Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VẢN
LÊ HUY BẮC
KIỂU NHÂN VẬT TRUNG TÂM
TRONG TÁC PHẨM CỦA HEMINGVVAY
Chuyên ngành : Vãn học các nước Tây Âu - Bắc Mỹ & Châu úc
M ã sô : 5 04 03
LUẬN ÁN TIÊN SĨ NGỮ VĂN
r~:
:—
i íV v r ir -
• : f
ì í t - i L - -
V T o / S / 2 u
L
_
___
_
____
___
__
1
Người hướng dẫn khoa học
PGS.PTS ĐẶNG ANH ĐẢO
HÀ NỘI 1998
NVTT
CNHA
: Tuvết trên đỉnh Kilimanjaro.
MỤC LỤC
Trang
MÒ đầu 1
Chương 1. Tính đa dạng của kiểu NVTT 19
1.1. Khái niệm NVTT 19
1.2. Tác phẩm 21
1.3. Bảng một - Nhân vật và NVTT 25
1.4. Các kiểu NVTT 34
1.4.1. Nhân vật không tên 34
1.4.2. Nhân vật kiểu Nick 36
1.4.3. Nhân vật phân thân 38
1.4.4. NVTT và bộ bốn nhân vật 39
1.5. Từ số lượng đến hiện tượng " Phi trung tâm hóa nhân vật" 50
Chưong 2 . Nhân vật của những chấn thương 66
2.1. Một lối thể hiện khác lạ 66
2.1.1. " Lũ chúng bay y y thật là " 66
2.1.2. Không gian chuyển dời 71
2.2. Những vết thương không thể hàn gắn 77
2.2.1. Brett không phải đàn bà 77
2.2.2. Đàn ông - những anh chàng bất lực 83
2.2.3. Và Cnúa đã chết 87
2.3. Đối diện với cái chết - họ khẳng định sự sống 93
Chương 3 . Nhân vật với tấn kịch sau lớp ngôn từ 111
3.1. Bảng hai- các loại hình ngôn từ m
3.2. Về vị trí của lời đối thoại giữa các loại ngôn từ khác 113
3.3. Khoảng trống của lời đối thoại và nỗi cô đơn 116
3.4. " Đ ộc thoại nội tâm hav những lời đối thoại bên trong” 127
3.5. Kỹ thuật đổng hiện 134
3.6. Lời của người cô độc - sự hóa thân 141
trưng của NVTT, nên nó sẽ có phần trùng với code he ro (P. Young, J.
Roberts) hay code của Hemingvvav về nhàn vật (M.Culiffe, J. Aldridae. D.
Schvvarts ). Luận án sẽ sử dụng một sô' luận điểm của các tác giả này.
Bên cạnh đó, luận án sẽ khảo sát kiểu NVTT trong hệ thốns chinh thê
văn bán cúa Hemiiì2 wav. có đối chiếu với các nhàn vật khôn? phải trung
tâm của ông củng như đối chiếu với một số NVTT cuả các nhà vãn khác.
Hemingvvay sáng tác nhiều thể loại, chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi
khảo sát àỷiction ( tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn). Tổng số là 68 tác
phẩm.
3. LỊCH SỬ VẤN ĐỂ
3.1. Tiếng V iệt:
Dảu đã được giới thiệu ở Việt Nam ngay từ 1961 nhưng mãi đến 1980
các bài nghiên cứu về Hemingway cũng như về NVTT của ông vẫn chưa
xuất hiện nhiều. Các công trình tiêu biểu có liên quan đến luận án trong giai
đoạn này có thể kể là : Con người năm tháng và cuộc đời (1962) của
I.Ehrenburg, Lời giới thiệu của Phạm Thành Vinh in trong Chuông nguyện
hồn ai (1963), bài giới thiệu của Trần Phong Giao về cuộc đời và vãn phẩm
của H emingw ay cùng với phần viết về H em ingw av ở Y thức mới trong vãn
nghệ và triết học của Phạm Công Thiện.
Tất cả các công trình ấy chưa khai thác sâu vào cuộc đời. tác phẩm,
cũng như thế giới NVTT của Hemingway. Từ 1981, Lê Đình Cúc vói
Hemingyvav và những tác phẩm tiêu biểu của ông đã khởi đầu cho một giai
đoạn mới nghiên cứu vể Hemingway.
