ghệ thuật truyện ngắn Gabriel Garcia Marquez - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THỊ THANH THỦY

NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN
GABRIEL GARCIA MARQUEZ

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ THỊ THANH THỦY

NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN
GABRIEL GARCIA MARQUEZ Hà Nội – 2011
3
MỤC LỤC MỞ ĐẦU…………………………………………………………………1
1. Lí do chọn đề tài………………………………………………………1
2. Lịch sử vấn đề…………………………………………………………2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu…………………………………….8
Đối tượng nghiên cứu…………………………………………… 8
Phạm vi nghiên cứu……………………………………………… 8
4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………….9
5. Bố cục của luận văn…………………………………………………….9
6. Đóng góp của luận văn…………………………………………………10
7. Quy ước…………………………………………………………………10

NỘI DUNG……………………………………………………………… 11
Chương 1: THẾ GIỚI NHÂN VẬT ĐA SẮC MÀU……………………11
1.1 Nhân vật là lực lượng siêu nhiên……………………………………….11
1.1.1 Nhân vật thần thánh………………………………………………11
1.1.2 Nhân vật ma……………………………………………………….15
1.2 Nhân vật kỳ ảo hóa………………………………………………………18
1.2.1 Dạng tồn tại lưỡng phân………………………………………… 18


1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Năm 1492, C. Côlông đã phát hiện ra châu Mỹ Latinh. Từ đó cả thế giới biết
đến một vùng đất mới lạ, bí ẩn, đầy sức quyến rũ. Đây đồng thời cũng là một cột
mốc quan trọng về văn chương.

Văn chương Mỹ Latinh buổi đầu còn nghèo nàn, tiến những bước chậm chạp và
chưa có những đặc tính riêng biệt. Mãi cho đến thập kỷ 70, 80 của thế kỷ XX, xuất
hiện cái gọi là sự “ồn ào” về văn chương Mỹ Latinh, đặc biệt là văn xuôi Mỹ
Latinh. “Cái gọi là sự ồn ào về các nhà văn Mỹ Latinh, trên thực tế là hệ quả logic
của cách mạng CuBa. Người ta tự hỏi CuBa ở đâu, và họ khám phá ra rằng có một
phần của thế giới được gọi là Mỹ Latinh. Và trong số những cái họ thấy ở Mỹ
Latinh, có một nền văn học mà họ chưa biết. Thế là họ chấp nhận in ra những cuốn
sách của chúng tôi, những cuốn sách đã nhiều lần được gửi tới các nhà xuất bản ở
Pháp và ở Bắc Mỹ, nhưng bị cự tuyệt” [ 27, tr. 350].

Khi nền văn học Mỹ Latinh vươn mình trỗi dậy, người ta nói nhiều đến nghệ thuật
hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại, chủ nghĩa siêu thực và đặc biệt là chủ nghĩa hiện
thực huyền ảo như một dòng văn học mới gắn liền với địa danh Mỹ Latin vốn còn
nhiều bí hiểm.

“Từ tất cả những điều nói trên, không thể nào lại nảy sinh một thực tại nào khác
hơn cái thực tại nơi chúng tôi đang sống, và từ thực tại này cũng không thể nảy sinh
thứ văn chương – đương nhiên cả hội họa, âm nhạc nữa – nào khác hơn những cái
mà chúng tôi đang có ở vùng Caribê” [ 27, tr. 344-345].
5
6
phương Tây, hình thành và phát triển trong khoảng những năm 40 đến những năm
50 của thế kỷ XX. Thế kỷ XX là thế kỷ liên tục nổ ra hai cuộc đại chiến thế giới,
cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng 10, đại cách mạng Mexico…những sự kiện
này đã góp phần bắt đầu hình thành ý thức châu Mỹ Latinh, kích thích nhiệt tình
sáng tác của các nhà văn. Kết cấu các tộc người cùng ảnh hưởng của văn học hiện
đại chủ nghĩa ở phương Tây đã thúc đẩy sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực huyền
ảo.

