu trừ hai lần
cho chi phí này. Mặc dù thế nhưng chi phí khấu hao cũng ảnh hưởng rất lớn đến
dòng tiền tệ của dự án từ đó ảnh hưởng đến kết quả phân tích và lựa chọn dự án.
Trung Tâm thương mại Cửa Khẩu Quốc tế Lào Cai
___________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________________
5
Trước hết chi phí khấu hao ảnh hưởng đến mức thu nhập của doanh nghiệp, mức
khấu hao càng lớn, thu nhập càng nhỏ, và ngược lại được thể hiện qua công thức
tính lợi nhuận gộp (lợi nhuận chòu thuế).
Lợi nhuận gộp = Doanh thu hàng năm - (chi phí vận hành hàng năm + khấu
hao năm)
Thứ hai khấu hao ảnh hưởng trực tiếp đến thu hồi gộp trong năm:
Thu hồi gộp trong năm = khấu hao + lợi nhuận ròng + lãi vay (thu hồi hoàn vốn)
Thu hồi thuần trong năm = thu hồi gộp trong năm – chi phí đầu tư trong năm
Dòng tiền tệ của dự án để phân tích hiệu quả lựa chọn dự án chính là dòng thu hối
thuần của dự án.
Mô hình tính khấu hao được chọn là khấu hao đều (hay gọi là khấu hao đường
thẳng).
Chi phí đất đai : Giống như các tài sản khác, đất đai có một chi phí kinh tế cơ hội
khi được sử dụng cho dự án, ngay cả trong trường hợp Chính phủ cung cấp đất
e. Nguyên tắc xem xét lợi ích và chi phí trong việc phân tích hiệu quả dự án:
- Phân tích hiệu quả dự án xem xét cho cùng là so sánh các lợi ích và chi phí để
thấy được doanh lợi hay tính hấp dẫn của các dự án khác nhau. Bởi vậy đối với
mỗi dự án, việc xác đònh đầy đủ các chi phí và lợi ích là một vấn đề quan
trọng.Trong phân tích hiệu quả kinh tế dự án, xác đònh chi phí và lợi ích được
tiến hành theo nguyên tắc: tất cả những gì làm gia tăng mục tiêu là lợi ích còn
tất cả những gì làm giảm mục tiêu là chi phí.
- Trong phân tích khả thi, để tránh việc chấp thuận dự án dựa trên những ước tính
quá lạc quan về lợi ích, chi phí, chúng ta nên sử dụng những ước tính thiên lệch
theo hướng làm giảm bớt lợi ích của dự án trong khi làm tăng cao mức ước tính
về chi phí. Nếu dự án vẫn hấp dẫn sau khi tiến hành thẩm đònh như vậy thì có
nhiều khả năng dự án sẽ đứng vững khi thẩm đònh kỹ hơn, chính xác hơn.
- Mục tiêu thay đổi theo tính chất sự phân tích. Trong phân tích hiệu quả tài
chính, mục tiêu là đánh giá lợi nhuận mà dự án mang lại cho người chủ dự án
cũng như các cá nhân và tổ chức khác tham gia vào dự án. Do đó phân tích
hiệu quả tài chính chỉ tính đến những chi phí và lợi ích nào là xác thực đối với
cá nhân và tổ chức đã nêu. Theo nguyên tắc này khấu hao và các chi phí chìm
không dự tính là chi phí của dự án. Các chi phí và lợi ích phụ, chi phí và lợi ích
ẩn cũng không được xem xét trong phân tích hiệu quả tài chính của dự án.
I.1.2 Các phương pháp phân tích hiệu quả tài chính dự án:
I.1.2.1 Các phương pháp phân tích tài chính dự án theo các yếu tố xác đònh
Nội dung của các phương pháp này nhằm đánh giá lợi ích tuyệt đối và tương đối
của dự án đầu tư. Những phương án co 1lợi nhất về tương đối và có lợi nhất về
tuyệt đối, có như vậy phương án được soạn thảo mới xứng đáng được đầu tư.
