ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
CHÂN DUNG THIỆU TRỊ VỚI
TƢ CÁCH LÀ MỘT TÁC GIẢ VĂN HỌC
QUA ĐẠI NAM THỰC LỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS. Trần Ngọc Vƣơng
Hà Nội-2013
2.1.1.4. Các thể loại khác 38
2.1.2. Theo Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu 40
2.1.2.1. Thơ 40
2.1.2.2. Văn 41
2.1.2.3. Thể loại khác 41
2.2. Nội dung chính trong văn chƣơng của Thiệu Trị 42
2.2.1. Văn chương tỏ lòng 43
2.2.1.1. Nỗi lòng với nước với dân 43
2.2.1.2. Tình yêu thiên nhiên 45
2.2.1.3. Tình cảm đối với người thân và quần thần 49
2.2.2. Văn chương tải đạo 55
CHƢƠNG 3. QUAN ĐIỂM LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH - THI PHÁP VĂN
CHƢƠNG CỦA THIỆU TRỊ QUA ĐẠI NAM THỰC LỤC 58
3.1. Lý luận phê bình 58
3.1.1. “Sách nào cũng tin chi bằng không có sách” 58
3.1.2. Văn chương cổ “còn nhiều thiếu sót” 62
3.1.3. Văn chương phải có ý nghĩa và nghệ thuật 65
3.1.4. “Văn vật nước ta không kém gì Trung Quốc” 67
3.2. Nghiên cứu về thi pháp văn chƣơng 70
3.2.1. Thể thơ 70
3.2.1.1. Thể thuyền liên 70
3.2.1.2. Thể đảo ngược 72
3.2.1.3 . Thể cách của thơ 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ và 9 chữ . 74
3.2.1.4. Thể cách của thơ 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ 76
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 1
PHẦN MỞ ĐẦU
2
chung. Nhà Nguyễn cũng để lại cho dân tộc Việt Nam nhiều tài liệu lịch sử
quý giá và có ý nghĩa như: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại
Nam liệt truyện, Đại Nam thực lục, Lịch triều tạp kỷ, Lịch triều hiến chương
loại chí… Không những chú trọng về bảo tồn các di tích văn hoá, ghi chép lại
các sự kiện lịch sử mà các ông vua nhà Nguyễn còn rất quan tâm đến văn học,
“thơ phú của các vua so ra chẳng kém với bất cứ một thi gia nào đương thời,
nếu không nói là có phần lấn lướt”
1
. Theo Giáo sư Hà Như Chi trong cuốn
Việt Nam thi văn giảng luận có viết: “Các ông vua như Minh Mệnh, Thiệu
Trị, Tự Đức đều có thi tập và bốn ông Siêu (Nguyễn Văn Siêu), Quát (Cao Bá
Quát), Tùng (Tùng Thiện Vương), Tuy (Tuy Lý Vương) đã nổi tiếng là thi bá
của thời ấy”. Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Phê cho rằng, “Huế có cả một di
sản văn học có thể nói là đồ sộ của các ông vua và những thơ hoàng tộc trong
đó tiêu biểu là vua Minh Mạng, Thiệu Trị…
2
. Theo ông, gần đây đã có nhiều
nhà nghiên cứu chú ý đến văn chương nhà Nguyễn, nhưng đa phần tác phẩm
của họ đều viết bằng chữ Hán, đòi hỏi nhiều công phu dịch thuật - độc giả
rộng rãi đã mấy ai thấy, mấy ai “sờ” được những tác phẩm đó?