Khái niệm chủ nghĩa hiện thực huyền ảo bao hàm hai yếu tố “real” (hiện thực) và
“magic” (huyền ảo). Giải thích về “magic”, nhiều người thường chỉ nghĩ tới “huyền
thoại”, “truyền thuyết” được dùng trong tiểu thuyết. Như thế là đúng, nhưng chưa
đủ. Nên xem “magic” là “cái kỳ diệu“ (còn được gọi là “văn chương kỳ diệu Mỹ
Latinh’’) gồm có “những cái mới lạ” sau: thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa bí hiểm
(Carpentier gọi là tính chất “trinh nguyên” của thiên nhiên Mỹ Latinh); những thần
thoại đang lưu truyền trong dân gian (như Macadan ở Haiti và Atuây ở Cuba);
những câu chuyện huyền bí (tiên tri, ngoại cảm, giấc mơ ) do trình độ văn hóa thấp
nên chưa lý giải được; sức mạnh phi thường của thiên nhiên

Như vậy, cắt nghĩa này không chỉ bao gồm các hoạt động thực tiễn của con người
(lao động, sinh hoạt và tranh đấu) mà còn gồm cả đời sống tâm linh, niềm tin tôn
giáo, các huyền thoại và truyền thuyết Marquez gọi đó là “tiền thực tại”, “vốn là
siêu hình, nó không phục tùng những suy đoán tưởng tượng“, “đó là những điềm
báo, về ngoại cảm, về rất nhiều niềm tin báo trước – dân chúng Mỹ Latinh khắc
khoải sống trong những niềm tin ấy – bằng việc tự giải thích dưới góc độ mê tín đối
với các vật thể, các sự vật và các sự kiện ”. Nền văn chương của thổ dân da đỏ
trước kia đã nhuốm một thứ thực tại trung gian, thực tại thứ ba giữa cái “thực” và
cái “huyền bí”, đó là sự pha trộn của cái thấy được và sờ mó được với cái ảo giác và

cũng đã được thấy đó đây ở sáng tác của những tác giả Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn
Bình Phương, Hồ Anh Thái, Nhật Chiêu, Đặng Thân, Hoàng Ngọc Thư, Nguyễn
Vĩnh Nguyên, Lê Anh Hoài, Vinh Huỳnh, Hoàng Ngọc Tuấn, Đỗ Ngọc Thạch…
Nguyễn Huy Thiệp khi viết một số tác phẩm như truyện Trái tim hổ, truyện Con 8
thú lớn nhất có chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. Diệp Minh
Tuyền trong bài Một tài năng mới (Văn nghệ, số 36& 37/1988) đã viết: “Sự kết hợp
giữa hiện thực và huyền thoại cũng là nét mới trong cách dựng truyện của anh. Rõ
ràng ở đây ta thấy dấu ấn của văn học hiện đại châu Mỹ Latinh”.
2.2 Raymood Carver, một trong những bậc thầy truyện ngắn thế giới ghi nhận: ngày
nay, tác phẩm hay nhất, tác phẩm hấp dẫn và thỏa mãn nhất về nhiều mặt, thậm chí
tác phẩm có cơ hội lớn nhất để trường tồn, chính là tác phẩm được viết dưới dạng
truyện ngắn.

Ở Việt Nam và trên thế giới, số lượng các công trình nghiên cứu về truyện ngắn hãy
còn ít. Trong giới hạn đó, luận án Các loại hình cơ bản của truyện ngắn hiện đại
(Trên cơ sở cứ liệu truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945) của tác giả Nguyễn
Văn Đấu (năm 2001) đã cung cấp cho người đọc những cơ sở lý luận nhất định
trong việc đọc – hiểu truyện ngắn hiện đại. Từ việc khái quát những đặc trưng của
truyện ngắn hiện đại, tác giả tập trung khai thác 3 hướng tổng hợp thể loại cơ bản
nhất của truyện ngắn hiện đại: truyện ngắn – kịch hóa, truyện ngắn – trữ tình hóa,
truyện ngắn – tiểu thuyết hóa dưới các góc độ cốt truyện, nhân vật và trần thuật.