Những phương pháp này chỉ cho ta kết luận chính xác trong điều kiện những số
Giá trò hiện tại ròng (Net present value – NPV) của một dòng các lợi ích ròng
trong tương lai (B
o
– C
o
), (B
1
-C
1
),…(B
n
-C
n
) có thể được diễn tả như sau : NPV =
0
00
)1(
)(
r
CB
+
−
+
1
11
)1(
)(
Mục đích của việc tính giá trò hiện tại ròng NPV của 1 dự án là để xác đònh xem
tài nguyên theo cách đó có mang lại lợi ích lớn hơn chi phí của tài nguyên đó, hay
chi phí đó có được phản ánh bằng suất chiết tính thích hợp. Nếu như có lợi, giá trò
hiện tại ròng dương (NPV>0), còn ngược lại giá trò hiện tại âm (NPV<0)
Trong trường hợp suất chiết tính biến đổi theo thời gian của dự án ta có công thức
tổng quát tính giá trò hiện tại ròng: NPV =
( )
00
CB
−
+
∑
∏
=
=
+
−
n
t
i
t
i
tt
r
CB
Hình 1: Điều chỉnh chi phí của vốn theo thời gian
Đối với đầu tư trong khu vực tư nhân, suất chiết tính thích hợp nhất được suy ra từ
chi phí của vốn đầu tư tư nhân mà công ty phải trả để có vốn cho các đầu tư
mới.Theo quan điểm tổng mức vốn đầu tư, chi phí này của vốn được tính bằng
bình quân tỷ trọng chi phí của vốn có được từ việc bán cổ phần (hay thu nhập được
giữ lại) và chi phí của vốn vay. Như vậy suất chiết tính được thể hiện là chi phí sử
dụng vốn bình quân (WACC) được tính theo công thức sau: Trong đó :
V : giá trò vốn của công ty
EQ
i
: giá trò vốn cổ phần (Equity) của thành phần i
DE
j
: giá trò vốn vay nợ (Debt) của thành phần j
R
ei
: giá sử dụng vốn cổ phần thành phần i
R
)
V
Vốn khan hiếm
Vốn dư thừa
0 1 2 3 4
số năm kể từ giai đoạn hiện tại
Suất chiêt tính
Chi phí trung bình của
vốn
Trung Tâm thương mại Cửa Khẩu Quốc tế Lào Cai
___________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________________
9
không phải một dự án mà là một số dự án trong số những dự án có thể có để
đạt tổng lợi ích lớn nhất với những nguồn lực hạn đònh.
Hạn chế:
-
Chỉ tiêu NPV phụ thuộc vào tỷ suất chiết khấu r được chọn. Tỷ suất này càng
nhỏ thì NPV càng lớn và ngược lại. Việc xác đònh tỷ suất chiết khấu chính xác
là khó khăn, nhất là khi thò trường vốn có nhiều biến động. Để tránh hạn chế
này người ta áp dụng phương pháp tỷ suất thu hồi nội tại IRR (sẽ nghiên cứu
phần sau)
-
Khi sử dụng phương pháp NPV đòi hỏi dòng tiền mặt của dự án đầu tư phải
được dự báo độc lập cho đến hết năm cuối cùng của dự án và các thời điểm
phát sinh chúng.
-
Khi sử dụng phương pháp NPV so sánh các phương án cho các thời kỳ hoạt
động không giống nhau sẽ gặp nhiều khó khăn. Mặc dù các nhà phân tích dự
b. Tiêu chuẩn suất thu lợi nội tại :
Suất thu lợi nội tại (internal rate of return) là một số thống kê đã được các nhà đầu
tư của cả hai khu vực nhà nước và tư nhân sử dụng rất nhiều để mô tả độ hấp dẫn
của một dự án.