Như trên chúng tôi đã nói, triều Nguyễn rất coi trọng và luôn luôn cổ
vũ tinh thần sáng tạo văn học nên dưới thời nhà Nguyễn có một khối lượng
tác giả nổi tiếng từ vua Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức… cho đến các hoàng
tử, công chúa như Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, Vương Am, Mai Am
Công chúa…và các vương tôn quan lại như Trương Đăng Quế, Nguyễn Đăng
Tuân, Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản… Trong số đó, Thiệu Trị là một
minh chứng tiêu biểu. Thơ của ông được đánh giá cao trong giới học thuật,
hơn là ông đã biên tập, chỉnh sửa và rút ra các quy tắc về âm, vận, luật trong
nghệ thuật sáng tác với cuốn sách có nhan đề là Thiệu Trị văn quy tự vận hội
tập… Bên cạnh đó ông còn dành thời gian để đọc và luận bàn về văn học
Đông Tây cổ kim một cách uyên bác khiến cho nhiều học giả đương thời phải
gật gù công nhận. Những điều đó đủ chứng minh rằng Thiệu Trị là một tác
giả văn học, một học giả thực thụ mà chúng ta chưa có dịp tìm hiểu. Phải thừa
nhận rằng nếu không có một tâm hồn yêu văn chương, mẫn cảm nghệ thuật,
một tầm hiểu biết cũng như vốn văn chương rộng rãi thì Thiệu Trị không thể 4
làm được những điều đó. Chính khả năng sáng tạo, sự nghiên cứu, tìm tòi đó
của Thiệu Trị đã làm nên tư cách một tác giả văn học lớn ở ông.
Với những nhận thức trên, chúng tôi thật sự khâm phục và ngạc
nhiên trƣớc tài năng của vua Thiệu Trị. Ông xứng đáng được thế hệ hôm
nay và mai sau biết đến không chỉ với tư cách là một vị vua mà còn với tư
cách là một nhà thơ, nhà nghiên cứu. Tuy nhiên vì những quan điểm lệch lạc
trong quá khứ cũng như những khó khăn về mặt tư liệu mà ít học giả có cơ
hội tìm hiểu về thi sĩ này, điều này sẽ là “bước cản” cho chúng tôi trong việc
bước đầu tạo dựng nên chân dung của Thiệu Trị với tư cách là một tác giả văn
học. Nhưng nếu không nghiên cứu về Thiệu Trị có lẽ là một thiếu sót lớn
trong việc hình dung về bức tranh văn học trung đại, vì vậy chúng tôi quyết
định lấy Thiệu Trị làm đề tài cho luận văn của mình, với mong muốn bước
đầu phác dựng chân dung một tác giả văn học lớn mà lịch sử nghiên cứu văn
học đã “vô tình bỏ qua”, với hi vọng những giá trị thẩm mĩ đích thực sẽ được
đưa về đúng vị trí của nó. Từ đó chúng ta sẽ có được cái nhìn toàn diện hơn
về triều Nguyễn - một triều đại hỗn hợp giữa công và tội - một triều đại gây
sự tò mò khó lí giải cho các nhà nghiên cứu.
Với những lí do trên, chúng tôi chọn Thiệu Trị làm đề tài cho luận văn
Thạc sĩ của mình với tiêu đề: Chân dung Thiệu Trị với tư cách là một tác
Thực lục Chính biên Đệ tam kỷ
1
về Thiệu Trị. Đến 1877, cuốn sách được các
Sử quán Tổng Tài là Trần Tiễn Thành, Phó Tổng tài là Lê Bá Thận, Toản tu
Phạm Huy Bính biên tập xong và được Tự Đức cho khắc in trong năm đó.
Cuốn sách lần lượt ghi chép chi tiết nhiều sự kiện lịch sử của nước ta cũng
như tư tưởng, suy nghĩ và hành động của Thiệu Trị trong thời gian trị vì.
Ngoài ra, Thực lục Chính biên Đệ tam kỷ cũng giành nhiều trang ghi lại các
hoạt động văn chương, quá trình sáng tác, in ấn xuất bản và đặc biệt là cảm
1
Thực lục Chính biên đệ tam kỷ là một phần trong tuyển tập Đại Nam thực lục. 6
nhận của các học giả đương thời về nhà văn này. Bộ sách là một tài liệu lịch
sử quý giá đồng thời cũng được xem như là một tuyển tập về văn chương
Thiệu Trị có tính chất trọn vẹn kể từ đó cho đến ngày nay. Tuy nhiên, sự
nghiệp văn chương của ông ở trong bộ sách này chỉ ghi chép tản mạn và
không theo hệ thống và có phần giấu đi, vì vậy người đọc sẽ rất khó hình
dung được chân dung của ông với tư cách là một nhà văn.