Ai cũng biết chủ nghĩa hiện thực huyền ảo gắn bó mật thiết với những huyền thoại
cổ xưa của người da đỏ Mỹ Latinh, của người da đen châu Phi, của người da trắng
châu Âu và của cả những huyền thoại hiện đại… Nhưng ngần ấy vẫn chưa đủ để tạo
nên diện mạo cho nó.


mới lạ. Phải đến khi Trăm năm cô đơn được thừa nhận thì Marquez mới có chỗ
đứng thực sự. Năm 1982, ông dành giải Nobel văn học danh giá. Cũng từ đây, cái
tên Marquez cùng với chủ nghĩa hiện thực huyền ảo không ngừng lan rộng và ảnh
hưởng tới nhiều nền văn học trên thế giới trong đó có Việt Nam.

Vấn đề tìm hiểu, nghiên cứu về G. G. Marquez và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo
được tác giả Lê Huy Bắc đề cập đến trong một loạt các bài viết G. G. Marquez và
những người thầy của ông (Tạp chí châu Mỹ ngày nay, số 10, 2005); Nghệ thuật
Phran Dơ Káp Ka (2006); Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và G. G. Marquez: 10
Chuyên luận. Các bài viết của Lê Huy Bắc đã tập trung vào quá trình khởi đầu viết
truyện ngắn của Marquez, sự chịu ảnh hưởng của các phong cách truyện ngắn trước
đó của ông, đặc biệt là Kafa. Trên cơ sở khái quát thi pháp nghệ thuật trong các
sáng tác của Kafa, người viết đã đi đến đối chiếu điểm giống và khác giữa bút pháp
huyền ảo hậu hiện đại Marquez và huyền ảo hiện đại Kafka.

Cùng thời điểm, tác giả Vũ Trung Kiên đi sâu vào khai thác cuốn tiểu thuyết được
xem là xuất sắc nhất của Marquez qua luận văn Nghệ thuật tiểu thuyết Trăm năm
cô đơn của Gabriel Garcia Marquez ở các phương diện: cốt truyện và đề tài, điểm
nhìn, không gian, các kiểu nhân vật đặc trưng. Luận văn đã phần nào cụ thể hóa chủ
nghĩa hiện thực huyền ảo của Marquez kết tinh trong sáng tác của ông nói chung và
trong Trăm năm cô đơn nói riêng.

Những năm gần đây, tình hình nghiên cứu về truyện ngắn Marquez thu được nhiều
sự chú ý. Đầu tiên có thể kể đến bài phê bình của dịch giả Nguyễn Trung Đức Chủ
nghĩa hiện thực huyền ảo của G. G. Marquez qua Chuyện buồn không thể tin
được của Ê-rênh-đi-ra ngây thơ và người bà bất lương (Tạp chí văn học số 2,
1981). Bài viết đi tìm sự biểu hiện chủ đề cái cô đơn không chỉ ở cốt truyện mà còn

- Không - thời gian
- Điểm nhìn và nghệ thuật kể chuyện

3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Do hạn chế về mặt ngoại ngữ, chúng tôi chỉ sử dụng nguồn tư liệu liên quan đến
tác giả này cùng các sáng tác của ông đã được dịch ra tiếng Việt, đó là:
- G. G. Marquez, truyện ngắn tuyển chọn, Nguyễn Trung Đức, Nhà xuất bản
Văn học, 2007.
Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo các tuyển tập:
- Ngài đại tá chờ thư, Nguyễn Trung Đức, (tập truyện), Nhà xuất bản Văn
học, 1983.
- Mười hai truyện phiêu dạt, Nguyễn Trung Đức, (tập truyện), Nhà xuất bản
Quân đội Nhân dân, 1995.
- G. G. Marquez, 36 truyện đặc sắc, Nguyễn Trung Đức, (tập truyện), Nhà
xuất bản Văn học, 2001. 12
- Những người hành hương kỳ lạ, (tập truyện), Nhà xuất bản Văn học, 2006.

Chúng tôi nhận thấy các truyện ngắn trên được tuyển chọn lại trong cuốn G. G.
Marquez, truyện ngắn tuyển chọn, Nguyễn Trung Đức, Nhà xuất bản Văn học,
2007 với những hiệu đính chuẩn xác nhất nên tập trung khảo sát trên tập truyện này.

