Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
THÁI NGUYÊN - 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Tôn Thảo Miên, người đã tận tình
hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới nhà văn Phạm Duy Nghĩa, người đã
nhiệt thành giúp đỡ tôi khi thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại
học, cán bộ phòng quản lý khoa học trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái
Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên
cứu tại trường.
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với BGH, bạn bè,
đồng nghiệp trường THPT Mỏ Trạng, Sở GD & ĐT tỉnh Bắc Giang cùng
những người thân yêu trong gia đình đã động viên, quan tâm chia sẻ và tạo
mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành tốt khoá học này.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2011
Tác giả Đoàn Thị Hải Yến
3.2.2. Ngôn ngữ giàu chất họa 71
PHẦN KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Văn xuôi Việt Nam từ sau 1975, nhất là từ 1986 đến nay, đã có
những thay đổi lớn lao và phát triển mạnh mẽ. Đi cùng với sự thay đổi chung
ấy, thể loại truyện ngắn cũng ngày càng khẳng định vị thế của mình. Trong
những thập niên qua, truyện ngắn đã có những thay đổi sâu sắc từ tư duy nghệ
thuật, quan niệm về con người đến nghệ thuật trần thuật Điều đó không
những đã làm nên một diện mạo mới cho truyện ngắn mà còn đem lại những
thành tựu rực rỡ cho thể loại này.
Góp phần vào sự “lên ngôi” của truyện ngắn đương đại, không chỉ có
những cây bút kỳ cựu, những nhà văn thuộc thế hệ đi trước mà còn có sự
đóng góp không nhỏ của thế hệ nhà văn trẻ đang rất sung sức hôm nay. Nhà
văn trẻ, theo quan niệm chung hiện nay, là các cây bút dưới 40 tuổi, chủ yếu
thuộc thế hệ 7X, 8X (những người sinh trong khoảng thời gian những năm
1970, 1980). Họ đang xuất hiện ngày càng đông đảo, là một lực lượng viết
trẻ, khoẻ, có chất, và ngày càng có nhiều đóng góp cho sự phát triển của văn
học nói chung, truyện ngắn nói riêng.
Trong những năm vừa qua, giới lí luận – phê bình cũng đã dành cho thể
loại truyện ngắn nhiều sự quan tâm. Đã có những hội thảo được mở rộng và
có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái chiều đựơc trình bày. Cũng đã có
nhiều bài viết, chuyên luận nghiên cứu về truyện ngắn đương đại. Nhưng thực
nhằm khám phá những điều làm nên sức cuốn hút của truyện ngắn Phạm Duy
Nghĩa. Đồng thời, qua đó góp phần định vị một gương mặt nhà văn trẻ bắt
đầu có dấu ấn riêng trong nền văn xuôi đương đại. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Đến với văn chương, mỗi người một vạch xuất phát, một con đường.
Nhiều người chọn cách xuất hiện ồn ào, đình đám, với những tuyên ngôn, lập
thuyết gây xôn xao dư luận, có người lại chọn cách âm thầm, từ tốn nhưng
cũng không kém phần rạng rỡ, vinh quang.
Phạm Duy Nghĩa đến với văn chương như mối duyên kì ngộ. Năm
1999, khi còn là một thầy giáo, trong một lần đưa giáo sinh đi xóa mù ở vùng
cao, những ám ảnh về thiên nhiên, cuộc sống, con người nơi đây đã thôi thúc
anh phải cầm bút. Và, anh lặng lẽ viết, lặng lẽ kể những câu chuyện sâu sắc,
ảm ảnh về xứ sở gói trong mây trắng ấy bằng những áng văn tinh tế, đầy chất
thơ, bằng một giọng kể có nghề đầy sức gợi Để rồi khi xuất hiện, ngay lập
tức được công nhận là nhà văn, một nhà văn thực tài.
Nguyễn Trọng Hoàn đã cho rằng tập truyện Tiếng gọi lưng chừng dốc
là “một khởi đầu đầy ấn tượng” của Phạm Duy Nghĩa. Tác giả cũng nhận thấy
“phần lớn truyện của Phạm Duy Nghĩa đậm đặc chất thơ” và “yếu tố ngoại
cảnh được khai thác triệt để, tạo ra sức biểu hiện tự nhiên đồng thời trở thành
những dẫn dụ mê hồn và cuốn hút". Nhận xét về nhân vật và nghệ thuật xây
dựng nhân vật của Phạm Duy Nghĩa, tác giả này cho rằng : “Nhân vật trong
tác phẩm của Nghĩa đa dạng, ít nhiều đều có yếu tố nổi trội, đôi lúc khác
thường đó là những đầu mối cắt nghĩa của anh với khát vọng hoàn thiện về
tâm hồn và nhân cách”.
