http://violet.vn/conghau158
Dương Thị Bích Thảo – ĐHSP Văn Sử K50 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Cái bình thường là cái chết của nghệ thuật” câu nói này của Victor Hugo, gợi
chúng tôi nhớ đến một nhà văn nổi tiếng của nền văn học Việt Nam. Người được
mệnh danh là “ông vua phóng sự đất Bắc”, “một nhà văn lớn”, “một ngòi bút tả
chân sắc sảo, lỗi lạc”, “một chiến sỹ tiên phong và can đảm”, “một nhà văn hiện
thực trác việt”, “một người thư ký trung thành của thời đại”, người ấy không ai
khác chính là Vũ Trọng Phụng.
Nhắc đến Vũ Trọng Phụng, người ta thường nghĩ ngay đến ông là một nhà văn
“tả chân số một” của văn học Việt Nam. Với ông nghệ thuật là sự thực giữa đời
thường nên ông đã chọn cho mình một phong cách rất đặc sắc và trở thành cá tính
sáng tạo của Vũ Trọng Phụng là nghệ thuật trào phúng. Nghệ thuật trào phúng là
nghệ thuật tạo nên tiếng cười mang ý nghĩa phê phán và Vũ Trọng Phụng sử dụng
nó như một phương tiện nghệ thuật cơ bản để thể hiện ý tưởng của mình. Do vậy
sáng tác của Vũ Trọng Phụng luôn đầy ắp tiếng cười. Nhưng đó là tiếng cười chua
chát, đau đớn, nói như nhà nghiên cứu Hoàng Như Mai “Nụ cười ấy khổ đau hơn
tiếng khóc”. Nhà văn đã dùng tiếng cười để vạch trần bản chất xấu xa, thối nát của
xã hội, lên án những loại người sống giả dối, bịp bợm, kệch cỡm, bất nhân, bất
nghĩa, coi thường đạo lý những con người luôn coi đồng tiền là mục đích, là lẽ
sống của cuộc đời. Tiếng cười đó được Vũ Trọng Phụng xây dựng bằng rất nhiều
hình thức khác nhau, trong những hình thức ấy nổi bật hơn cả là nghệ thuật xây
dựng kiểu nhân vật mặt nạ. Nếu tiếng cười đã góp phần làm nên cây bút bậc thầy
trong nghệ thuật trào phúng của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam, thì nghệ thuật xây
dựng kiểu nhân vật mặt nạ chính là phần sắc nhọn nhất làm nên thần thái, linh hồn
của Vũ Trọng Phụng trong “rừng cười nhiệt đới”. Kiểu nhân vật mặt nạ ấy được Vũ
Trọng Phụng dựng lên bằng những sự đối lập, liên tưởng, sự đối nghịch giữa bản
chất và hiện tượng, giữa nội dung và hình thức, giữa cái bình thường và cái bất bình
vật, đặc biệt là trong văn học nước ngoài. Ngay trong thần thoại Hi Lạp đã có
những kiểu nhân vật mặt nạ. Đó là: hình tượng thần Zơx quyền lực vô biên sống
trên đỉnh Ôlempơ thường xuống trần gian với những “mặt nạ hóa trang khác nhau”
để tằng tịu các cô gái dưới trần gian; là mặt nạ giả điên để khỏi ra chiến trường của
Uylítxơ nhưng lại bị người anh hùng Palameđ lột mặt nạ ấy ra bằng cách để đứa con
Uylítxơ xuống luống cày buộc Uylítxơ phải tự lột mặt nạ chính mình để cứu lấy con
trai. Hay như mặt nạ đệt thảm của nàng Pênêlốp trong sử thi Ôđixê của Hôme.
http://violet.vn/conghau158
Dương Thị Bích Thảo – ĐHSP Văn Sử K50 3
Hành động dệt tấm thảm của nàng Pênêlốp chỉ là chiếc mặt nạ để nàng đối phó với
108 vị cầu hôn trong lúc đợi chồng trở về, bằng cách ngày dệt nhưng đêm nàng lại
tháo ra. Hành động dệt thảm của nàng Pênêlốp đã trở thành điển tích “tấm thảm
Pênêlốp” là lời ngợi ca xuyên qua mọi thời đại, thấu suốt muôn đời về tấm lòng
thủy chung của Pênêlốp. Trong các tác phẩm văn học nước ngoài ta còn bắt gặp vô
số kiểu nhân vật mặt nạ khác. Đó là: mặt nạ giả điên của Hămlét nhằm tương kế tựa
kế để chàng tự bảo vệ chính mình và lột trần bộ mặt thật của người chú gian xảo, bỉ
ổi trong vở kịch Hămlét của Sêchxpia; là mặt nạ học đòi làm sang của ông Giuốc
đanh trong việc đặt may bộ lễ phục theo kiểu quý tộc nhưng bộ lễ phục may hoa
ngược đó đã lột trần bộ mặt ngu dốt, sẵn sàng trở thành con rối cho người khác lợi
dụng của ông Giuốc đanh trong vở kịch Trưởng giả học làm sang của Môlie
Kế thừa các kiểu nhân vật mặt nạ trong văn học nước ngoài Vũ Trọng Phụng
đã tạo nên những kiểu nhân vật mặt nạ rất đặc sắc, điển hình và đầy sáng tạo trong
tác phẩm của mình. Chính điều này đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của
đông đảo các nhà nghiên cứu. Mặc dù chưa có một công trình nào nghiên cứu một
cách toàn diện về nghệ thuật xây dựng kiểu nhân vật mặt nạ trong tác phẩm của Vũ
Trọng Phụng. Nhưng theo những tài liệu mà chúng tôi bao quát được thì đã có một
vài nhận định của các nhà nghiên cứu về kiểu nhân vật mặt nạ trong tác phẩm của
Vũ Trọng Phụng.