Cùng nãm, Văn nghệ (TPHCM) đăng Nổi lo sợ của Hemingvvav cùa
Lưu Kiếns Xuân. Bài nàv trích từ cuốn Ernest Hemingway - cuộc đời sỏi
độn'ị của c. Baker. Văn nghệ số 51 đăng Hemingyvav trong mắt ròi
(G.G. Marquez). Bài viết đưa ra những nhận định quí báu, xác thực về sự
nshiộp sáns tạo của Heminsvvav. Tiếp đó Bi kich cảu Heminỵuay ( 1983).
và Nghệ thuật tiểu thuyết Hemingwav (1985) của Lê Đình Cúc ra đời. Các
bài viết giói thiệu kv hơn về cuộc đời của nhà văn, chú ý đến nehệ thuật
độc trưng của Santiago đã được thể hiện.
Vấn đề kiểu nhân vật cũng xuất hiện trong bài viết Hình tượng con
người trong văn học Mĩ thế kỷ 20. E.B.Versluis khẳng định : cùng với
Faulkner, H em ingw ay là một trong hai nhà vãn hiện đại nổi tiếng nhất nước
Mĩ. Bài viết có đề cập đến Thế hệ vítt đi.
N goài ra, các công trình có liên quan đến đề tài còn có : Tìm hiểu
phong cách nghệ thuật qua các truyện ngắn của nhà văn Ernest
Hemingyvay của PGS Huy Liên. Từ cuộc đời đến tác phẩm văn chương của
GS Phùng Văn Tửu. Bài viết đã đề cập đến cách tạo nên Tảng băng trôi của
Hemingway và chỉ ra kiểu nhân vật Nick.
Bên cạnh đó, phải kể đến một số luận văn tốt nghiệp sau đại học của
Lê Tây, Đoàn Thị M inh Chi, Phan Thu Hiển, Trần Thi Thuận, N guyễn
Đăng Vũ, Hoàng Thị Thập là những công trình nghiên cứu có giá trị, ít
nhiều có liên quan đến đề tài về các phương diện đối thoại, độc thoại nội
tâm, cốt truyện, con người khắc kỷ
Tuy sớm được giới thiệu, song việc đưa tác phẩm của Hemingw ay vào
chương trình giáng dạv ớ nước ta hơi muộn. Mãi đến năm 1992, Văn học
Phương Tâv tập 3 ra đời, H em ingway chính thức được đưa vào chương trình
siả ng dạy. V iết về Hem ingw av. giáo trình phác thảo vài nét về cuộc đời và
4
sự nghiệp sáng tác của òns, tập trung vào ba tiểu thuvết tiêu biểu : Giữ từ vũ
kh í. Chuông nguyện hỏn ui, ông già và biển cá, dưới cái nhìn của thi pháp.
Giáo trình phân tích nsuvên lý Táng báng trôi, kiểu con nơười của "thế hệ
vứt đi", n
2
UỜi hùng kiểu H em ingw ay và vài thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu
của òng.
Bên cạnh đó, nhiều bài báo có tính tư liệu về H em ingway vẫn đều đặn
xuất hiện trên các báo. Đấv là các cứ liệu để chúng tôi sử dụng khi khảo sát
sự hoá thân của tác giả.
L. Kirstein đưa ra Tiêu chuẩn của cái chết để định giá nhân vật của
Hemingway. Cùng quan tâm đến cái chết và danh dự của con người trước
vấn đề sống chết, nhưng Chú bò trong chiều (M. Eastman) lại đề cập đến
nỗi ám ảnh của tác giả trước cái chết của những con bò. Trong khi đó,
J. Kashkeen, qua Ernest Hemingwav- bi kịch của tay thợ lành nghề, nhận
định : thoạt tiên, nhân vật của H em ingw ay đương đầu vói cuộc sống, rồi sau
đó lãng tránh. Ông xem các NV TT của H em ingw ay là chuỗi phát triển
không gián đoạn'cả ở trong truyện ngắn lẫn tiểu thuyết.