Kim Ngọc Đại, cũng từ Tiếng gọi lưng chừng dốc, đã nhận thấy "một
Theo dõi bước đường thành danh của Phạm Duy Nghĩa, nhà văn Dạ
Ngân cũng thấy rõ trong tác phẩm của anh bên cạnh những truyện ngắn
“trong suốt” khi viết về núi rừng Tây Bắc, gần đây “bắt đầu có sự sắc sảo
gai ngạnh khi đề cập đến tình trạng tha hoá của một bộ phận giới chức hiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
thời”, “sự bứt phá, giễu nhại một cách chát chúa mà vẫn nghiêm trang, tỉ
mẩn” của “một ngòi bút vâm váp, bạo liệt trong những tình huống nhiều tác
giả khác có thể ngại miêu tả”.
Bùi Việt Thắng thì cho rằng “Khu vườn văn chương của Phạm Duy
Nghĩa tràn đầy màu xanh - chất thơ của đời sống và được tắm gội bằng ánh
sáng nhân văn rực rỡ, nồng thắm” và “nhìn thấy trong truyện ngắn của
Phạm Duy Nghĩa những con người ở phần thánh thiện, dù họ ở lứa tuổi, nghề
nghiệp, trình độ, địa vị xã hội nào”.
Còn nhà văn Mã A Lềnh đã đi từ “thích thú” đến “chia sẻ” và cuối
cùng là bị “ám ảnh” bởi những trang văn “đặt nhân vật vào đúng hoàn cảnh
và không gian cuộc sống cộng với nhiều chi tiết rất thật, sống động như
những cuốn phim ngắn ít lời, tỏ rõ sự chắc tay xảo thuật văn chương” và “có
thể coi mỗi truyện là một bài thơ”.
Với kinh nghiệm của một người đi trước, Mã A Lềnh cũng chỉ ra sự
sắp đặt trong cốt truyện, giáo điều trong lời văn hay sự khiên cưỡng trong quá
trình phát triển tâm lí nhân vật ở một số truyện. Tuy vậy, nhà văn này cũng
khẳng định chắc nịch, Phạm Duy Nghĩa “đích thực là một nhà văn”.
Vẫn còn đây đó, một số ý kiến cho rằng, Phạm Duy Nghĩa không chịu
thay đổi không gian và nhân vật trung tâm, ngôn ngữ đặc kinh như là một vị
khách của miền núi, hay sự bố trí, sắp đặt trong tổ chức truyện,
Nhưng hầu hết các ý kiến đều dành những lời khen ngợi và khẳng định
tài năng Phạm Duy Nghĩa.
Để có cái nhìn phong phú và toàn diện, luận văn cũng tham khảo sáng
tác của một số tác giả trẻ cùng thế hệ với Phạm Duy Nghĩa ( như Đỗ Bích
Thúy, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Ngọc Tư,…) và sáng tác, nghiên cứu của một
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
số tên tuổi lớn ( như Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Vi Hồng, Ma Văn Kháng, Cao
Duy Sơn, Nguyễn Huy Thiệp…)
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Phương pháp khảo sát, thống kê.
4.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp.
4.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
5.1. Về mặt lí luận
Góp phần khám phá, phát hiện những sáng tạo mới mẻ, độc đáo trong
việc tiếp cận hiện thực, con người đương đại (nhất là ở miền núi) và một số
phương diện nghệ thuật truyện ngắn đặc sắc, nổi bật của nhà văn trẻ Phạm
Duy Nghĩa.
5.2. Về mặt thực tiễn
- Góp thêm một tư liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến sáng tác
của Phạm Duy Nghĩa.
- Tìm ra những nét chung và dấu ấn riêng cũng như sự đóng góp của
nhà văn đối với sự phát triển của văn xuôi Việt Nam đương đại.
6. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Cốt truyện truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa.
Chƣơng 2: Nhân vật trong truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa.
Chƣơng 3: Ngôn ngữ nghệ thuật truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
thực vận động trong tác phẩm theo chiều tuyến tính, giúp người đọc định
hướng rõ ràng khi tiếp nhận.