Ngoài ra, có 3 truyện ngắn đăng trên website là Đêm nguyệt thực, Gặp gỡ tháng
tám, Người chết cũ phải nhường chỗ cho người chết mới, do không đánh giá được
giá trị văn học của bản dịch nên chúng tôi không đưa vào danh mục tác phẩm
nghiên cứu.

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

7. QUY ƯỚC:

Cách chú thích nguồn gốc tài liệu được trích dẫn trình bày trong luận văn như sau:
trong dấu ngoặc vuông [ ] số đứng trước là vị trí của tài liệu như trong thư mục
tham khảo, số đứng sau là số vị trí trang trong tài liệu của tư liệu được chú thích.
Trường hợp tài liệu không có số trang thì số trong ngoặc là thứ tự tài liệu trong thư
mục.

Hiện nay, sự phân biệt giữa việc sử dụng chữ “kỳ ảo” và “kì ảo” trong quá trình
nghiên cứu vẫn chưa có sự thống nhất. Do đó, chúng tôi sử dụng chữ “kỳ ảo” tương
đương chữ “kì ảo”.
14
NỘI DUNG
Chương 1: THẾ GIỚI NHÂN VẬT ĐA SẮC MÀU Nhân vật văn học là một thuật ngữ chỉ hình tượng nghệ thuật về con người,
một trong những dấu hiệu về sự tồn tại của con người trong nghệ thuật ngôn từ.

xuống ngôi làng bên biển vào một ngày buồn bã, khắp làng tràn ngập mùi cua thối,
dưới cái ánh sáng lờ mờ, yếu ớt. Không huyền ảo, lung linh như các nhân vật thần
tiên trước đó, ngoại hình của vị thần già nom thật tội nghiệp, thiểu não: “ăn mặc
rách rưới như kẻ đi buôn đồ đồng nát; cái đầu hói bóng lơ thơ; đôi cánh giống như
cánh gà, bê bết bụi, dính chặt xuống đất bùn ”. Với thứ ngôn ngữ khó hiểu và đôi
cánh kỳ quái gây cảm giác khó chịu, vị thần già bị đối xử một cách tệ bạc. Ban đầu
thần bị vợ chồng Pêladô canh chừng như thái độ dè chừng đối với đám nổi loạn bấy
giờ, sau thì bị chính gia chủ đem nhốt cùng với bầy gà trong chuồng bưng lưới sắt.

Tội nghiệp hơn, vợ chồng Pêladô đã sớm phát hiện ra ích lợi từ vị thần già này sau
khi đọc được sự tò mò, hiếu kỳ ở những người dân trong làng. Và thế là, vị thần
bỗng chốc trở thành một con vật làm xiếc không hơn không kém cho đôi vợ chồng
nọ kiếm lời. Nom vị thần đáng thương kia “giống một con gà già nua khổng lồ đang
ở giữa bầy gà ngây ngô”. Số phận của vị thần càng trở nên bi đát hơn khi bị đặt lên
bàn cân và thua cuộc với một người con gái diễn tiết mục rẻ tiền của gánh xiếc lưu
động đến làng biểu diễn.

“Ném” thần thánh vào giữa đời thường, Marquez đã triệt tiêu tính chất màu nhiệm,
đưa nó về ngưỡng gần như bằng không. Vị thần già cũng mắc phải căn bệnh thủy
đậu như đứa bé con nhà vợ chồng Pêladô, lê la khắp mọi nơi trong căn nhà địa ngục
đầy ma quái, với đôi cánh trụi hết lông. Và kể từ thời điểm vị thần già xuất hiện với
đôi cánh to, đầy bùn đất cho đến khi vẫy cánh bay về trời, như một điểm nhỏ xíu ở
đường chân trời ngoài biển cả mênh mông, vị thần dễ khiến người đọc liên tưởng
đến một “thiên thần gãy cánh”.