Xác đinh Vị trí văn học Ernest Hemingway, D. Schwarts, qua các nhân
vật (chú yếu ở các tiểu thuyết) đã đưa ra khái niệm mã (Code) của họ : sống
theo nguyên tắc của mình đặt ra.
Giã từ hoà bình riêng lẻ (E. Johnson) dựa vào thông điệp cuối của
M organ (Có và không) ghi nhận : đến tác phẩm này, Hemingvvay đã phủ
nhận thói vô trách nhiệm, sự cô độc ; người viết xem nhân vật của
H em ingwav đã chết cho một m ục đích tốt đẹp. Cùng cách đánh giá ấy,
M. Geism ar (Ernest Hemingwav - con người ta luôn có thể ạuav về) đã
phàn tích các sáng tác của Hem insvvay để chứng m inh sự chuyến đối trong
nội dung tư tướng tác giá : từ thoát ly đến nhập cuộc, từ chối bo tổ quốc đến
quav về.
6
Bàn tóm tát nghề nghiệp (1942) của A. Kazin dựa trên luận điểm miêu
tá "những điều chàn thực" của H em ingway để phân tích các đặc điểm nhân
vật của ông. Trone khi đó. Kích cỡ tinh thần của E. W ilson khái quát : lòng
can đảm và sức mạnh của con naười là hai yếu tố cơ bản để nhân vật của
Heminsvvav thực hiện bất kỳ việc gì trên thế giới ; còn Bạo lực vù nguyên
tác (W. M. Frohock) tuy xem "Jordan là Hemingway", nhưns không đánh
siá cao tác phẩm này. Điếm qua sáng tác của Hemingway, tác giả đề cập đến tính
liên truyện của các NVTT. Bên canh đó, phân tích Nữ nhân vật của Hemingway
theo ưật tự Catherine, Brett, Maria, T. Badacke đưa ra nhận định : từ người phụ nữ
đầy nữ tính đến mất nữ tính rồi lại có nữ tính trong Maria.
H em ingway khi đi săn ở Châu Phi. M. Spilka nêu sự bất lực tất yếu của cả
một thế hệ trước thời cuộc.
* Những bài có tính khái quát, đề cập đến nhiều tác phẩm : Trước hết,
phải kể đến Người công dân thế giới (C. Baker), bài viết mang tính giới
thiệu, cung cấp tư liệu, nêu bốn đề tài Hem ingw ay luôn hướng đến là câu
cá, đi săn, đấu bò, chiến tranh.
Trong Ernest Hemingway, A. Maurois cho biết : Hemingway là bạn
của J. Joyce và Nick chính là hình bóng của tác giả. Tính cấp thời của
Ernest Hemingway (E.Wilson) đã nêu một số đặc điểm, phong cách cũng
như các giá trị nội dung, nghệ thuật của truyện ngắn Hem ingway.
Để cập đến Có và không và vờ kịch Đội quản thứ năm, Hemingwav vù
những nhà phê bình của L. Trilling cho rằng : "trần thuật à ngòi thứ nhất là
nguvên nhân thất bại cùa hai tác phẩm".
Truyện ngắn của Hemingvvay (H.E. Bates) khảng định phong cách
nghệ thuật của H em ingw ay được hình thành ở thể loại truyện naắn. Tác già
8
ghi nhận : các truyện ngắn xuất sắc của Hemingvvay đã tạo nên "một huyền
thoại về phong cách của ồng". Phong cách thô ráp nhưng đầy cảm xúc.
Vài nhận xét về văn phong của Ernest Hemingivcty (A.Levin) nêu các
biện pháp nhại, mỉa mai ; nhấn mạnh thành công ở đối thoại cũng như
những hạn chế trong việc khai thác nội tâm của văn hào.
Với Hemingwơy ở Italỵ, M. Praz cho biết bài báo đầu tiên giới thiện
Hemingway ở quốc gia này là vào 1929. Do hướng về lớp (lưới nên giới nghiên
cứu Italy định danh ông là nhà "vô sản hoá vãn chương". Không chỉ Tây Ban
Nlui HÙI cở Hemingway của A. Barea cho rằng nhân vật của Hemingvvay
không là thần dân riêng của Tây Ban Nha mà còn là của cả thế giới.