Lối viết táo bạo, sắc sảo, gay cấn của Vũ Trọng Phụng đã đưa ông vào cơn
Thiên Hư: “như bà Phó Đoan, “thủ Tiết” một cách dâm dục, như cô Hoàng Hôn
suốt ngày hát lải nhải “dè đờ dà múa! Mồng ná măng, mồng ma rúy” (tôi có hai
cái tình! Nhân ngãi tôi, chồng tôi). Như Nghị Hách lúc nào cũng chăm chỉ cái
việc bồi dưỡng thân thể bằng sâm nhung, thuốc bổ, rượu sâm banh để thường
xuyên rắc con trong thiên hạ” [10; 161]. Hay đó là những chiếc mặt nạ như:
“Xuân tóc đỏ tự xưng là “thượng lưu trí thức”, là “anh hùng cứu quốc”, là “bậc
vĩ nhân” của loài người mà xuất thân lại từ một thằng lưu manh, ma cà bông đã
từng thổi loa kèn, thuốc lậu, cầm cờ chạy hiệu ở các rạp hát! Còn bà Phó Đoan
đã từng thủ tiết với hai đời chồng. Tiết hạnh rất khả nghi thì lại được ban tặng
tiết hạnh khả phong Xiêm La” [10; 426].
Khi nghiên cứu về tác phẩm Giông tố Nguyễn Hoành Khung đã nhận định:
“Chỉ vài trang sách, Vũ Trọng Phụng đã phơi ra ánh sáng sự móc ngoặc bẩn
thỉu giữa bọn tư sản mại bản, bản xứ và bọn thực dân, đã lật ra mặt trái của
những cái gọi là hội đồng kinh tế đã phanh phui những thủ đoạn bịp bợm
trong cái trò hề bầu cử nghị viên, những mánh khóe của báo chí” [10;406, 407].
Nghiên cứu về tiếng cười trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng Nguyễn Quang
Trung cũng đồng thời chỉ ra kiểu nhân vật mặt nạ, đó là hình tượng con người vô
http://violet.vn/conghau158
Dương Thị Bích Thảo – ĐHSP Văn Sử K50 5
nghĩa lý: “con người vô nghĩa lý - một loại người trống rỗng tuyệt đối, điếc đặc về
giá trị nhân sinh, trao chìa khóa bản mệnh cho những lực lượng bên ngoài
mình, chỉ còn biết múa máy, cười khóc vô duyên như những con rối hài hước
trên sân khấu cuộc đời” [11;130].
Khó có thể điểm hết những công trình nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng nói
chung và kiểu nhân vật mặt nạ của ông nói riêng. Tuy nhiên, qua việc điểm lại các
bài viết, các công trình nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng trong phạm vi bao quát được
chúng tôi nhận thấy: Các công trình nghiên cứu chuyên sâu còn ít, chưa có một
công trình nghiên cứu một cách toàn diện, thấu đáo nào dành cho kiểu nhân vật mặt
nạ trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, vấn đề này hầu như còn bị bỏ ngỏ. Bởi
Thiên Hư - một kiện tướng xuất sắc của khuynh hướng “tả chân” nói riêng.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tiểu luận nghiên cứu kiểu nhân vật mặt nạ trong tiểu thuyết của Vũ Trọng
Phụng ở một số phương diện tiêu biểu: Nhân vật bị mang mặt nạ và nhân vật tự
mình mang mặt nạ. Ở mỗi phương diện, tiểu luận cố gắng chỉ ra được những đặc
trưng nhất, để thấy được đóng góp nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng - người được
xem là một nhà văn hiện thực trác tuyệt.
5. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Marx làm nền
tảng, chúng tôi tiến hành tiểu luận với phương pháp nghiên cứu: thi pháp học.
Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu chúng tôi cũng tiến hành một số phương
pháp cụ thể như: khảo sát, thống kê, phân loại, phân tích, bình giá, tổng hợp, hệ
thống,
Các thao tác này được sử dụng một cách có hệ thống, ngoài ra trong khi thực
hiện đề tài, người viết cũng không loại trừ phương pháp tiếp cận xã hội học và một
số gợi ý của phê bình trực giác.
6. Đóng góp của tiểu luận
Qua thực hiện đề tài, tiểu luận sẽ cung cấp một hệ thống tư liệu khá phong phú
về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Vũ Trọng Phụng.
Hệ thống hóa lại những vấn đề về kiểu nhân vật mặt nạ trong phạm vi tư liệu
bao quát được.