Khoác lên mình vỏ bọc bí ẩn, nhân vật thần thánh trong Nabô – người da đen
khiến các thiên thần phải đợi hiện diện với tính chất vô hình, “giọng nói hiền hòa, 16
17
căng mọng và ấm áp, đôi mắt mở to thật là trong”, khắp áp quan “thơm lựng cái
mùi hương những bông hồng tươi” Chứng kiến sự màu nhiệm ấy, người cha
Margaritô Đuartê quyết tâm bắt đầu tiến hành công cuộc xin phong Thánh cho con
gái mình. Một việc làm có tính chất không tưởng lại được người cha đặt trọn niềm
tin, tuy mơ hồ nhưng hết sức mãnh liệt với một quyết tâm theo đuổi cao độ. Không
thể kể hết những hành động mà ông đã làm vì con: ông đã liên hệ với biết bao giáo
đoàn va quỹ từ thiện mà ông gặp, mang đến Bộ ngoại giao bức thư gần bảy mươi
trang viết tay với những lời lẽ thống thiết, xúc động Đáp lại vẫn là những im lặng.

Nhà văn mở ra cho nhân vật một tia hy vọng cuối cùng, khi người cha có cơ hội
được gặp gỡ đức Giáo hoàng vui tính Anbinô Luxianô với lời hứa sẽ giúp đỡ. Cứu
cánh cuối cùng này cũng bị sụp đổ bởi một hóa giải không ngờ: cái chết của đức
Giáo hoàng. Một con người già nua và mệt mỏi trong lòng một Rôma cổ xưa -
chuyện phong Thánh đã chỉ còn là chuyện của các tháng rồi – vẫn “lết đôi chân ở
giữa đường phố, với đôi ủng nhà binh và chiếc mũ bạc phếch”. Tính chất thần
thánh, màu nhiệm toát ra từ thi hài còn vẹn nguyên của người con gái mờ nhạt dần,
ta chỉ còn thấy một vị thánh sống, ngay giữa đời thường, đó là người cha mang tên
Margaritô Đuartê.

Xây dựng những nhân vật thần thánh này, Marquez không có ý định viết tiếp những
thiên cổ tích đẹp về con người. Nhà văn đã khéo léo đặt các nhân vật thần thánh
trong tương quan với con người nhằm khẳng định: con người và sức mạnh bền bỉ
của con người là hiện thân trực tiếp nhất của những vị thánh giữa đời thường; thế
giới thần thánh chẳng qua cũng chỉ là phản quang của thế giới con người đa vẻ,
phức tạp.

1.1.2 Nhân vật ma:

lặng lẽ nói chuyện với các vị thánh. Trái lại, “mình” lại ngập tràn những cảm xúc,
suy nghĩ và hành động dự kiến. Nhân vật “mình” chỉ vì muốn chứng minh sự tồn
tại, sự hiện diện của mình trong ngôi nhà nọ mà không ngừng cái ý định đi đến tận
bàn thờ, chọn lấy những bông hồng lộng lấy và tươi mát nhất, đem đặt dưới mộ
mình. Hai cá thể cùng dưới một mái nhà, song lại tương phản nhau trong thái độ
sống, cách sống. Nếu “nàng” tuyệt giao, cô độc, vật vờ như cái bóng thì “mình” lại 19
đầy sinh khí, đầy sức sống. Bóng ma không ngừng quan sát “nàng”, từ những hành
động nhỏ cho đến những thay đổi đáng kể theo thời gian của “nàng” với những hồi
tưởng, trăn trở, thắc mắc. Bao trùm lên tất thảy là ý định làm xê dịch những bông
hoa hồng trên bàn thờ, hòng chỉ cho nàng thấy một sự thực hiển nhiên: không phải
gió là thủ phạm làm rối những bông hồng. Như vậy, cách sống cô độc, khép kín có
thể biến con người ta từ một thực thể sống thành một bóng ma ngay trong chính
ngôi nhà của mình, ngược lại, bóng ma có đời sống nội tâm phong phú, sinh động
phút chốc lại trở thành một sinh thể sống có linh hồn. Người thành ma, ma bỗng
chốc lại hóa người, ranh giới mong manh này rốt cuộc lại do chính cách sống quyết
định.