Thuật ngữ Kiêu Heming\ray (hay Chủ nghĩa Heniingway - Heming
- wayism) được p. F. Paolini đưa ra trong Nììũiig tác phẩm quan trọng của
Hetìiinguay. Nhà nghiên cứu xem : nhiều truyện ngắn thành công về Nick
Adams ]à chân dung tự hoạ của tóc giả.
Khai thác khía cạnh khác trons sáng tác Hemir.gvvay, Cạm bẫy sinh
học (R.B.West, Jr) ghi nhận đấy là cạm bẫy của lẽ tử sinh được thể hiện rõ
qua Giã từ vũ khí. Hemingway cuối đời (N. D'Agostino) tập trung vào các
tiểu thuvết rồị nhận đinh : Tài năng của H emingway được ghi nhận ở các
truvện ngắn và hai tiểu thuyết ban đầu.
Phân tích Ông già và biển cá dưới ba cấp độ: câu chuyên, tượns trưng
và tín ngưỡng, J.W aldm eứ kết luận qua, Bài kinh xưng tội của con người :
niềm tin cùa Hemingwav về con người rằng con người là đấna tôi cao cho
dù tác phẩm đã xuất hiện những chi tiết minh chứng cho hình anh tượng
trưng về Chúa.
10
Nghệ thuật của sự thoát ly (L. Edel) tán dương nghệ thuật mia mai của
Heminavvay sone khôniỉ xem ông là nhà vãn số một của Mỹ. đương thời. Bác
lại V kiến của L.Edel. Heminỵuxiy - sự bào vệ của p. Youns đã ghi nhận ôna
"là nhà vãn vĩ đại nhất trons nền văn học cùa chúns ta" [143, 173].
Tính đến 1962, naoài 35 bài nahiên cứu bên trên, chúng tôi còn sưu tập
được bốn công trình nữa có liên quan đến Hemingway : Văn học và truyền
thống Mĩ (L. Howard), Ernest Henúngway vù "Chiều thử năm" (G. Snell) in
trong Những nhà tạo hình của tiểu thuyết Mĩ, Văn học Mĩ (M.Cunliffe) và
Thơ và văn xuôi M ĩ (N.Foester). Trừ công trình của G. Snell đi sâu vào khái
niệm Chiều thứ năm. ba công trình còn lại chỉ giới thiệu sơ lược về tác giả và
đặc trưng phong cách nghệ thuật của Hemingvvay. Đáng chú ý hơn cả là M.
Cunliffe bời ông đã chạm đến mã của nhân vật, là vấh đề luận án quan tâm.
Đến đây, chúng ta đã thấy dẫu không một công trình nào trực tiếp viết
về N V TT (trong hậ thống chỉnh thể các tác phẩm) song các ý kiến của
những nhà nghiên cứu về đặc điểm tính cách nhân vật, trong những tác
phẩm tiêu biểu, về đối thoại, độc thoại nội tâm, dòng ý thức, về Chiều thứ
năm , về nghệ thuật châm biếm, các hình ảnh tượng trưng, cũng như bước
phát triển của Nick và mối auan hệ của các NVTT với tác giả là những ý
kiến chúng tôi tiếp thu, đối thoại và triển khai sâu hơn.
giả và xem các nhân vật về sau của Hemingway được "nới rộng hơn từ
Nick". Và Jack London, Hemingwav và sự hình thành (E.L. Doctorow),
phần viết về Hemingv/ay, tác giả tập trung vào Vườn Eden : tóm tắt và ohân
tích vài đặc điểm nội dung của tác phẩm.
Qua lược thuật các Cồn2 trình, chúng tôi nhận thấy : hầu hết các tác giả
đã đề cập đến kiểu nhân vật trong tác phẩm của Hemingvvay. Kiểu nhàn vật
1 2
phản ứng lại xã hội bằng những nguyên tắc của rièng mình. Đây là cơ sở đế
chúng tôi khảo sát kiểu N VTT. N goài ra, nhữns công trình khảo sát hình
tưọns liên truvện Nick, các hình ảnh tượng trưns, đối thoại, độc thoại nội
tàm. Chiêu thứ năm đều là những vấn đề liên quan thiết thực đến đề tài.