Kể từ sau tuyển tập Đại Nam thực lục, nghiên cứu ở phương diện lịch
sử về Thiệu Trị - với tư cách là một vị vua đã được nhiều công trình thực
hiện, nhưng tư cách một nhà thơ, một học giả văn học của ông vẫn chưa có
nhiều công trình. Chân dung văn học của Thiệu Trị đã được đề cập đâu đó
trong một số bài báo, tạp chí nhưng khá mờ nhạt, ít ỏi, chưa có những phân
tích sâu sắc, cụ thể và tường tận về những khía cạnh cụ thể của đối tượng.
Phải đến 150 năm sau ngày Thiệu Trị mất (1847), người ta mới biết
rằng ông là một nhà thơ đầy tài năng qua công trình Thần Kinh nhị thập cảnh
của nhóm tác giả Phan Thuận Hóa, Phạm Đức Thành Dũng, Phan Thanh Hải
Đây là công trình nghiên cứu công phu, mang tính chỉ dẫn rất cao đối với
người nghiên cứu sau này, nhưng chỉ tiếc rằng công trình chỉ giới hạn nghiên
cứu về thi pháp trong một bài thơ, chứ chưa đi vào khai thác Thiệu Trị ở quy
mô rộng hơn, bao quát hơn.
Trên đây là những công trình có giá trị, bước đầu khắc họa cho độc giả
thấy được tài năng thơ của Thiệu Trị. Tuy nhiên, kể từ năm 1998 đến nay việc
nghiên cứu về Thiệu Trị lại bị chìm lắng, tên tuổi của ông được nhắc đến
trong những bài tham luận tại các hội thảo khoa học và tại một số bài báo
được đăng rải rác trên một số trang điện tử, tập chí, có thể kể: Tham luận của
nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Phê trong Hội thảo “Vai trò của văn học nghệ
thuật Huế trong dòng chảy văn hóa Huế - nhìn lại và phát triển”. Trong bài
viết Giáo sư đã đề cập đến vai trò của các ông vua trong nền văn học Huế, trong 8
đó có Thiệu Trị. Giáo sư đánh giá khá cao vai trò của Thiệu Trị nói riêng và văn
chương hoàng phái nói chung. Nhưng bài viết của ông chỉ mới dừng lại ở ngưỡng
giới thiệu khái quát. Bài viết này của Giáo sư đã gợi cho chúng tôi nhiều ý tưởng
trong việc hoàn thiện luận văn của mình. Tiếp đó, trên Tạp chí Hán Nôm, số 5
(84) - 2007 có bài viết “Vũ Trung sơn thủy” - Bài thơ độc đáo của Thiệu Trị, bài
viết nêu lên một số cách đọc khác nhau, từ những cách đọc ấy giúp chúng ta nhận
ra những nét độc đáo, kỳ bí của bài thơ, giúp người đọc hiểu thêm về thú chơi thơ
trong dòng văn hóa Việt.
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu về Thiệu Trị đã dần trở về
dĩ vãng, mặc dù thỉnh thoảng chúng tôi cũng đọc được một vài bài báo đăng
tải việc vừa tìm thấy bài văn bia Tây lãng hoàng thành của Thiệu Trị hay việc
năm 2007, hai nhà nghiên cứu Hán Nôm Thái Huy Bích và Trần Đình Vân
trong một chuyến điền dã đã phát hiện tấm văn bia gần hai trăm tuổi, trên đó
có khắc in bài “Thiết cảng” (Kênh Sắt) của Thiệu Trị…Giới trẻ ngày nay,
ngay cả các bạn bè của chúng tôi phần lớn không ai biết Thiệu Trị trên
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi làm luận văn này với mục đích trước hết là giới thiệu tới bạn
đọc nói chung và những người yêu thích tài năng của Thiệu Trị nói riêng
những đóng góp to lớn của tác giả về lĩnh vực văn học. Mục đích cao hơn nữa
mà chúng tôi đang cố gắng hướng tới đó là góp phần bổ khuyết cho phả hệ
văn học được hoàn chỉnh, đầy đủ hơn. Tác phẩm của Thiệu Trị chủ yếu được
viết bằng chữ Hán, nên tôi hi vọng với những tập thơ mà chúng tôi đã hệ
thống hóa được, sẽ có những nhà nghiên cứu, các tổ chức dịch và giới thiệu
tác phẩm của ông tới cộng đồng, để nền văn hóa Huế nói chung và văn hóa
Hoàng phái nói riêng tới tay bạn đọc. Đồng thời từ đó, cũng có cái nhìn khách
quan và đầy đủ hơn về các ông vua triều Nguyễn. Có thể họ có những sai lầm
về chính trị nhưng chúng ta cũng không vì thế mà phủ nhận tài năng cũng như 10
vai trò của họ trong lịch sử Việt Nam. Hi vọng, với luận văn này chúng tôi sẽ
góp phần nhỏ của mình vào công cuộc nhìn nhận và xem xét lại những gì đã
qua để con người trong hiện đại đánh giá khách quan về quá khứ và hành
động đúng hơn trong tương lai.