Trong truyện ngắn đương đại, cốt truyện đang có xu hướng trở nên mờ
nhạt. Nhiều truyện ngắn biểu hiện sự co giãn cốt truyện. Nhiều truyện ngắn
được lắp ghép bởi các mảng trần thuật khác nhau, biểu hiện của sự phân rã cốt
truyện những năm đầu thế kỉ 21.
Có thể nói rằng, truyện ngắn là "nơi phô diễn những cách tân về cốt
truyện một cách hiệu quả nhất" và độc giả hôm nay đang chứng kiến sự đổi
thay của cốt truyện ngắn đương đại. Ngoài việc kế thừa phát huy cốt truyện
truyền thống, truyện ngắn hôm nay còn thừa nhận sự xuất hiện và thay thế của
cốt truyện mới. Có thể kể đến các kiểu cốt truyện như : cốt truyện ghép mảnh,
cốt truyện khung (truyện lồng truyện), cốt truyện huyễn ảo, cốt truyện dòng ý
thức, cốt truyện siêu văn bản,
Văn xuôi miền núi là một bộ phận văn chương có mối ràng buộc rất
chặt với truyền thống (bởi cả những nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan)
Viết chủ yếu về miền núi, vì thế mà cốt truyện truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa
cũng không thể bỏ quá xa những kết cấu truyền thống. Đó là cốt truyện liền
mạch, tôn trọng trật tự tuyến tính, duy trì quan hệ nhân quả.
Văn học là cuộc vận động không ngừng, nhà văn muốn tồn tại cũng
phải không ngừng sáng tạo, Phạm Duy Nghĩa bên cạnh những cốt truyện
truyền thống, đã có ý thức làm mới mình bằng một số cốt truyện mang yếu tố
cách tân. Đó là các kiểu cốt truyện huyền ảo, cốt truyện khung (truyện lồng
truyện), cốt truyện ghép mảnh, cốt truyện tâm lí.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
ngủ liền với vách lớp học. Những đêm xuân, Thuận nằm nghe tiếng dúi gặm
măng sồn sột sau nhà. Quanh năm, sương mù vón lại trên đỉnh núi Rú. Ngọn
xám ngắt tỏa khí lạnh buốt, nhô ra bức thành đá sứt sẹo, lởm chởm, phủ cây
dại bùng nhùng. Lâu lâu, từ núi vọng về một âm thanh đục ngầu của đá lở.
Gió rít ùng ục trong rừng vầu đắng, rừng nứa ngộ, nghe như nghẽn lại trong
tầng lá rậm rì. Những buổi chiều vào rừng nhặt củi, Thuận thấy loi nhoi trong
sương một đôi bóng áo chàm". Không gian hoang vắng nơi tận cùng heo hút
ấy càng khắc sâu nỗi cô đơn cùng cực của con người, góp phần lí giải phần
nào nỗi "thèm người" rất thật của cô giáo Thuận, cũng tạo điều kiện cho
những khát khao dục vọng thầm kín của con người có cơ hội bùng lên mãnh
liệt.
Hoặc, mở đầu bằng bối cảnh xảy ra câu chuyện. Đó là một cuộc gặp gỡ
tình cờ trên một chuyến tàu (Cô gái xuống ga Vĩnh Yên): "Tôi ra ga vào một
buổi sáng mùa đông giá lạnh. Khoang tàu nghẽn đặc người. Chen qua đám
hành khách ồn ào, hỗn độn, tôi vừa tìm được số ghế bên cửa sổ thì tàu chuyển
bánh Ngồi cạnh tôi là một cô gái chạc mười chín, hai mươi", để sau đó là
một câu chuyện như trò đùa của số phận; hay có lúc mở đầu tác phẩm lại là sự
lí giải về nguồn gốc câu chuyện: "Trong quãng đời làm nghề nghiên cứu văn
hóa dân gian, tôi đã từng lên những vùng xa xôi bên dãy Hoàng Liên hiểm
trở. Trong một chuyến đi tôi gặp lại Tần, một người tôi quen trong lần tham
gia đoàn làm phim tại lễ hội trùm chăn của người Hà Nhì. Hôm đó xong việc
thì đã muộn. Tôi đứng ở ngã ba đường, chờ mãi không thấy chiếc xe khách
nào chạy về thị xã. Thấy tôi tần ngần, Tần rủ tôi về chơi nhà anh ta ở Ô Cán
Hồ, cách ngã ba hơn mười cây số. Máu giang hồ nghệ sĩ nổi lên, tôi vui vẻ
bằng lòng." (Chuyện ở Ô Cán Hồ).