Đến đày, vì ớ Nga (Liên Xô cũ) có quan tâm tới vấn đề NVTT nên
chúng tôi điểm qua vài nét về tình hình nghiên cứu ấy. Phần này, do hạn
chế về ngoại neữ, luận án tổng thuật từ Lịch sử vấn dè' ờ luận án PTS của
PGS Lê Đình Cúc và các côn g trình viết bằng tiếng Anh như : Hemingway ở
/VÌỊCI (D. Brown)[94], Sống trong làn tử khí:Ernest Hemingwav (I.Kashkeen)
[94] và Mãi mãi là một phóng viên (K. Simonov).
Từ 1934, Hemingway được giới thiệu rộng rãi ở Nga. Theo ý kiến của
nhiều học giả Nga có tên tuổi bấy giờ, H em ingway là một hiện tượng văn
học độc đáo. Nhiều người nhận thấy các nhân vật tiêu biểu của Hem ingway
khác xa với chủ nghĩa cá nhân, không có thái độ bi quan và luôn hành động
có mục đích. Họ gần gũi với ý thức tập thể.
Song nhóm phê bình khác lại cho rằng Hemingvvay chú trọng nhiều
đến triết học và tâm lý hơn là nhấn mạnh đến những vấn đề mang tính xã
hộ.i cụ thể. Như thế, chúng ta đã 2ặp ở đây một con người cá thể.
Khác với giới phê bình phương Tây, người Nga rất đề cao Có và không
họ khai thác thông điệp cuối cùng của Morgan lúc bị thương sắp m ấ t: "Con
người không thể sống cô độc" để khẳng đinh rằng tác phẩm đã chuyển tải
"một ý thức tập thể mãnh liệt" (Kashkeen). Do vậy họ xem đây là một trong
những sáng tác thành công của Hemingvvay.
minh hoạ cho những nguyên tắc về danh dự, lòng can đảm và sự chịu đựng
nào đó "[130, 150] . Kiểu nhân vật này , thoạt tiên là Jack trong Năm mươi
14
ngàn doìlơr, Manuel ở Người bất khá chiến bại Code hero xuất hiện rõ
ràng nhất là ở những tiểu thuyết về sau của Hemingvvay: Herry (Giã tử vũ
khí), Jordan (Chuông nguyện hồn ai) và Santiago (Ông già và biển cả) .
Bốn cuốn trong bộ Clijfnot.es (1991, 1992) đều có phần tách riêng viết
vể Code hero. Trong đó, ba cuốn in lại hoặc triển khai tư tưởng của J.L.
Roberts. Do vậy chúng tôi chí lược thuật từ công trình này .
Nhân vật mang tính chất mã (còn được dịch: nhân vật mã hay nhân
vật ổụo lý) của Hemingway" là con người hành động nhiều hơn con người
lý thuyết. [Họ] liên quan đến tất cả những điều được xem là cấm kỵ mà một
người đàn ông M ỹ bình thường sẽ không bao giờ tham dự. [Họ] là con
người của con người" [134,42]. Con người chìm ngập trong rượu, trong lạc
thú yêu đương, tham dự những cuộc đấu bò, đi săn, câu cá
J.L.Roberts truy tìm nguyên nhân xuất hiện loại người độc đáo này .
Bới thế chiến I làm tan vỡ ảo tưởng về các quan niệm đạo đức cũ nên
H em ingw ay tìm đến một hệ thống mới.
Xuất phát điểm cho mọi hành động của kiểu nhân vật này là "khái
niệm cái chết " [134,43]. Cái chết kết thúc mọi chuyện nên phải tìm lạc thú
ngay ở cõi trần bằng những dục vọng xác thịt và những thoả mãn về mặt thể
chất. D o vậy,"Nhiệm vụ và trách nhiệm của nhân vật H em ingway là phải
tránh cái chết với bất kỳ giá nào ( ) Sống là tất cả" [134,44]. Họ ghét cái
chết nhưng không sợ c h ế t . Họ không hèn nhát .