Qua quá trình nghiên cứu sẽ giúp tác giả hiểu rõ hơn về nền văn học Việt Nam
hiện đại nói chung và kiểu nhân vật mặt nạ của Vũ Trọng Phụng nói riêng. Thấy
được những đóng góp to lớn của cây bút “tả chân” sắc sảo, lỗi lạc cho tiến trình
phát triển của trào lưu văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930-1945.
Có được những đóng góp trên tiểu luận sẽ là một tài liệu bổ ích phục vụ cho
việc học tập về Vũ Trọng Phụng.
http://violet.vn/conghau158
Dương Thị Bích Thảo – ĐHSP Văn Sử K50 7
thiện hơn?
Vũ Trọng Phụng lớn lên trong tình yêu thương ấm áp của mẹ và được đến
trường. Năm 1921, lên 9 tuổi Tý - tên sữa của Vũ Trọng Phụng - bắt đầu học Pháp
văn ở trường Hàng Vôi (nay là trường Nguyễn Du), sau học ở trường Hàng Kèn
(nay là trường Quang Trung), sau đó là trường Sinh Từ. Từ thưở nhỏ Tý cũng đã tỏ
ra là người có năng khiếu nghệ thuật, đánh đàn tuyệt hay, vẽ giỏi, thích làm thơ, hay
tìm hiểu.
Nhưng trong thế giới vui tươi của nhà trường, hoàn cảnh mồ côi, nghèo khó và
sự cách biệt với đám bạn học con nhà giàu chưa biết đến tình thương, đã gieo vào
đầu óc non trẻ của trò Tý mặc cảm yếu đuối, đơn độc. Mặc cảm đó ngày một lớn
http://violet.vn/conghau158
Dương Thị Bích Thảo – ĐHSP Văn Sử K50 9
dần trong lòng cậu học trò ngây thơ, rắn lại thành sự phẫn nộ, thù ghét cái bất công,
cách biệt vô lý ở đời.
Năm 1926, 15 tuổi, Vũ Trọng Phụng đỗ bằng Tiểu học. Trong hoàn cảnh gia
đình rất bần cùng, Vũ Trọng Phụng chọn thi vào trường Sư phạm Sơ cấp, hy vọng
có học bổng để đỡ phần nào người mẹ sớm hôm tần tảo lo cuộc mưu sinh cho cả gia
đình. Nhưng kỳ thi không kết quả. Vậy là mới học hết tiểu học, trò Tý- Vũ Trọng
Phụng buộc phải đi kiếm sống lúc mới 16 tuổi.Khoảng tháng 10 năm 1926, Vũ
Trọng Phụng xin được vào làm thư ký ở nhà hàng Godard (chỗ Bách hóa tổng hợp
bây giờ). Được vài tháng, vì mê văn chương hơn là lo làm tròn bổn phận của một
viên thư ký, Vũ Trọng Phụng bị mất việc. Sau đó xin được chân đánh máy chữ ở
nhà in Viễn Đông (Viễn Đông ấn quán - IDEO). Sau hai năm lại mất việc.
Năm 1930, 18 tuổi, lúc còn làm ở nhà in Viễn Đông, Vũ Trọng Phụng đã có
những bài báo đầu tay in trên tờ Ngọ báo - những bài theo ông chủ bút Tam Lang
Vũ Đình Chí là “có một lối văn đặc biệt”, một lối viết “quá bạo”. Và do quá say mê
văn chương Vũ Trọng Phụng đã bị mất việc, do đó ông quyết định chuyển hẳn sang
chuyên tâm viết văn, viết báo.
Chính trong khoảng thời gian đi làm thư ký và qua cuộc sống diễn ra ở phố
thuyết xuất hiện như: Giông tố (1936), Số đỏ (1936), Vỡ đê (1936), Lấy nhau vì tình
(1937), Trúng số độc đắc (1938) thì Vũ Trọng Phụng càng được dư luận quan
tâm.
Các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng thường đăng trên các báo trước khi in
thành sách. Tuy là một trong những hiện tượng văn học gây ra nhiều tranh luận vào
bậc nhất trong văn học Việt Nam hiện đại, nhưng hầu hết các tác phẩm Vũ Trọng
Phụng đã được tái bản trong thời kỳ đất nước tiến hành sự nghiệp Đổi mới từ năm
1986. Vũ Trọng Phụng được quan tâm nhiều trong đời sống nghiên cứu, giảng dạy
văn học và trong đông đảo bạn đọc.
Đầu năm 1938, Vũ Trọng Phụng lập gia đình với cô Vũ Mỵ Lương, con một
gia đình buôn bán nghèo ở xã Nhân Mục, thôn Giáp Nhất, nay thuộc phường Nhân
Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Cuối năm ấy, hai vợ chồng sinh được
một cô con gái, đặt tên là Vũ Mỵ Hằng.