Chính vì thế nhiệm vụ của chúng tôi trong luận văn này là bước đầu
sưu tầm tài liệu, sau đó xem xét các vấn đề sau:
Thứ nhất, tìm hiểu nguyên nhân, động lực, hoàn cảnh để Thiệu Trị trở
thành một tác giả, một học giả văn học.
Thứ hai, đặt văn chương Thiệu Trị trong hệ thống văn chương Hoàng
phái Việt Nam, để có cái nhìn khách quan theo chiều dài lịch sử.
Thư ba, cố gắng dựng nên chân dung đầy đủ và trọn vẹn về một tác giả
vốn chưa được mấy người biết đến.
Thứ tư, hệ thống hoá về nội dung và quan niệm thi pháp văn chương
của Thiệu Trị.
Thứ năm, xem xét cách nhìn nhận của Thiệu Trị đối các tác giả cổ của
Chƣơng 1. THIỆU TRỊ - THỜI ĐẠI VÀ CUỘC ĐỜI
1.1. Khái quát
Mỗi một nhà văn, nhà thơ dù muốn hay không cũng không thể tách rời
thời đại và xã hội mà họ sống. Đời sống xã hội nuôi nấng tâm hồn, nhận thức,
suy nghĩ của họ, và bản thân họ phản ánh thời đại, nhận thức thông qua tác
phẩm - những đứa con tinh thần. Những đứa con tinh thần ra đời lại chịu quy
luật phản ứng dây chuyền này. Nói như thế để thấy rằng, xã hội, nhà văn và
tác phẩm không thể tách rời nhau mà luôn gắn bó khăng khít với nhau. Bối
cảnh thời đại sẽ là tác nhân không nhỏ trong việc hình thành nhân cách cá
nhân con người. Mặt khác, không gian văn hóa thời đại chi phối đến hành xử,
thị hiếu và mĩ cảm… của con người. Tuy nhiên thời đại không phải là yếu tố
duy nhất và quyết định mà quá trình hình thành nhân cách, tài năng còn là sự
kết hợp của nhiều nhân tố khác - ý thức hệ chi phối đến tư tưởng, không gian
văn hoá của gia đình, nền giáo dục và chính nội lực bên trong con người đó.
Trở lại với tác giả Thiệu Trị, chúng ta thấy Thiệu Trị sinh ra trong một
thời đại tương đối phức tạp về chính trị xã hội, thời đại của sự du nhập các
luồng gió mới từ châu Âu đặc biệt là Pháp, Bồ Đào Nha. Nhưng đây cũng là
giai đoạn mà văn chương đạt được nhiều đỉnh cao, đặc biệt là góp mặt của
nhiều tác giả, tác phẩm văn chương bằng chữ Nôm. Thiệu Trị ham mê sáng
tác văn chương, ham mê tìm tòi, nghiên cứu về các tác phẩm Đông Tây kim
cổ nhưng bản thân Thiệu Trị lại chủ yếu sáng tác văn chương bằng chữ Hán
và đạt đến “tuyệt đỉnh” (Theo Trần Ngọc Vương) trong thể loại này. Theo
chúng tôi, để làm nên một tác giả Thiệu Trị ngoài việc bị ảnh hưởng bối cảnh
thời đại thì trong bản thân ông cũng có thiên bẩm nghệ thuật, tài năng sáng
tạo cộng với những quan niệm, lý tưởng. 13
1.2. Bối cảnh thời đại nhà Nguyễn
1.2.1. Tình hình kinh tế - chính trị - xã hội
thời gian trị vì ông thực hiện nhiều công cuộc khai hoang ở vùng đồng bằng
sông Cửu Long, đào kênh thoát nước Thụy Hà và sông Vĩnh Tế tạo thuận lợi
cho kinh tế nông nghiệp phát triển. Triều đại của ông đã xây dựng khối lượng
đê, kè, cống nhiều nhất so với trước.