Gắn với Cocle hero còn có khái niệm Nada (hư vô). Biểu hiện: nhân
vật thường là những người không nghi. Họ thức vào ban đêm và ngủ vào
ban ngày. Họ sợ bóng tối. Bởi bóng tôi đồng nghĩa với cái chết.
N goài ra, tác giả còn đề cập đến vấn đề "Nguyên tắc của Code hero".
Ông cho rằng, H em ingw ay không tán thành những ý niệm trừu tượng mà
luôn đề cập những vấn đề có "giá trị xác thực", phục vụ con người. Cơ sở
Kháo sát kiểu NVTT luận án sẽ tìm ra những đặc trưng của NVTT, qua
đó 2 Óp phần làm sáng tò những đặc trưng của thế giới nghệ thuật
H em in2 way, những cách tân của ông đối với vai trò và vị trí cùa NVTT
trons văn xuôi tự sự. Qua NVTT, chúng ta có thể làm rõ thêm phưons thức
nahệ thuật đặc biệt của Hemingway: Tảng băng trôi.
6. CẤU TRÚC, MỤC ĐÍCH, ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
6.1. Cấu trúc : Luận án gồm ba phần: sau Mở đầu là các chương :
Chương một: Tính đa dạng của kiểu NVTT. Chương này chúng tôi lập
báng thống kê sô lượng nhản vật, sô lượng NVTT, nhận xét, nêu các kiểu
NVTT và đề cập đến hiện tượng "Phi trung tâm hoá nhân vật."
Chương hai: Nhân vật của những chấn thương bao gồm các mục: Một lối
thể hiện khác lạ, Những vết thương không thể hàn gắn, đối diện cái chết
- họ đi tìm sự sống.
Chương ba : Nhân vật với tấn kịch sau lớp ngôn từ. Sau khi lập bảng
khảo sát, chúng tôi đi vào các phần: v ề vị trí của đối thoại giữa các loại
ngôn từ khác, Khoảng trống của lời đối thoại và nỗi cô đơn, "Độc thoại nội
tâm hay những lời dối thoại bên trong", Kỹ thuật đồng hiện và Lùi của
người cổ độc - sự hoá thân.
Và sau cùng là Kết luận.
6.2. Mục đích : Khảo sát kiểu NVTT, luận án nhằm tìm ra quan niệm
nghệ thuật của nhà văn về con người. Quan niệm này sẽ chi phối toàn bộ
hình thức biểu hiện của tác giả. Bên cạnh đó, luận án sẽ cuna cấp thêm
những trường hợp ngoại lệ về NVTT cho lý luận vân học cũns như cho việc
giáng dạy Hem ingwav.
6.3. Đóng góp mới của luận án :
17
Luận án thốna; kê, phân loại các kiểu NVTT theo vị trí, tổ chức, số
lượng của chúng ớ các hình thức kể truyện.
Đưa ra một hệ thốna nhữns đặc trưng của kiểu NVTT từ ngoại diện đến
tính cách ; xem xét nhữns đặc trưna này trong mối liên hệ với nghệ thuật biếu
NVTT mà người sử dụng không có ý đinh đánh giá tốt, xấu.
M.H.Abrams (Từ điển thuật ngữ vãn học) cũng có cùng quan niệm:"
Nhân vật chủ chốt của tác phẩm, trọng tâm thu hút sự quan tâm của chúng
ta, được gọi làprotagonist hoặc hero" [90, 128].
Giống các tác giả trên, J.Peck và M. Coyle cho rằng:”Nhân vật chính
yếu được gọi là hero hay protagonist" [131, 83].
Rắc rối hơn, nhóm M.K. Danziger (Nhập mòn phê bình văn liọc) đưa
ra ba thuật naữ : Protagonist, single hero (nhàn vật nổi trội) và mưiỉĩ
character (nhân vật chính) rồi khẳng định trong một số tác phám hiện đai
rhưòng xuất hiện một nhóm NVTT. Trong đó ta khó có thể báo nhàn vật này
quan trọng hơn nhân vật kia.