Vũ Trọng Phụng là con người bình dị và giàu lòng tự trọng, sống có nề nếp,
khuôn phép. Trong cuộc sống riêng, ông chỉ mong kiếm tiền giúp mẹ và dành dụm
để cưới vợ, có con nối dõi. Dù ông viết rất nhiều, trong khoảng thời gian chưa đầy
10 năm, Vũ Trọng Phụng đã cho ra mắt bạn đọc gần 20 tác phẩm và nhiều bài báo -
nhưng cái nghèo cứ bám riết gia đình ông. Do luôn phải làm việc quá sức, cộng với
đời sống vật chất quá nghèo khổ và căn bệnh lao ngày một thêm trầm trọng đã làm
cho ông kiệt sức. Vũ Trọng Phụng mất ngày 13/10/1939 tại căn nhà số 73 phố Cầu
Mới, Ngã Tư Sở, nay thuộc quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, nơi ông mới về ở
http://violet.vn/conghau158
Dương Thị Bích Thảo – ĐHSP Văn Sử K50 11
được vài tháng. Năm ấy Vũ Trọng Phụng mới 27 tuổi, ông ra đi để lại bà nội, mẹ,
vợ - ba người đàn bà góa và cô con gái vừa tròn một tuổi.
1.2. Mặt nạ và kiểu nhân vật mặt nạ
Thuật ngữ “mặt nạ” được hiểu theo Từ điển tiếng Việt của Nguyễn Văn Hùng
và Thái Xuân Đệ biên soạn là: “Vật đeo vào để hóa trang, giấu không cho người
khác nhận ra mặt thật”[14;508]. Còn nhân vật mặt nạ theo Từ điển thuật ngữ Văn
sống thứ hai nào hết. Ngược lại, chúng linh thiêng hóa, chúng chuẩn y và củng cố
chế độ hiện hữu. Mối liên hệ với thời gian trở nên hình thức, những khủng hoảng và
những đổi thay được đẩy hết vào trong quá khứ. Lễ hội chính thống thực chất chỉ
nhìn về đằng sau, vào quá khứ và lấy quá khứ ấy để linh thiêng hóa cái chế độ tồn
tại trong hiện tại” [6;196]. Trong thời gian diễn ra carnaval không có ranh giới giữa
trang nghiêm và đùa cợt, không có đường biên giữa diễn viên và khán giả.
Trong công trình nghiên cứu “Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki”,
M.Bakhtin đã xác định “Carnaval không phải là một hiện tượng văn học” mà “là
một hình thức trình diễn nguyên hợp mang tính cách nghi lễ” [2;131]. Nảy sinh
trong lòng văn hóa trào tiếu dân gian, qua thời kỳ trung cổ và các nước châu Âu,
những hình thức nghi lễ diễn trò của hội cải trang carnaval “được tổ chức trên cơ sở
tiếng cười”, “chúng đưa ra một hình ảnh hoàn toàn khác về thế giới, con người và
những quan hệ con người- một hình ảnh mang tính phi chính thống, phi giáo hội và
phi nhà nước sắc nét. Chúng tựa hồ xây dựng nên phía bên kia của tất cả những gì là
chính thống một thế giới thứ hai, và một cuộc sống thứ hai mà tất cả những con
người Trung cổ ít nhiều đều tham dự, đều sống ở trong đó những khoảng thời gian
nhất định” [5; 71]. Bằng những hình thức hóa trang (đeo mặt nạ), những hành động
tấn phong - hạ bệ, những trò hôn phối không tương xứng, bằng ngôn ngữ carnaval
(lời giễu nhại, nguyền rủa, thề tục ), diễn ra trên những “quảng đường carnaval”
tiếng cười bật ra bao trùm không gian mang tính hội hè vũ trụ. Bakhtin cũng đã chỉ
ra bản chất tiếng cười hội giả trang: “thứ nhất, mang tính toàn dân, ở đây mọi người
đều cười, đó là tiếng cười dân gian; thứ hai, nó mang tính phổ quát, nó nhằm vào
mọi thứ và mọi người (trong đó có cả người tham gia hội giả trang), cả thế giới đều
nực cười, đều được tri giác và khai thác ở bình diện trào tiếu của nó, có tính tương
đối đầy vui nhộn của nó; thứ ba và cuối cùng, tiếng cười ấy mang tính hai chiều, nó
vừa vui nhộn hoan hỉ, vừa nhạo báng, chế giễu, nó vừa phủ định vừa khẳng định,
vừa khai tử vừa tái sinh” [12; 139].
Tiếng cười carnaval không chỉ là tiếng cười hài hước vui nhộn, bản thân nó
còn mang tính lưỡng trị sâu sắc. “Tiếng cười carnaval là tiếng cười lưỡng trị
(ambivalent) bao gồm cả hai cực đối lập của hiện tượng, khi sự tôn vinh lộn trái
Cũng không đi ngoài quy luật trên, Vũ Trọng Phụng đã tạo nên một thế giới
nhân vật mặt nạ trong tác phẩm của mình hết sức độc đáo và đầy sáng tạo. Ông đã
“đeo mặt nạ” vào cho các nhân vật của mình nhằm che đậy những sự không tương
xứng giữa bên trong và bên ngoài, nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng,
lời nói và ý nghĩ, tên gọi và sự vật qua đó, tạo sự vui nhộn, hoan hỉ cho tác phẩm
http://violet.vn/conghau158
Dương Thị Bích Thảo – ĐHSP Văn Sử K50 14
của ông. Nhưng đồng thời Vũ Trọng Phụng lại nhạo báng, chế giễu, hạ bệ tất cả
những gì là lố lăng, giả dối, rởm hợm và bịp bợm của cái xã hội “khốn nạn”, “chó
đểu” ấy (theo cách nói của Vũ Trọng Phụng), của những bộ mặt bất nhân được che
đậy đằng sau những cái mặt nạ ngụy trang ấy.