Tiêu chuẩn IRR và NPV có liên quan bằng cách thức tính toán ra chúng. Để tính
NPV, người ta đưa ra suất chiết tính và dùng nó để tìm ra giá trò hiện tại của lợi ích
và chi phí. Ngược lại khi tìm IRR, người ta quy NPV của dòng lợi ích ròng bằng
không và IRR là suất chiết tính tìm được làm cho NPV bằng 0
Trung Tâm thương mại Cửa Khẩu Quốc tế Lào Cai
___________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________________
10
∑
=
=
nt
t 0
t
tt
k
CB
)1(
)(
+
−
= 0
Chi phí được đònh nghóa bao gồm chi phí tư bản, chi phí lao động, chi phí nguyên
có NPV>0, còn tỷ suất kia sẽ làm cho NPV<0. IRR cần tính (NPV=0) sẽ nằm giữa
2 tỷ suất k
1
và k
2
. việc nội suy giá trò thứ 3giữa 2 tỷ suất trên theo công thức:
IRR =
1
k
+ (
2
k
-
1
k
)
)()(
)(
21
1
kNPVkNPV
kNPV
−
Trong đó :
1
k
:
tỷ suất chiết khấu thấp hơn . NPV(
,
2
k
)
không vượt quá 0,5%.
Nguyên tắc sử dụng IRR trong phân tích hiệu quả:
-
Dự án đầu tư có lợi khi lãi suất tính toán r < IRR
Trung Tâm thương mại Cửa Khẩu Quốc tế Lào Cai
___________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________________
11
-
Trong số những dự án đầu tư độc lập IRR cao hơn sẽ được chọn.
Ưu điểm và hạn chế của phương pháp tính IRR :
Ưu điểm:
-
Khắc phục nhược điểm của phương pháp NPV khi lựa chọn mức tỷ số chiết
khấu tính NPV.
Nhược điểm:
-
Việc tồn tại nhiều IRR khó xác đònh chính xác IRR nào làm chỉ tiêu đánh giá.
Giá trò hiện tại của các lợi ích
Giá trò hiện tai của các chi phí
NPV
0 ( k %)
Trung Tâm thương mại Cửa Khẩu Quốc tế Lào Cai
___________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________________
12
B/C =
∑
∑
=
=
+
+
n
t
t
t
n
t
t
t
r
C
r
B
1
1
MOBPW
+−Trong đó :
B : giá trò đều hàng năm của lợi ích (thu nhập) ( B có dạng AW)
CR : chi phí đều hàng năm để hoàn vốn đầu tư ban đầu (khấu hao)
O : chi phí vận hành đều hàng năm
M : chi phí bảo hành đều hàng năm
Sử dụng tiêu chuẩn này chúng ta sẽ đòi hỏi để cho một dự án có thể được chấp
nhận, tỷ số này phải lớn hơn hoặc bằng 1. Trong việc lựa chọn các dự án loại trừ
lẫn nhau, qui tắc là chọn dự án có tỷ giá lợi ích – chi phí lớn nhất.
Ưu điểm và hạn chế của chỉ tiêu B/C :
Ưu điểm:
-
Chỉ tiêu B/C cho biết phần thu nhập ứng với mỗi đồng chi phí cho cả thời kỳ
hoạt động của dự án.
Hạn chế:
-
Là một tiêu chuẩn đánh giá tương đối, tỷ lệ B/C có thể dẫn đến những sai lầm
khi lựa chọn những dự án loại trừ nhau vì với dự án nhỏ, mặc dù tỷ lệ B/C lớn
song tổng lợi nhuận vẫn nhỏ. Phương pháp này cần được kết hợp với các
phương pháp khác.
-
Cũng như phương pháp NPV, tỷ lệ B/C chỉ ảnh hưởng nhiều bởi lãi suất tính
toán r, lãi suất càng cao thì tỷ lệ B/C càng giảm
-
Giá trò tỷ lệ B/C đặc biệt nhạy cảm với đònh nghiõa lợi ích và chi phí đây là hạn
chế cơ bản nhất trong việc sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ B/C. Ví dụ: khi nhà sản xuất
sẽ là không thực tế khi giả thiết rằng sau một ngày cụ thể nào đó giá trò mong đợi
trung bình của các lợi ích ròng là con số không. Do vậy cũng không thể kết luận
rằng tất cả các dự án mang lại về nhanh hơn lại tốt hơn các đầu tư lâu dài.