Toàn bộ sáng tác của Marquez cho đến nay luôn xoay quanh trục chủ đề chính: cái
cô đơn. “Trên thực tế một nhà văn chỉ viết một cuốn sách. Cuốn sách mà tôi đang
viết là cuốn sách về cái cô đơn” [4, tr. 161]. Bà vợ ông già Giacốp (Biển của thời
đã mất) chết cũng bởi bà không tìm thấy sự sẻ chia, đồng cảm nào từ phía người
chồng và những người dân trong làng trước điềm báo về mùi hương hoa hồng. Điều
đáng buồn hơn đó là ngôi làng gồm những căn nhà trắng trồng hàng triệu bông hoa
không phải là ngôi làng hiện thực mà chỉ có ở ngoài biển, ngôi làng của những
người chết trôi. “Cái làng bị chìm vào một ngày chủ nhật ở các sân hiên hoa nở
sặc sỡ đủ màu, con người thì xoay tít xung quanh quán âm nhạc”. Thì ra, sự cô đơn,
không có liên kết giữa các cá nhân khiến cho con người ta chỉ có thể tìm thấy những

khi bừng tỉnh, lại vội vàng ân hận, kiếm tìm yêu thương đã mất. Ý nghĩa nhân sinh
đối với hiện tại được rút ra từ chuyện kể trong quá khứ chính là ở điểm này mà có.

Đặt thế giới các hồn ma và đời sống con người song hành, tồn tại bên cạnh nhau,
Marquez đã thâm nhập vào vùng tâm linh khó đoán định nhất, thỏa sức cho trí
tưởng tượng của mình bay bổng. Những nhân vật ma hiện diện với đời sống tinh
thần phong phú, sinh động hệt như thế giới con người mà cầu nối giữa hai thế giới
ấy là nỗi cô đơn. Xây dựng nên những dạng thức nhân vật này, nhà văn muốn đưa
ra một cảnh báo: con người và đời sống của con người nếu cô lập, khép kín sẽ
chẳng khác gì thế giới tồn tại của những hồn ma. Tương tự, chúng ta có thể tìm thấy
sự hiện diện của thần thánh không phải đâu xa mà ngay trong chính mỗi con người
đời thường, và đó đích thị là những vị thánh sống. 21

1.2 Nhân vật kỳ ảo hóa:

“Giống hầu hết các khuynh hướng văn học hiện đại khác, chủ nghĩa hiện thực
huyền ảo phản ánh sự bất an bản thể của thời đại” [6, tr. 27]. Nội dung này được
biểu hiện thông qua vô vàn cách thức. Nhưng điều có khả năng gây sốc cho độc giả
nhất ở chủ nghĩa hiện thực huyền ảo là việc xây dựng những con người, sự kiện,
câu chuyện có tính chất quái lạ, kỳ ảo mà vẫn đảm bảo “cốt” hiện thực nhất định.
Do đó, sẽ thật là thiếu sót nếu không nhắc đến một hệ thống nhân vật kỳ ảo với
những dạng thức tồn tại và số phận bất thường.

1.2.1 Dạng tồn tại lưỡng phân:

“Lưỡng phân” được hiểu là sự phân tách một khái niệm, một thực thể thành hai
khái niệm, hai thực thể bao gồm trong toàn bộ nội hàm, chỉnh thể chung của nó.

thuộc viết lên tường cùng thứ mùi đồng quê quen thuộc.

Nhân vật y trong Chuyến đi cuối cùng của con tàu ma cũng tồn tại trong một hoàn
cảnh y nguyên như vậy. Không phủ nhận chuyện y có nhìn thấy một con tàu khách
khổng lồ đi qua làng, nhưng điều này diễn ra ngoài đời thực hay trong giấc mơ đối
với y thì thật khó khẳng định. Ngay bản thân y, lần đầu tiên có dịp chứng kiến sự
việc lạ lùng này cũng tin rằng đó chỉ là một giấc mơ. Và ở càng những lần sau, khi
sự chứng kiến đã được thỏa mãn rồi, đủ đầy rồi, trong y lại trỗi dậy khao khát
chứng minh sự thực đó với dân làng. Nỗi cô đơn khi bị gạt ra ngoài lề xã hội, không
nhận được bất cứ sự chia sẻ, tin tưởng nào vô tình đẩy nhân vật càng đi sâu vào
vùng ảo ảnh. Mộng ảo rồi chợt thức tỉnh, truyện là hành trình gian nan của một
người từ trong bóng tối, từ trong mộng tưởng vượt thoát ra đời sống thực, hiện hữu.