Thông qua kiểu nhân vật mặt nạ Vũ Trọng Phụng đã cống hiến cho độc giả
của mình những tràng cười hết sức hài hước và vui nhộn bởi sự khập khiễng, không
tương xướng của nhân vật được ngụy trang, che đậy qua những chiếc mặt nạ nhưng
càng cố ngụy trang để che đậy bao nhiêu thì mặt nạ lại càng bị lột ra bấy nhiêu và
đó chính là sự tài tình của Vũ Trọng Phụng. Ông đã để cho nhân vật mang mặt nạ
nhưng thực chất lại lột ra một “mặt nạ” khác, để nhân vật của ông vừa phủ định,
vừa khẳng định, vừa khai tử lại vừa tái sinh, chính vì lẽ đó mà tác phẩm của Vũ
Trọng Phụng thường có ý nghĩa triết lý nhân sinh hết sức sâu sắc.
Đến đây, chúng tôi có thể khái quát lại rằng kiểu nhân vật mặt nạ trong văn
học có nguồn gốc từ lễ hội hóa trang carnaval, kiểu nhân vật mặt nạ chính là một
biện pháp nghệ thuật đặc sắc được các nhà văn sử dụng để xây dựng hình tượng
“nhân vật con rối” trong tác phẩm của mình. Vũ Trọng Phụng là nhà văn đã rất
thành công trong nghệ thuật xây dựng nhân vật mặt nạ, với ông mặt nạ không chỉ
che đậy mà còn phơi bày.
2.1. Bảng thống kê nhân vật
Tác phẩm
Nhân vật
trung tâm
Nhân vật phụ
Số đỏ Xuân tóc
đỏ
Hai người Pháp đánh bóng, hai đứa trẻ, người bán nước
chanh, ông thầy số, chị hàng mía, nhóm ba bốn chị, hai
vợ chồng bác họ Xuân tóc đỏ, vợ chồng Văn Minh, bà
phó Đoan, những nhà chính trị ở bên Pháp, hai viên thám
tử, ông phó Đoan, ông Phán, hai thiếu nữ Pháp, một
thiếu niên nam, cô đầm, một người Pháp, người lính
cảnh sát, gia đình gã ăn mày, thàng ma cà bông, người
đàn bà bán rong, ông Cẩm Tây, ông thông ngôn ta, ông
quản cảnh sát, bốn người lính, những người hàng rong,
bồi bếp, phu xe, ăn mày, dân thành phố, bà Cẩm Tây,
người loong toong, người phu lục lộ, viên quản, cảnh sát
Min đơ, Min toa, tên gia nhân, người tài xế, chị Ba, cậu
Phước (Em chã), cô Jannette, người thợ thuyền, ông bà
Hàn, những người thợ may, thợ khâu, nhà mỹ thuật
http://violet.vn/conghau158
Dương Thị Bích Thảo – ĐHSP Văn Sử K50 16
TYPN, vợ ông TYPN, ông nhà báo, ông Phán mọc sừng,
ông đốc Trực Ngôn, ông Joseph Thiết, cụ Hồng, cụ cố
Hồng, thằng xe, những người họ hàng nhà cụ Hồng,
những bạn hữu của vợ chồng Văn Minh, cậu Tú Tân, cô
Tuyết, cụ lang Tỳ, cụ lang Phế, ông Hai, cô Nga, nhóm
Dương Thị Bích Thảo – ĐHSP Văn Sử K50 17
bà, người gác cổng, đám đàn bà, thằng xe, cô Tuyết, cô
Loan, ông cụ già, người coi ga, người đàn bà chèo đò,
người ăn mày, ông phu xe, những cậu học trò, người bồi
tiêm, hai bác lính da đen, hai chị đàn bà, cô đầm lai, ông
già hơn thất tuần, người độ bốn chục, hai thiếu niên,
thằng Bôi, đám trẻ trước đình, con sen, thằng hầu sáng,
thư ký riêng, người loong toong, bọn bạn Nghị Hách,
người Tây, những người qua đường, Hải Vân, bà Hàn,
thằng Lộc đen, vợ Hải Vân, thằng cung văn, bốn nghìn
người dân, toán lính khố xanh, các quan chức Pháp và
Nam, hai bà sơ, sen đầm, một chú khách, sáu người
khách trên thuyền, những người bạn của Long, ả đào
Minh Châu, mụ chủ nhà hát, anh kép, cô danh ca, những
cô vũ nữ, một thiếu niên, thằng bé mồ côi, bà lão bán
bánh, người phu lục lộ, bọn thợ máy.