Hình 3 : so sánh hai dự án có đời sống hữu dụng khác nhau
0
t* t
b
SO SÁNH HAI DỰ ÁN VỚI ĐỜI SỐNG HỮU DỤNG KHÁC NHAU
B
t
- C
đầu (trong thời gian đó
tt
CB −
< 0 và được tiếp giai đoạn sau đó với lợi ích ròng
luôn luôn dương thì chỉ có một IRR duy nhất. Mặt khác nếu ta có dự án mà biên
độ thời gian của lợi ích ròng cắt ngang trục hoành không ít hơn một lần, chúng ta
không thể xác đònh được IRR duy nhất. Hình 4.1 : Lợi ích ròng (
tt
CB −
) cắt trục hoành nhiều lần <-> nhiều IRR
Những dự án theo biên độ trên là do trong quá trình dự án đi vào hoạt động các
hạng mục thiết bò lớn đôi khi cần phải thay thế làm cho lợi ích ròng âm trong
những năm tái đầu tư. Có những trường hợp mà kết thúc một dự án lại đưa đến chi
phí ròng lớn không có hiệu quả
15
Do đó sử dụng phương pháp IRR có thể dẫn đến những kết luận sai lầm.
I.2.2 Phân tích tài chính dự án trong điều kiện bất đònh :
Đầu tư có nghóa là bỏ vốn để nhận được lợi nhuận lớn hơn trong tương lai. Phần
trên ta đã nghiên cứu những phương pháp đánh giá hiệu quả của các dự án đầu tư
trong điều kiện xác đònh tức các chỉ tiêu như dòng tiền tệ (cash flow), suất chiết
tính, tuổi thọ dự án… là biết trước một cách chắc chắn. Song trong thực tế thì trái
lại lượng vốn bỏ ra còn có thể biết được một cách tương đối chính xác, kết quả
nhận được trong tương lai hoàn toàn trên cơ sở giả đònh, dự tính và có độ an toàn
không cao. Thực ra chúng ta không thể biết trước một cách chắc chắn các thông tin
đó. Do đó, hợp lý hơn phải xem xét chúng như là biến ngẫu nhiên.
Khi phân tích kinh tế dự án xem xét trong môi trường rủi ro và bất đònh người ta
thường dùng các phương pháp sau:
-
Phương pháp phân tích điểm hoà vốn
-
Phương pháp phân tích độ nhạy
a. Phương pháp phân tích điểm hoà vốn:
Phân tích điểm hoà vốn được tiến hành nhằm xác đònh mức sản xuất hoặc mức
doanh thu thấp nhất mà tại đó dự án có thể vận hành không gây nguy hiểm đến
khả năng tồn tại về mặt tài chính của nó, tức là dự án không bò lỗ, có đủ tiền mặt
để hoạt động và có khả năng trả nợ. Ngoài ra phân tích điểm hoà vốn còn giúp
cho việc xem xét mức giá cả mà dự án có thể chấp nhận được. Theo phân tích dự
án người ta phân tích các điểm hoà vốn sau :
-
Điểm hoà vốn lời lỗ
-
Điểm hoà vốn tiền tệ
*Điểm hoà vốn tiền tệ (điểm hoà vốn hiện kim): là điểm mà tại đó mức sản
lượng hoặc doanh thu của dự án bắt đầu có tiền để trả nợ vay kể cả dùng khấu
hao cơ bản tài sản cố đònh và chiết giảm chi phí thành lập. Đôi với khấu hao
cơ bản chỉ tính khấu hao phần tài sản cố đònh vay vốn. Điểm hoà vốn tiền tệ
cũng được biểu hiện thông qua hệ số hoà vốn tiền tệ ( H
TT
) H
TT
= *Điểm hoà vốn trả nợ là điểm hoà vốn mà tại đó cho phép dự án có tiền để
trả nợ vay và đóng thuế hàng năm. Từ điểm hoà vốn tiền tệ dự án bắt đầu có
tiền để trả nợ vay, tuy nhiên trên thực tế ngoài số nợ vay dự án phải có số tiền
cao hơn để trả nợ và đóng thuế. Số nợ phải trả và thuế lợi tức được xem như
chi phí cố đònh của năm.