Sau nhiều năm chinh chiến trên chiến trường, Gia Long tập hợp được
một đội ngũ quan võ hùng hậu, đến lúc lên ngôi ông nhận thấy triều đình rất ít
quan văn vì vậy ông bắt đầu tuyển dụng quan văn, khuyến khích quần thần
sáng tác thơ văn. Ông bắt đầu mở trường Quốc Tử giám ở Kinh đô để dạy con
em triều đình, lập văn miếu ở các trấn, doanh để thờ đức Khổng Tử… Năm
1807, ông mở thêm 6 trường thi Hương, đặt chức Đốc học, Giáo thụ, Huấn
đạo để coi việc giáo dục ở các trấn.
Tuy trong lòng nhân dân lúc này vẫn hướng vọng về nhà Lê, nhưng
tình hình chính trị trong những năm Gia Long về cơ bản là yên ổn. Trong
không khí yên bình đó Thiệu Trị được sinh ra, ông sinh năm 1807 khi triều
Gia Long chính thức tồn tại được năm năm. Đến năm Thiệu Trị 12 tuổi thì
Gia Long mất.
Sang thời Minh Mệnh tình hình chính trị chuyển biến theo một xu thế
xấu. Trong nước, có nhiều cuộc nổi dậy chống triều đình. Cụ thể, trong thời
Minh Mệnh có đến 250 cuộc nổi dậy như nổi dậy của Phan Bá Vành, Lê
Trọng Liên, Lê Duy Lương, Nông Văn Vân, Lê Văn Khôi… Tuy nhiên,
những cuộc nổi loạn đó nhanh chóng bị Minh Mệnh dẹp tan.
Minh Mệnh là ông vua năng động, quyết đoán, có nhiều cải cách trên
nhiều mặt kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao. Ông cho tổ chức lại quân
đội, cử quan ra chỉ đạo khai hoang ở ven biển Bắc Kỳ và Nam Kỳ, lập nên hai
huyện Kim Sơn và Tiền Hải. Năm 1832, ông còn cho mở ngành tơ tằm Đại 15
Nam, bắt các quan lại ở các tỉnh phải xuất lúa giống ở trong kho cho nhân dân
vay để làm mùa sau. Ngoài ra, ông còn khuyến khích cải cách kỹ thuật công
những việc, những lệ từ triều Gia Long (1802 - 1819), Minh Mệnh (1820 -
1840), biên chép lại làm thành tắc lệ, về sau cứ thế mà làm. Mọi định chế về
pháp luật, hành chính, học hiệu, điền địa và quân đội đều được Thiệu Trị kế
thừa từ thời Gia Long, Minh Mệnh.