Hiện tượng nhân vật phân thân, sống ở hai thế giới khác nhau còn được bắt gặp
trong Mùa hè hạnh phúc của bà Phorbơt. Đảm nhận công việc giáo dưỡng, bà
Phorbơt trong mắt hai đứa bé là một người vô cùng nghiêm khắc với những nguyên 23
tắc của nếp sống thị thành; y phục và ngoại hình của một người đàn ông và nhất là
cái mùi khai con khỉ của người Âu. Đó là cuộc sống ban ngày của bà Phorbơt. Tuy
nhiên, khi đêm đến, bà Phorbơt lại sống rất buông thả, trái ngược với con người và
những thứ quy định nghiêm khắc thường thấy. Bà huơ tay múa chân, đi lại trong
nhà như bóng ma của những người chết đuối, thậm chí cả nết ăn uống cũng thô lỗ,
ngược lại với những bài giảng về nếp sống kỷ cương của bà lúc ban ngày. “Ngay
lập tức, chúng tôi biết chắc đó là bà Phorbơt đang thức trắng đêm để sống cuộc đời
thực của một người đàn bà cô đơn mà chính bà ta đã kiểm nghiệm lúc ban ngày”.
Sự khác biệt đến mức đối lập giữa cách sống ban ngày và ban đêm cùng tồn tại
trong một con người gợi cho người đọc nhiều suy nghĩ. Nếu ban ngày, con người đó
bắt bản thân phải phục tùng một cách vô điều kiện những quy định, kỷ luật đã thành

cách thức mà bà đang sống, phân biệt với sự tồn tại hằng ngày của bà, đúng như
những gì bà chia sẻ “Đôi khi, giữa vô vàn những giấc mộng có một cái còn lại với
chúng ta mà chẳng hề liên quan gì tới cuộc sống thực”.

Bên cạnh dạng thức tồn tại mộng – thực, các sáng tác của Marquez còn xuất hiện
dạng thức tồn tại sống – chết. Những trăn trở, suy tư về lẽ sống, ý nghĩa tồn tại của
con người là những điều mà nhà văn muốn gửi gắm qua các sáng tác: Người chết
trôi đẹp nhất trần gian, Lần thứ ba an phận, Nữ thần Eva ở ngay trong con mèo
của nàng, Độc thoại của Isabel ngắm mưa ở làng Macondo.

Người chết trôi đẹp nhất trần gian được bắt đầu bởi tình huống xác một người chết
trôi dạt vào bờ của một ngôi làng ven biển chỉ có khoảng 20 nóc nhà lá. Quá trình
mai táng cho người lạ mặt đã chết này khiến cho những người dân trong làng không
khỏi ngạc nhiên trước một cơ thể ngoại cỡ và đẹp đẽ như thế. Và càng ngạc nhiên
hơn khi ở những công đoạn sau cùng của thủ tục mai táng, họ chợt nhận ra thi thể
xấu số đó là khuôn mặt của Êxtêban

Không có cái vẻ cô đơn của những người chết trôi ngoài biển, cũng không có biểu
hiện cầu cứu của những người chết đuối thường thấy trong sông, xác chết có một cơ
thể ngoại cỡ đến nỗi “không có lấy một chiếc giường nào đủ rộng để anh nằm vừa
anh không mặc vừa quần áo của đàn ông làng này cả những đôi giày ngoại cỡ
đóng đẹp nhất cũng không vừa chân anh ”. Khi người chết trôi được nhận diện là 25
Êxtêban, một sự thực đau lòng hơn hiển hiện: tấm thân ngoại cỡ được quý trọng, ca
tụng khi chủ thể của nó đã chết thì lại chính là nguyên cơ khiến anh phải chịu bao
bất hạnh khi còn sống. Theo dòng hồi tưởng, khi trước Êxtêban từng bị buộc phải đi
cửa bên đến nỗi bươu đầu chỉ vì quá cao; đôi chân đỏ nhừ và cái lưng chai ra do
phải lặp đi lặp lại một thứ động tác duy nhất trong tất cả các buổi thăm viếng hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status