H
TN
17
Ví dụ : ảnh hưởng của suất chiết khấu đến NPV : Phân tích độ nhạy cần đánh giá được các biến số quan trọng là biến có ảnh hưởng
nhiều đến kết quả dự án. Nhược điểm của phương pháp này chỉ khảo sát từng
thông số trong khi kết quả của dự án chòu tác động của nhiều thông số cùng một
lúc, ngoài ra cũng không đánh giá được xác suất xuất hiện của các thông số.
I.2.3 Các quan điểm phân tích dự án đầu tư:
Đối với mỗi dự án, điều quan trọng không chỉ tính chính xác lượng thu nhập ròng
(tổng thu – tổng chi) cần thiết mà còn cần xác đònh nguồn vốn của nó. Mỗi dự án
có thể đảm bảo bằng một hoặc một số nguồn vốn khác nhau, cơ cấu nguồn vốn là
một nhân tố phản ánh khả năng an toàn của dự án.
Một dự án đầu tư có thể thẩm đònh theo các cách phân tích tài chính, kinh tế, phân
phối thu nhập hay xã hội. Ngoài việc tuân theo những cách thức phân tích khác
nhau, các dự án đầu tư cũng có thể thẩm đònh theo các quan điểm khác nhau của
các cá nhân hay tổ chức khác nhau. Việc thẩm đònh dự án dựa trên quan điểm nào
là quan trọng vì chúng cho phép các nhà phân tích xác đònh xem các thành viên
Mối quan tâm trước tiên của ngân hàng là xác điïnh sức mạnh chung của toàn dự
án nhằm đánh giá sự an toàn của số vốn vay. Các ngân hàng coi dự án đầu tư như
là một hoạt động có khả năng tạo ra những lợi ích tài chính rõ ràng và thu hút
những nguồn tài chính rõ ràng. Quan điểm này còn được biết như là quan điểm
của tổng mức đầu tư, theo đó ngân hàng xem xét các dòng tài chính, chi trả cho dự
án (kể cả trợ giá) và các lợi ích (kể cả phần trả thuế) với cả lợi ích và chi phí được
xác đònh theo mức giá cả tài chính của chúng. Từ sự phân tích những dòng tài
chính tiềm năng này, ngân hàng sẽ xác đònh được tính khả thi của dự án, nhu cầu
cần vay vốn của dự án cũng như khả năng trả nợ vay của dự án. Chi phí cơ hội tài
chính của công trình hiện hữu nào mà được đưa vào dự án mới cũng đều phải được
tính vào tổng chi phí đầu tư của dự án. Các ngân hàng không quan tâm tới các chi
phí gốc của các tài sản hiện có. Quan điểm của ngân hàng hay quan điểm của tổng
mức vốn đầu tư được diễn tả như sau:
Quan điểm ngân hàng = Quan điểm tổng mức đầu tư = lợi ích tài chính trực
tiếp – chi phí tài chính trực tiếp – chi phí cơ hội của các tài sản hiện có.
- Dòng tiền tệ vào = doanh thu + mức thay đổi trong khoản sẽ thu
- Dòng tiền tệ ra sẽ là tổng các chi phí đầu tư và chi phí vận hành (chi phí trực
tiếp, chi phí gián tiếp, mức thay đổi trong khoản phải trả, mức thay đổi trong dự
trù tiền mặt)
- Dòng tiền tệ ròng trước khi trả thuế = dòng tiền tệ vào – dòng tiền tệ ra
- Dòng tiền tệ ròng sau thuế = dòng tiền tệ ròng trước khi trả thuế – các loại thuế
b. Quan điểm chủ đầu tư :
Giống như ngân hàng, chủ đầu tư xem xét mức gia tăng thu nhập ròng của dự án
so với những gì họ thể kiếm được trong trường hợp không có dự án. Vì vậy chủ
đầu tư cần xem những gì mà họ bò thiệt khi thực hiện dự án như là chi phí. Khác
với ngân hàng, chủ đầu tư cộng vốn vay ngân hàng vào khoản thu, và trừ tiền lãi,
nợ gốc vào khoản chi
tỷ NDT (tương đương 200 tỷ USD). Thu nhập bình quân đầu người 564 USD/
người. Người dân ở đây có mức sống tương đồng và những đặc tính tiêu dùng
giống người Việt Nam, có nhu cầu và khả năng tiêu thụ nhiều loại hàng hoá của
Việt Nam. Trong tương lai đây là nơi trung chuyển hàng hoá lớn nhất.