Trước khi tham gia vào các sự kiện, tình huống truyện, nhân vật thường
được giới thiệu khái quát về lai lịch, diện mạo, tính tình. Ở Thông trên đá,
Viễn rời thành phố về sống tại ngôi nhà cũ kĩ ở vùng hồ". Rồi, cứ thế, các sự
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
kiện cứ tuần tự, chuyện xảy ra trước, kể trước, chuyện xảy ra sau, kể sau, dần
dần cho đến khi kết thúc. Lối kể chuyện trùng khít thời gian cốt truyện và thời
gian trần thuật ấy làm cho câu chuyện trở nên dễ hiểu, dễ nắm bắt, phù hợp
với khả năng tiếp nhận của số đông người đọc ở miền núi.
Tuy nhiên, ở một số truyện các thành phần cốt truyện không được trình
bày tuần tự theo một trật tự liền mạch của chuỗi sự kiện cũng như theo trật tự
tổ chức cốt truyện truyền thống. Đó là những tác phẩm được mở đầu bằng
hiện tại rồi ngược về quá khứ, bắt đầu khi sự kiện đã xẩy ra rồi đi tìm nguyên
nhân nguồn cội. Vệt sáng trên ban công mở ra bằng những suy nghĩ day dứt,
hối hận của nhân vật tôi: "Tôi không bao giờ gặp lại con bé nữa. Mỗi lần nhớ
đến nó, cái vẻ hồn nhiên tươi tắn như được chắt ra từ những cánh bằng lăng
tím muốt lại tràn ngập tâm hồn tôi, đọng mãi trong tôi một nỗi buồn dai dẳng.
Nó không còn bé bỏng, tôi biết thế, nhưng trong kí ức của tôi nó luôn là một
cô bé, mãi mãi không bao giờ lớn thêm", rồi nhớ lại quá khứ đã qua:"Tôi gặp
con bé vào một buổi tối cuối mùa xuân. Hôm ấy ". Còn ở Lá bạch đàn thì
hiện tại lại hiện ra rất đột ngột, táo bạo:
" Chiếc áo phông rớt xuống.
Rồi đến đôi tất trắng. Mỏng, nhẹ như sương.
Ngón tay anh chạm vào chiếc cúc quần bò của Liên. Chiếc cúc bằng
đồng, lành lạnh, như con mắt gườm gườm.
Anh dừng lại, nhìn qua ô cửa căn phòng khách bé nhỏ, một giường".
Theo ánh nhìn đó, thời gian trở về buổi chiều hôm ấy khi Minh tình cờ
gặp lại Liên, rồi lại trở lại câu chuyện dở dang của hai người và lại chiếu về
quá khứ xa hơn, "mười năm trước".
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
từ cuộc sống đời thường và triển khai một cách tự nhiên với “một lớp chi tiết
bề mặt rất sống động” (La Khắc Hoà).
Chi tiết là tiểu tiết trong tác phẩm tự sự. Truyện ngắn có thể không có cốt
truyện nhưng không thể nghèo chi tiết bởi "truyện ngắn là một vấn đề được
xây dựng bằng chi tiết" (Nguyễn Công Hoan). Trong truyện ngắn Phạm Duy
Nghĩa, những "chi tiết đời sống" rất thật đã góp phần làm nên hồn cốt tác
phẩm. Có chi tiết đóng vai trò trung tâm thẩm mỹ, là nơi nhà văn gửi gắm tư
tưởng nghệ thuật, như chi tiết giấc mơ về cơn mưa hoa mận trắng tinh khiết,
tươi lành đến với Thuận (Cơn mưa hoa mận trắng) ngay sau cuộc "giằng giữ,
bảo toàn đến tận cùng, khốc liệt", gửi đến cho độc giả khát vọng về một sự
thanh lọc trong tâm hồn con người; chi tiết Tú (Hoa cẩm tú cầu ứng mệnh)
cất tiếng gọi tìm người mình yêu trên đỉnh núi gió gào buốt lạnh mà chỉ nhận
lại tiếng vọng của chính mình cho thấy nỗi cô đơn đau đớn cùng cực của con
người Ngoài ra, rất nhiều chi tiết phụ trợ mang chức năng đẩy câu chuyện
vận động, phát triển Nhờ những chi tiết mà không khí, cảnh trí, tình huống,
tính cách cũng như hành động, tâm tư nhân vật được bộ lộ đầy đủ.