19
Protagonist còn được xác định: xuất hiện trong càu chuyện do "bán
thân người đó đàm nhiệm vị trí trần thuật"[105, 25]. Như thế sự khác nhau
giữa Danziger và các tác giả trên là xem Protagonist là người giữ vai trò
trần thuật.
Bách khoa thư Mỹ - mục Character của M.G.Rothenberas - viết:
"Character hoặc hero chú chốt (chief) của một tác phẩm hư cấu hoặc một
vở kịch ( ) được sọi làprotagonist"[Ì46, 290].
Trong khi đó ở mục hero, L.Mades cho rằng: trong hệ thống lý luận
hiện đại,"thuật ngữ hero được dùng để chỉ nhân vật trọng tâm của tác phẩm
- tức protagonist" [147, 144].
Điểm qua một số từ điển thuật ngữ, các công trình lý luận của Anh - Mỹ
ta thấy : họ có những tên gọi khác nhau cho NVTT và các nội hàm, thuật ngữ
đưa ra có chỗ chưa được thống nhất. Do đó, chúng tôi phối hợp thêm đinh
nghĩa NVTT ở Từ điển văn học và ở các bộ Lý luận văn học của Việt Nam.
"Từ góc độ kết cấu và cốt truyện, ta có : nhân vật chính và nhân vật
phụ. Nếu một tác phẩm có nhiều nhân vật chính, thì NVTT được xem như
nhân vật chính quan trọng nhất" [87, 110].
"Trong các nhàn vật chính của tác phẩm lại có thể thấy nổi lên những
hư vô (1933).
Từ 1923 đến 1938, ngoài bốn mươi chín truyện ngắn, mười bài thơ, một
vờ kịch ; Hemingway còn sáng tác ba tiểu thuyết: Mặt trời vẫn mọc (1926) Giã
từ vũ khí (1929) Có và không (1937) và các tác phẩm ghi chép, tự truyện thuộc
loại hình không hư cấu (Nonííction): Những thác nước mùa xuân (1926) Chết
trong chiều tà (1932), Những ngọn dồi xanh Châu Phi (1932).
Những tác phẩm thuộc thể loại không hư cấu trên giữ vị trí quan trọng
trong việc phản ánh trực tiếp những suy nghĩ, quan niệm cũng như phươna
pháp sáns tác của Hem ingwav. Chúng là đối tượng để các phê bình sia
tham khảo, đối sánh với những luận điểm, kết luận được rút ra từ các tác
phám hư cấu của ône. Chẳng hạn như khái niệm Chiểu thứ nám (The Fifth
21
Dimension), phương pháp Tàng băng trôi (ice - berg) và quan niệm miêu tà
con nsười bằng văn phong 2 Íán dị, chân thực nhất M ặt khác, những phát
biểu ấv lại còn là những xuất phát điểm, những định hướng đê các nhà
nahièn cứu tiếp cận tác phẩm Hemin2wav.
Khai thác siá tri thám m v từ thê' giói hình tượng nshệ thuật của ông,
o J <w* • 7
chúng ta thường chú ý đến truyện ngắn và tiểu thuyết. Tuy nhiên đi tìm
những tương đồng và dị biệt về thi pháp giữa hai thể loại tự sự này (hoặc
ngav trong một thể loại) qua hai giai đoạn trước và sau 1937 (chúng tôi chọn
mốc này vì 1937 Có và không, tiểu thuyết bản lề đánh dấu chuyển biến thi
pháp của Hemingwav ra đời và hơn nữa, sau 1937 truyện ngắn của ông không
còn xuất sắc lắm) là một vấn đề lý thú có liên quan đến kiểu NVTT.
Hemingvvay có bốn mươi năm cầm bút (1921 - 1961). Ta tạm xem :
chấm dứt viết truyện ngắn vào 1937, ông dành cho thể loại ấy mười sáu
năm. Hai mươi tư năm còn lại, sáng tác của ông chủ yếu là tiểu thuyết. Đến
nay. số lượng tác phẩm của ông (kể hết các thể loại) là 172. Bốn trong số đó
[và tập thơ 88 bài (1979) cùng tám truyện ngắn (1987) ] ra đời sau khi ông
mất: Lễ hội không ngừng (1964), Đảo giữa dòng hải liùi (1970), Mùa hè