Trung Quốc đang quyết tâm đầu tư để biến Miền Tây trở thành “Chiếc cầu Đại
lục Châu Á” giữa Đông Á, Tây Á, Trung Á và Đông Nam Á, một trong những đầu
cầu đó là Hà Khẩu – Lào Cai. Vì vậy, riêng ở cửa khẩu Hà Khẩu - Tỉnh Vân Nam
sẽ hình thành khu thương mại đặc biệt với diện tích 4,42 km
2
để thu hút đầu tư
trong và ngoài nước.
Theo nhiều nhà kinh tế, việc Trung Quốc gia nhập WTO tạo ra một lợi thế thương
mại đáng kể trên phạm vi toàn cầu, kết hợp với việc hình thành khu vực mậu dòch
tự do Asean (AFTA) – Trung Quốc thì khu vực này sẽ trở thành một thò trường lớn
nhất trên thế giới với 1,7 tỷ người.
Thực tế nhiều năm qua cho thấy. Hàng hoá Việt Nam xuất khẩu qua tuyến đường
này gồm chủ yếu:
-
Vật tư, kim khí, hoá chất phục vụ sản xuất công nghiệp: hoá chất cho sản xuất
giấy, than cốc, thạch cao cho sản xuất xi măng, nguyên liệu cho sản xuất thuốc
lá…
-
Các mặt hàng nông sản của vùng đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ
-
Các loại hàng hoá tiêu dùng : bột giặt, đồ nhựa, giầy dép…
-
Các loại giống cây trồng năng suất cao : giống lúa la, khoai tây, hành tỏi, giống
cây ăn quả chất lượng cao.
là cửa ngõ là cầu nối giữa Việt Nam với thò trường Tây Nam rộng lớn của Trung
Quốc đầy tiềm năng chưa được khai thác.
Như vậy, có thể nói Trung Quốc nói chung và khu vực Đại Tây Nam Trung Quốc
nói riêng là một thò trường rộng lớn đầy tiềm năng mà các nhà doanh nghiệp luôn
muốn hướng tới để tìm kiếm cơ hội làm ăn, khai thác kinh doanh và mở rộng thò
trường của mình, đồng thời đây cũng là một tấm gương phản chiếu đầy đủ tiềm lực
của các doanh nghiệp khác trên thế giới, từ đó giúp các doanh nghiệp Việt Nam
có những đánh giá để tìm kiếm các đối tác liên kết, đầu tư hoặc vươn tới những
khu vực thò trường khác.
II.1.2 Tầm quan trọng của dự án TTTM cửa khẩu quốc tế trong chiến lược
phát triển kinh tế của Việt Nam và Lào cai:
- Tại tỉnh Lào Cai hiện nay chưa có một Trung tâm thương mại đúng nghóa, việc
mua bán – kinh doanh thông qua các chợ là chính, chưa thực sự là một khu vực
kinh tế cửa khẩu, chưa làm được công tác xúc tiến thương mại đúng tầm với thò
trường Trung Quốc rộng lớn phía Tây Nam. Trung tâm Thương mại Biti’s đònh
hướng là Trung tâm xúc tiến Thương mại, cung cấp thông tin giữa các doanh
nghiệp Việt Nam, Trung Quốc và các nước khác, đáp ứng nhu cầu về văn
phòng đại diện cho hàng trăm doanh nghiệp trong và ngoài nước, tạo điều kiện
thuận lợi nhất, nhanh nhất để các doanh nghiệp ký kết các hợp đồng xuất nhập
khẩu, liên doanh, liên kết, ủy thác, thanh toán… Đây cũng chính là mục tiêu mà
Chính Phủ và chính quyền Lào Cai đang mong chờ Công ty Biti’s thực hiện dự
án Trung Tâm Thương Mại trong thời gian tới.