Một chi tiết đắt giá ngoài ý nghĩa chân thực còn cần phải đạt tới ý nghĩa
tượng trưng, hàm chứa một cách nhìn, cách đánh giá và năng lực tưởng tượng
của nhà văn đối với cuộc sống và con người.
Chi tiết Thuận ăn thịt con khỉ chết cháy với câu chuyện người đàn bà
oán hận chồng bỏ vào núi Rú rồi mất tích, chuyện anh Trương lâm trường,
sống lâu với khỉ, cười khèng khẹc như khỉ, mọc đuôi như khỉ muốn nói rằng
sự cô đơn nơi hoang dã dễ khiến con người trở nên tha hóa, biến dạng.
Chi tiết anh chồng Thuận bị con ngựa đá vào bọng đái để rồi đến đêm
“Chị vùi mặt vào tảng ngực trần hồi khét, cào cấu, khóc suốt đêm”, là để nói
cái hạnh phúc trần gian bị tước đoạt phũ phàng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
nứt hạnh phúc gia đình ngày càng trở nên đa dạng trong cuộc sống hiện đại.
Lâu nay người ta thường chỉ nhắc đến những hiện tượng phổ biến Trong
thực tế còn tồn tại những bất hạnh khó đặt tên, tưởng chừng không đáng kể.
Chúng vụn vặt như một mẩu, mảnh kim loại lẫn trong cỏ cây, đất cát nhưng
có thể ngấm ngầm gây vi trùng uốn ván chết người".
Chuyện về người chú tàn tật kì lạ, về anh công nhân có bàn tay dị dạng
mà tài hoa ở Cô gái xuống ga Vĩnh Yên, ở Trên đồi lập loè ánh lửa là câu
chuyện về cuộc đời người điên tên Hải vốn là một Bí thư xã đoàn năng nổ bị
ghen ghét, vu vạ mà phát điên, câu chuyện về đôi gian phu dâm phụ cả gan
dẫn nhau lên bãi tha ma làng làm chuyện bậy bạ và phải hứng chịu hậu quả
đáng sợ. Ở Cơn mưa hoa mận trắng là những mảng kí ức mang “mùi bùn”,
“mùi cá” của nhân vật Thuận.
Những câu chuyện ấy đã làm sinh động thêm không khí truyện, giúp
cho câu chuyện chính đi hết một cách tự nhiên và nhiều lúc làm giảm độ căng
của truyện. Có khi người đọc còn không phân biệt đâu là chính, là phụ vì
chúng thật quá, như thế những câu chuyện ấy tự chúng đã tồn tại như vậy, nhà
văn chỉ việc đưa vào trang viết của mình mà không cần sắp đặt gì cả. Và như
thế, người đọc cứ bị cuốn đi, hút đi như đang xem một bộ phim 3D sống
động, như thể mình cũng đang sống trong thế giới của câu chuyện cho đến tận
dấu chấm kết thúc của tác phẩm, mới bừng ngộ và lí giải được tại sao một
truyện nói về những điều không mới, kể một câu chuyện hết sức bình thường
lại làm mê hoặc người ta đến thế.
Đặc biệt, mỗi truyện của Phạm Duy Nghĩa, nhất là những trang văn
viết về miền núi lại "tựa" trên một cái nền thiên nhiên rất riêng, đầy ám ảnh :
Đó là một Tiếng gọi lưng chừng dốc tựa vào "rặng núi xanh thẳm đằng
xa đang trong cuộc giằng co với mây trắng", có "cây móc cao buông trùm hoa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
ngắn của Phạm Duy Nghĩa trở nên sống động cuốn hút như (thậm chí là hơn)
những truyện ngắn có cốt truyện phức tạp, li kì, đầy biến động với vô số sự
kiện cũng như nhiều cách tân khác. Bằng cách ấy, Phạm Duy Nghĩa, dù đi
trên lối cũ, vẫn để lại dấu ấn của riêng mình.
1.2.2.Cốt truyện huyền ảo
Cốt truyện huyền ảo, ra đời từ thời cổ đại và phát triển đến thời hậu
hiện đại thế kỉ XXI, là cốt truyện đan xen lẫn lộn các yếu tố hoang đường với
yếu tố thật (Biến dạng - F. Kafka; Trăm năm cô đơn - G. Marque, truyện ngắn
của Nguyễn Huy Thiệp, một số truyện đường rừng của Lan Khai, Thế Lữ, ).