Vỡ đê Phú bà Cử, Minh, Tuất, ông thủ quỹ, ông lý trưởng, thằng cu
Hiền, bác hộ lại, anh Hai Cò, ông chánh Mận, cụ An, bà
Đám, ông bà huyện, cô Kim Dung, anh lính lệ, cụ Cố,
thầu khoán Khoát, thằng lính, ba trăm phu hộ đê, cai lục
lộ, thầu khoán Nhà nước, nhân viên sở công chính, lính
khố xanh, lý lịch, mụ béo, ông nhiêu Đơ, ông xã Đấu,
người cai, tham tá lục lộ, đoàn nha lại lính tráng, người
phó tổng, chánh tổng Xuyên Lư, chánh tổng Quỳnh Cao,
chánh tổng hội Lãm, đám đông dân phố, ông phóng viên,
thằng bé con, bọn tuần tráng, những người hàng xóm,
viên gác ngục, viên lục sự già, những lính cơ, lính lệ, nha
lại, gia nhân, ba ông chủ báo, anh Cạp, đám phu trốn đê,
ông nho, ông hai Bảo, bác lái đò, mẹ ông chánh, hai đứa
nhân của chế độ cũ không phải chỉ một vài người lẻ tẻ, mà cả hàng loạt người dân bị
bần cùng hóa trong một lúc, phải bỏ làng đi kiếm ăn. Chính chuyển biến này góp
phần đưa lại sự khác biệt về ý nghĩa và giá trị cho ba cuốn tiểu thuyết.
2. Giới tính: Số lượng nhân vật nam và nhân vật nữ được nhìn trong thế tương
bằng nhau (khi xã hội bước vào thời kỳ “khốn nạn”, “chó đểu” thì không chỉ có
nhân vật nam tha hóa, mà cả nhân vật nữ cũng suy đồi, bị công kích).
3. Độ tuổi: Thế giới nhân vật trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng tập trung
chủ yếu vào thế giới nhân vật người lớn, sống trong xã hội lố lăng, giả dối, vô nghĩa
lí, người ta không thể xác định được đâu là những chuẩn mực đạo đức của xã hội,
http://violet.vn/conghau158
Dương Thị Bích Thảo – ĐHSP Văn Sử K50 19
thì người lớn thường dễ bị tha hóa về nhân tính trở thành những con người “vô
nghĩa lí” hơn trẻ em.
2.2. Nhân vật bị mang mặt nạ có chủ ý
Con người muốn tồn tại được trong xã hội thì cần phải thích nghi với điều kiện
và hoàn cảnh của xã hội đó.
Trong tiểu thuyết Số đỏ, Xuân tóc đỏ - làm nghề nhặt ban quần ở một hội quán
thể thao, hắn vốn là một đứa trẻ mồ côi đã sống bằng đủ nghề “hạ lưu” (trèo me,
trèo sấu, bán phá xa, nhật trình, chạy cờ rạp hát, thổi loa quảng cáo thuốc lậu ) và
thấp thu đủ thứ luân lý bờ hè Hà Nội. Bị đuổi việc vì một hành động vô giáo dục,
hắn lại được bà Phó Đoan một me Tây góa dâm đảng, đem “lòng thương”, giới
thiệu đến giúp việc ở tiệm may Âu hóa của Văn Minh cháu bà - chuyên may các
mốt y phục “phục vụ phái đẹp trong cuộc Âu hóa”. Như vậy, Xuân tóc đỏ từ thế
giới hạ lưu đã ngang nhiên bước vào thế giới thượng lưu. Để Xuân tóc đỏ được hợp
“thời trang”, trong giới thượng lưu ấy, Văn Minh chồng đã không ngần ngại đeo
cho nó chiếc mặt nạ hóa trang khi nó mở “chiếc máy loa khèn” đọc thuộc lòng
những lời quảng cáo thuốc - mà trước đây nó từng đọc cho một ông vua thuốc lậu -
trước mặt cụ cố Hồng: “Thưa cụ, đau dạ dày là khí huyết tích trệ, nên ăn uống
không tiêu. Hoặc có khi vì mắc phạm phòng làm cho khí bế đầy hơi, có người đau
Minh phải tiếp tục “chụp” lên Xuân những chiếc mặt nạ khác để đi cho trọn con
đường giả dối, bịp bợm mà mình đã vạch ra. Đó là việc Văn Minh đưa Xuân tóc đỏ
đến Tổng cục Thể thao hội quán để yết danh vào bảng các tài tử mối hy vọng của
Bắc Kỳ, để nay mai tranh đấu lấy cái quán quân Bắc Kỳ với những nhân vật thượng
lưu khác: “Thưa các ngài, đây, bạn tôi, Xuân, một giáo sư quần vợt, hôm nay đến để
yết danh vào bảng các tài tử mối hy vọng của Bắc Kỳ vậy” [7; II-313]. Đến đây đã
có sự đổi ngôi, từ chỗ Văn Minh là chủ, Xuân tóc đỏ phải sống dựa dẫm vào danh
dự của Văn Minh thì mới ra hồn người, thì giờ nhờ câu nói của Xuân “Muốn biết
điều gì, ngài cứ hỏi ông bầu của tôi đây” [7; II - 315] thành ra Văn Minh cũng được
thơm lây. Sau cùng cũng như những kẻ tài trí tự tin vững ở mình, Xuân tóc đỏ lại
thỉnh thoảng vỗ vai Văn Minh một cách thân mật mà rằng: “Rồi tôi cũng cất nhắc
anh lên đường công danh như Chim, Giao cất nhắc ông bầu Yên! Tôi quyết rằng vì
tôi anh sẽ được thiên hạ biết đến tên tuổi. Những câu ấy làm Văn Minh sung sướng
lắm” [7; II-315]. Thì ra, khi Văn Minh chủ động đeo cho Xuân tóc đỏ những chiếc
mặt nạ để hợp thức hoá trong xã hội văn minh rởm, thì hơn ai hết chính Văn Minh
là kẻ bịp bợm muốn những chiếc mặt nạ đó hơn. Đến đây, tiếng cười khôi hài dành
cho hành vi bịp bợm, giả dối của Văn Minh đã được bật ra, và cũng không ngoại trừ
dành cho những kẻ học đòi văn minh rởm đầy rẫy trong xã hội thời đó. Điểm sáng
tạo của Vũ Trọng Phụng khi sử dụng motif mặt nạ là ở chỗ để cho nhân vật mang
mặt nạ thực chất là để lột ra một “mặt nạ” khác.