- Dự án TTTM được hình thành đóng vai trò quan trọng là một Trung tâm, nơi
xúc tiến các hoạt động thương mại giữa hai nước, là đầu mối tổ chức các hoạt
động giao thương kinh tế giữa các doanh nghiệp Việt Nam muốn khái phá thò
Trung Tâm thương mại Cửa Khẩu Quốc tế Lào Cai
___________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________________
21
xuất, hàng hoá hiện có ở Việt Nam, là một trong những thò trường giàu tiềm
năng đối với các doanh nghiệp Việt Nam.
- Với thế mạnh của Việt Nam là nông sản, hải sản, khoáng sản, thò trường Tây
Nam Trung Quốc là thò trường tiêu thụ ổn đònh để xuất khẩu các loại nông sản,
hoa quả ở phía Nam: chuối, nhãn, sầu riêng, mãng cầu, thanh long, chôm
chôm…; hải sản (do Vùng Tây Nam Trung Quốc không có biển). Ngoài ra, thực
hiện xuất khẩu các mặt hàng tiêu dùng đạt chất lượng cao của Việt Nam cạnh
tranh với các mặt hàng tiêu dùng Trung Quốc không đạt chất lượng: bột giặt,
hàng nhựa; bánh kẹo, càfe, nước hoa, bột giặt cùng các loại khoáng sản, quặng
nguyên liệu…Hơn nữa, khoảng cách vò trí của các tỉnh Tây Nam Trung Quốc khá
xa so với các khu kinh tế phát triển của Trung Quốc như : Quảng Châu, Thượng
Hải, Bắc Kinh, do đó việc cung cấp các loại hàng hoá, dòch vụ, nhất là các loại
nông lâm – thuỷ hải sản không kòp thời, gặp nhiều khó khăn. Đây chính là thò
Trung Tâm thương mại Cửa Khẩu Quốc tế Lào Cai
___________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________________
22
trường đầy tiềm năng thu hút các nhà đầu tư, sản xuất tại Việt Nam và Trung
Quốc lấy Trung tâm Thương Mại làm nơi giao dòch, mua bán hàng hoá qua lại
giữa hai nước, đẩy mạnh mối quan hệ kinh tế của hai quốc gia.
b. Thúc đẩy du lòch đòa phương, giao lưu văn hoá giữa hai nước:
- Với những đòa điểm du lòch nổi tiếng của tỉnh Lào Cai như : Sapa, Bắc Hà, Bát
Xát, Mường Khương…, đây là tiềm năng rất lớn về phát triển du lòch với nhiều
loại hình du lòch phong phú, thúc đẩy chính sách khuyến khích phát triển thương
mại, du lòch giữa Việt Nam với Trung Quốc. Mỗi năm số khách du lòch đến Lào
Cai trên 350.000 lượt người, khách du lòch xuất nhập cảnh qua cửa khẩu quốc tế
Lào Cai đạt trên 1,4 triệu lượt người.
- Ngoài ra, tiếp giáp với tỉnh Lào Cai là tỉnh Vân Nam -Trung Quốc, một trong
bốn tỉnh có kinh tế du lòch phát triển nhất Trung Quốc sau Bắc Kinh, Thượng
___________________________________________________________________________________
23
+
Giá cho thuê đất : Đối với dự án đầu tư vào các thò xã, thò trấn trong tỉnh Lào
Cai (thuộc đòa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn – theo qui
đònh của Nghò đònh 24/2000/NĐ-CP) giá thuê đất được xác đònh bằng 50% mức
giá cho thuê đất quy đònh đối với đô thò nhóm 5. Nếu các dự án nằm trong đòa
bàn khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai (theo quyết đònh 100/1998/QĐ-TTG) còn
được giãm thêm 50% giá thuê đất nữa (tức là tổng số được giãm là 75%).
+
Thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài :
Tất cả các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào đòa bàn tỉnh Lào Cai được hưởng
các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp như sau :
Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 0% được áp dụng trong suốt thời gian
thực hiện dự án.