Sự đổi thay trong giao lưu văn học, sự mở rộng trong quan niệm về
hiện thực và đối tượng phản ánh của văn học, sự mở rộng trong quan niệm về
phương pháp sáng tác và tiếp cận hiện thực, sự tiếp nối có sáng tạo truyền
thống văn hoá văn học dân tộc, đã lí giải cho “những trang viết lạ” gắn với
yếu tố kì ảo đầy “ma lực” xuất hiện ngày càng nhiều trong đời sống văn học hôm
nay. Điều này cũng chỉ rõ, khi mà quan niệm thô sơ, giản đơn về chủ nghĩa hiện
thực đã bộc lộ những hạn chế nhất định của nó thì lập tức xuất hiện bộ phận văn
học có yếu tố kì ảo, sáng tác theo thi pháp huyền thoại và dần trở nên phổ biến.
Đó là một hiện tượng có tính chất quy luật của văn học đương đại.
Nếu truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp viết vào thập niên cuối của thế
kỉ XX, cốt truyện được xây dựng bằng một hệ thống chi tiết mang yếu tố kì ảo
thì tác phẩm của Phạm Duy Nghĩa chỉ điểm xuyết bằng một vài chi tiết kì ảo.
Điều này khiến chi tiết trở nên mờ ảo, tạo tác dụng làm mờ hoá ranh giới giữa
hiện thực và thế giới ảo. Những chi tiết này được xếp một cách khéo léo xen
giữa nhiều chi tiết của đời thực nhằm biểu đạt dòng tâm trạng của nhân vật.
Nó đem lại những cuốn hút kì lạ, bất ngờ cho độc giả. Bởi ở đó, yếu tố kì ảo
là nhân tố quan trọng mang lại những giá trị thẩm mĩ thực sự cho tác phẩm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
kinh hoảng nhận ra khuôn mặt cũ của mình đã biến mất, thay vào đó là một
“khuôn mặt lạ”. Bộ mặt biến dạng ấy, phải chăng, đại diện cho sự biến dạng
của đạo đức con người. Qua sự biến dạng của bộ mặt “quan chức lớn”, nhà
văn đang chỉ ra rằng, đang có sự tha hoá, xuống cấp về mặt đạo đức của một
bộ phận giới chức hiện nay. Như ông "quan lớn" kia chuyên chém gió trên
diễn đàn, tuôn bao lời vàng ngọc, những ngôn từ được mạ lên sáng loáng về
chống tham ô lãng phí kia lại vốn là một trí thức biến chất hèn hạ từng ăn
trộm gà hàng xóm, nhìn trộm mông con gái đi vệ sinh, “lên xe xuống ngựa”
được “tất cả chỉ nhờ một chữ “tốt””, luôn mồm chống tham ô lãng phí nhưng
luôn chạy sô kiếm phong bì và tết đến thì được coi là mùa vụ làm ăn luôn bội
thu với những chiếc phong bì “như những mảnh thiên thạch trắng lốp từ đâu
rơi xuống đầy nhà”. Đáng sợ hơn khuôn mặt biến dạng kia là sự dửng dưng,
coi như bình thường của những người quanh ông trước sự biến dạng ấy, như
vợ ông, cô hàng xóm, hay những cử toạ ngồi nghe ông thuyết giảng vẫn tay
bắt mặt mừng, vỗ tay rôm rả, phong bì “dúi” đều. Những người ấy, sống lâu
cùng cái giả, sống lâu trong cái giả, sống lâu dưới cái giả đã thành quen mà
không nhận ra sự thay đổi của khuôn mặt ông “khác nhau như giọt nước với
giọt mực”. Hay là, chính họ cũng biến dạng, cũng đổi mặt, đổi lòng?
Không thể không nhắc tới trong kiểu cốt truyện huyền ảo của Phạm
Duy Nghĩa là Hoa cẩm tú cầu ứng mệnh. Người đọc khó mà quên được cái
không khí hư ảo, huyền hồ đầy chất liêu trai khi hồn hoa cẩm tú cầu hiển
hiện: "Vào một buổi tối mùa xuân, Tú nằm trong chăn nhìn bóng đêm dìu dịu
buông trùm lên ngôi nhà gỗ, vẫn màu tối hòa sắc xanh lam phản chiếu từ hoa
bìm bìm. ( ) Đang trong trạng thái lơ mơ ngưng đọng thế, thì có tiếng chân
người rất khẽ bước lên thang. "Ai thế nhỉ?" - Tú hơi bực vì mình lại phải nghĩ.
Tiếng chân dừng lại bên ngoài cánh cửa khép và có tiếng gọi khẽ. Ý nghĩ thứ