http://violet.vn/conghau158
Dương Thị Bích Thảo – ĐHSP Văn Sử K50 21
Nếu Xuân tóc đỏ trong tiểu thuyết Số đỏ nhờ những chiếc mặt nạ người khác
cố tình “chụp” lên làm cho cuộc đời hắn thay đổi sướng lên tiên. Thì ngược lại,
nhân vật Thị Mịch và Long trong tiểu thuyết Giông tố, khi phải mang những chiếc
mặt nạ bị người khác đeo vào, thì cuộc đời trở nên trớ trêu và đầy bất hạnh.
Thị Mịch vốn là cô gái quê trong trắng, bỗng trong một đêm trở thành nạn
nhân của một vụ cưỡng hiếp bỉ ổi. Cô và bố mẹ cô trông đợi ở ngọn đèn công lí, nên
đã viết đơn khởi kiện kẻ dâm ác, thì trước công đường, lão quan huyện già, kẻ đại
một chiếc mặt nạ đó là: “Thiếu niên này là một kẻ mà hội Bảo anh gây dựng lên.
Hạng thiếu niên vô thừa nhận như thế này thường là con của hạng cùng dân nghèo
khổ, cái kết quả của nạn hoang thai, của nạn mãi dâm, nghĩa là của những vết
thương của một xã hội tổ chức chưa được hoàn hảo! Hạng này là máu mủ những
nhà cùng đinh, những kẻ bần dân! Những kẻ các giai cấp trong đó có tôi, phải
trong đó có tôi! Đối với hạng dân nghèo tôi muốn có một cử chỉ đặc biệt. Cử chỉ
của tôi sẽ có giá trị của một cái biểu tượng! Muốn tỏ lòng căm hờn cái xã hội
trưởng giả ích kỷ, cái chế độ cũ, thưa các bà, thưa các cô, tôi đã nhất định gả con
gái lớn nhất của tôi cho thiếu niên này” [7; III-297]. Đáng sợ hơn chiếc mặt nạ Nghị
Hách đeo vào cho Long lại thông qua bài diễn văn “đầy xúc động” về tấm lòng
“thương xót” của hắn đối với bình dân. Viết về Giông tố “Nguyễn Tuân đã “sợ” Vũ
Trọng Phụng về đoạn văn này”[1; 85]. Quả thật phải là ngòi bút Vũ Trọng Phụng
mới đủ sức dựng lên được một nhân vật bất nhân đến mức quỷ sứ đáng “sợ” như
thế. Vũ Trọng Phụng đã rất tài tình khi để Nghị Hách dùng mặt nạ che đậy con
người thật của Long để lão ta lấy lòng quan công sứ rằng mình là một doanh nghiệp
hiển hách ít có, mà lòng nhân từ bác ái thì lại đáng treo gương cho dân bản hộ soi
chung, rằng mình là người có óc bình dân không phân biệt đẳng cấp. Những cũng
chính việc làm trên của Nghị Hách trong mắt độc giả lại chính là lão ta đang tự lột
mặt nạ của chính mình, để trước mắt độc giả giờ chính là con quỷ dâm ô, độc ác,
đểu giả, trắng trợn, cỡ bạo chúa. Một nhà văn đã từng nói: “Đọc Nam Cao người ta
bắt buộc phải suy nghĩ băn khoăn không dứt ra được. Đọc Vũ Trọng Phụng, người
ta muốn hành động, muốn đập phá một cái gì cho hả giận” [13; 179]. Rõ ràng nhân
vật của Vũ Trọng Phụng không chỉ là những biếm họa, đăng sau hành động và suy
nghĩ của nhân vật bao giờ cũng ẩn chứa những suy ngẫm sâu sắc về thái độ của nhà
văn.