Được miễn thuế TNDN trong 4 năm kể từ khi kinh doanh có lãi và giãm 50%
trong 4 năm tiếp theo (ngoại trừ các dự án được miễn thuế TNDN 8 năm
BOT, BTO, BT đầu tư vào đòa bàn thuộc danh mục đòa bàn khuyến khích đầu
tư ; Doanh nghiệp công nghệ kỷ thuật cao; doanh nghiệp dòch vụ công nghệ
cao trong khu công nghệ cao…).
Đối với thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài chòu thuế suất 3% đối với lợi
nhuận chuyển ra nước ngoài.
+
Ưu đãi về thuế nhập khẩu và thuế giá trò gia tăng :
Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá nhập khẩu để tạo tài sản cố đònh.
Nguyên vật liệu, vật tư nhập khẩu để thực hiện dự án : BOT, BTO, BT…được
miễn thuế nhập khẩu.
Miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu sản xuất rong 5 năm kể từ khi bắt
đầu sản xuất đối với dự án đầu tư thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến
+
Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp :
Đối với việc đầu tư vào thò xã Lào Cai và huyện Bảo Thắng thuế suất 25%
đối với tất cả các dự án, và thuế suất 20% đối với các dự án đầu tư thuộc các
ngành nghề, lónh vực được ưu đãi đầu tư (Qui đònh tại Danh mục –Nghò đònh
51/1999/NĐ-CP.
Đối với việc đầu tư vào các huyện còn lại của tỉnh Lào Cai thuộc đòa bàn quy
đònh tại Mục I - danh Mục C – Nghò đònh 51/1999/NĐ-CP, thuế suất 20% đối
với tất cả các dự án và 15 % đối với ngành nghề lónh vực được ưu đãi đầu tư
(quy đònh tại Danh mục A – nghò đònh 51/1999/NĐ-CP.
Ngoài ra, chính phủ hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong giải phóng mặt bằng, cấp
đất dự án trong thời gian ngắn nhất, hỗ trợ đào tạo công nhân kỹ thuật cho doanh
nghiệp, Ban hành chính sách thu hút nhân tài đến làm việc tại Lào Cai như hỗ trợ
cho các doanh nghiệp có tuyển lao động Lào Cai vào làm việc với mức: 1.000.000
đồng/người.
b. Hình thành Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển của Tỉnh nhằm hỗ trợ cho các doanh
nghiệp có dự án đầu tư trong đòa bàn Tỉnh trong việc vay vốn đầu tư với mức
lãi suất ưu đãi.
c. Đầu tư xây dựng 2 khu công nghiệp: Nam Ga - Phố Mới và Bắc Duyên Hải-
Lào Cai với diện tích mỗi khu là 100 ha nhằm phục vụ các doanh nghiệp làm
nhà xưởng, kho tàng.
d. Đầu tư mở đường ô tô tại khu Kim Thành, mở rộng gấp đôi đường lên Sapa
(14m). Xây dựng một sân bay nội đòa tại Lào Cai và đầu tư mạng lưới thông tin
phục vụ xúc tiến thương mại tại Khu Cửa khẩu. Chính Phủ đã đồng ý giao cho
phía Nhật Bản nâng cấp tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai. Đồng ý với
phương án của Tỉnh Lào Cai, cho phép Lào Cai là chủ đầu tư dự án mở rộng và
nâng cấp quốc lộ 70 (Hà Nội - Lào Cai).
Trung Tâm thương mại Cửa Khẩu Quốc tế Lào Cai
___________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________________
VNĐ, tương đương 445 triệu CNY và chiếm 30% kim ngạch xuất nhập khẩu,
hiện nay thường xuyên có 200 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh có quan hệ
thanh toán xuất nhập khẩu qua ngân hàng.
II.2.1.4 Quan hệ thương mại, du lòch truyền thống ở biên giới hai nước
a. Tình hình quan hệ Việt Nam – Trung Quốc ngày càng tốt đẹp. Từ khi tái lập
quan hệ bình thường tới nay, hai nước đã ký kết với nhau 30 hiệp đònh cấp
chính phủ. Mậu dòch hai nước đã đạt được 2,8 tỷ USD vào năm 2001 so với 2,4
tỷ USD vào năm 2000 và 30 triệu USD vào năm 1991, dự kiến năm 2005 sẽ
vượt qua con số 5 tỷ USD.