Đọc Vỡ đê độc giả không thể nào nén được cơn căm phẫn khi Phú một thanh
niên trí thức giàu lòng yêu nước. Gặp năm nước sông lên to, vì không có chân tư
văn và cũng không có tiền để thuê người đi phu hộ, Phú phải đi đắp đê, dân phu làm
việc quá vất vả, tiền công hằng ngày lại không được phát như đã hứa. Phú vận động
mọi người đấu tranh. Anh bị bắt giam và bị tra tấn dã man bởi anh đã mắc mưu bọn
ban sân quần, vì một trò dâm dục bỉ ổi mà phải đuổi? Chao ôi! Thế thì còn gì là
tiệm may Âu hóa nữa! Thế thì còn đâu là những cái thích của bọn khách hàng phụ
nữ, vốn ưa cái nhanh mồm nhẹ miệng và những cử chỉ ngộ nghĩnh của Xuân tóc đỏ
nữa. Vợ nghĩ thế, còn chồng thì, vì lẽ đã bịp cả ông bố hiếu danh rằng Xuân vốn là
sinh viên trường thuốc, “ông đốc” cẩn thận, bây giờ biết ăn làm sao, nói làm
sao?”[7; II-223]. Cho nên đành phải khoanh tay chịu nhịn. Thế là Xuân càng được
mọi người kính trọng: “Bọn thợ may và thợ khâu cho nó là có thế lực đối với ông
http://violet.vn/conghau158
Dương Thị Bích Thảo – ĐHSP Văn Sử K50 24
chủ, bà chủ. Cô Tuyết kính thờ nó vì Xuân được cụ bà kính thờ. Ông Típ Phờ Nờ,
ông Joseph Thiết, cả ông đốc Trực Ngôn nữa, cả cậu Tú Tân là em ruột ông Văn
Minh nữa, cũng ra vẻ nịnh hót nó, để lấy lòng nó, Hoặc tự mình lừa dối mình,
hoặc bị vô số kẻ khác lừa dối, ai cũng ở cảnh bó buộc không sợ hãi hoặc không kính
trọng Xuân thì không được” [7; II - 224]. Nhưng sống mãi trong sự giả dối, lừa bịp,
đến lúc quen đi, chính vợ chồng Văn Minh cũng ngộ nhận luôn về giá trị thực của
Xuân tóc đỏ. Vì say mê Xuân và để dễ dàng chấm dứt với người tình cũ Tuyết đã
nhờ Xuân “làm hại” một đời mình. Chuyện đến cụ bà, cụ bà đến hỏi Văn Minh cho
ra mọi nhẽ. Khi cụ bà hỏi: “thế cái ông đốc Xuân ấy đâu?” thì Văn Minh vừa ngồi
đánh phấn cái mặt vừa đủng đỉnh: “À, ông ấy là giáo sư quần vợt, chắc bây giờ, ông
ấy phải ở sân quần”[7; II-267]. Trong khi nói thế ông Văn Minh không biết cứ lừa
dối mãi người khác thì cuối cùng mình lừa dối đến cả mình mà không biết. Nếu
trước đây, ông cố tình đeo cho Xuân chiếc mặt nạ “giáo sư quần vợt” là để lợi dụng
nó mà lăng xê, làm lợi cho tiệm may Âu hóa thì bây giờ sự cố tình có chủ ý đó đã
chuyển sang sự vô tình không chủ ý. Nghĩa là trong tiềm thức của Văn Minh đã
hoàn toàn thừa nhận Xuân tóc đỏ là “giáo sư quần vợt”. Một cách vô tâm nhất đời,
ông đã làm cho một thằng Xuân tóc đỏ nhặt quần nhảy một bước lên “một ông giáo
sư”. Đến đây, tiếng của độc giả đã được vâng lên. Người ta cười vì một thằng vô
học như Xuân tóc đỏ bỗng chốc được người ta đeo cho nó chiếc mặt nạ “giáo sư
quần vợt” để lợi dụng nó, nhưng lại chính kẻ đi đeo mặt nạ cho nó lại là người đầu
Da khô, mình nóng, âu sầu, u ê
Đêm ngày nói sảng, nói mê
Chân tay mệt mỏi khó bề yên vui.
Vậy xin mách bảo đôi lời
“Nhức đầu giải cảm” liệu đời dùng ngay! [7; II- 248]
Bài quảng cáo thuốc lậu đó đã mang lại kết quả đúng như nó mong đợi. Nhà
thi sĩ tưởng nhầm nó là người có học thức cao, bèn vô tình tặng Xuân chiếc mặt nạ
chính thi sĩ cũng không biết: “Xin lỗi ngài! Thế thôi cũng đủ là một bài học cho bỉ
nhân thán phục! Vậy để rồi bỉ nhân luyện lối trào phúng thì mới mong đối đáp
ngài được! - Nói xong, nhà thi sĩ cúi đầu kính cẩn chào Xuân rồi chuồn mất với cái
mặt đỏ những hổ thẹn” [7; II - 248,249]. Vốn là kẻ vô học vậy mà Xuân lại được
nhà thi sĩ đề cao hơn mình một bậc. Dùng chiếc mặt nạ nhà thi sĩ vô tình tặng mình,
Xuân tóc đỏ hóa trang bước gần đến Tuyết, không ngờ Tuyết lại vô tình đeo lên
Xuân chiếc mặt nạ thứ hai: “Giời ơi, anh là một bậc kỳ tài! Thật là xuất khẩu thành
thơ. Mà thơ như thế thì thật trào phúng lắm không kém gì Tú Mỡ. Nhưng mà thơ
của anh sao có nhiều mùi thuốc thế?” Rồi cuối cùng Tuyết tự lý giải: “À phải rồi!
tại anh học trường thuốc nên thơ của anh cũng có mùi thuốc khoa học chứ gì! Thật