Mặt khác, nhà vua chú trọng về văn hoá, giáo dục và thi cử. Năm Thiệu
Trị thứ nhất (1841) bắt đầu mở Sử cục để biên tập, hiệu đính và khắc in các
bộ sử. Thời đại của ông đánh dấu sự ra đời của nhiều bộ sử có giá trị. Ngoài
việc khắc in các tập thơ của Minh Mệnh, của bản thân, ông còn cho in “Tiền
biên và Chính biên, bộ Thực lục, sửa Thực lục chính biên về Thánh tổ Nhân
hoàng đế” [51, tr. 579]. Năm 1844, cuốn Thực lục tiền biên về Liệt Thánh
làm xong (tức là phần Thực lục về các đời chúa Nguyễn: từ Gia Dụ đến Hiếu
Định). Ngoài ra, ông còn cho khắc in bộ Ngọc điệp, các bộ sách của các
hoàng đế Trung Hoa cũ. Về giáo dục, cũng có nhiều thành tựu đáng kể. Ví dụ
như tháng 4 năm 1847, nhà vua bắt đầu cho đặt chức đốc học tỉnh Phú Yên và
giáo thụ, huấn đạo các phủ huyện ở những tỉnh duyên biên như Cao Bằng,
Lạng Sơn và Thái Nguyên. Vua cho rằng: “Việc dạy học là chính sự trọng đại
của triều đình”, “văn phong ngày một chấn khởi, nên mở rộng việc tác thành
nhân tài” [51, tr. 1000 - 1001]. Vì thế, dưới thời Thiệu Trị việc đặt nơi dạy
học đã phát triển rộng rãi trên hầu hết các tỉnh thành. Năm 1847, ông cho đặt
trường thi tại Gia Định. Từ khi lên ngôi chấn hưng văn trị, mở rộng khoa thi,
trong khoảng bảy năm mở luôn 11 khoa thi Hội, thi Hương, các đời ít thấy có.
Lâm Duy Thiếp một đại thần lúc bấy giờ nói rằng “từ đời cổ, đặt chế độ mở
khoa thi lấy nhân tài, không đời nào thịnh bằng đời nay, cho nên đời nay,
những người làm học trò đều muốn quyết thi cho đỗ, mà không muốn làm lại
viên, sáu bộ và các nha phải cần đến người làm việc. Có thể biết được văn
phong đời nay là thịnh” [51, tr. 1056]. 17
Ngoài ra, ông còn khuyến khích quần thần sáng tác, hoạ vần. Mỗi khi
Đến tháng 3 năm 1847, tiếp tục “Có 5 chiếc thuyền bọc đồng ở Kinh
phái đi Nam (Kim Ưng, Phấn Bằng, Linh Phượng, Thọ Hạc, Vân Bằng) chưa
ra biển còn đậu lại ở vụng Trà Sơn cùng đối diện với thuyền Tây dương, cũng
bị chúng sấn đến cướp lấy buồm thuyền và dây buộc thuyền” [51, tr. 975],
quan quân chống lại bị chúng nổ súng, bắn cả vào thuyền. “Quan binh giở tay
không kịp, năm chiếc thuyền đồng chốc lát đều bị đắm mà vỡ cả. Lãnh binh
Nguyễn Đức Chung, Hiệp quản Lý Điển đều chết ở trận, biền binh chết hơn
40 người, bị thương hơn 90 người, còn 104 người không biết trôi dạt đi đâu,
súng và khí giới chìm mất rất nhiều”[51, tr. 984]. Theo, 82 năm Việt sử tác
giả Nguyễn Phương viết rằng: “Năm 1847, Rigault de Genouilly đưa hai
chiếc thuyền Gloire và Victorieuse cập bến Đà Nẵng để gây áp lực, bắt bỏ
lệnh cấm đạo.Vua ra lệnh đối phó. Khoảng 5000 quân tại chỗ dùng 13 chiến
thuyền cùng nhiều ghe lớn ra bao vây tàu Pháp. Sau hai giờ giao tranh quân
triều đình thất bại, tàu Pháp bỏ đi” [43, tr. 69]. Trong bầu không khí đầy phẫn
uất đó, vua Thiệu Trị băng hà.
1.2.2. Tình hình văn học
1.2.2.1. Văn học hoàng đế trong lịch sử Việt Nam
Trong lịch sử văn học trung đại, hoàng đế làm thơ là một hiện tượng rất
phổ biến, thậm chí “làm thơ là một khía cạnh nghệ thuật cai trị của các hoàng
đế” (Theo Trần Nho Thìn). Ngay từ thế kỷ X, một số vua nhà Lý đã mở đầu
cho trường phái văn chương hoàng phái như Lý Thái Tổ đã để lại cho đời sau
một áng văn, đó là “Thiên đô chiếu”; Lý Thái Tông có hai bài thơ chép ở
“Thiền Uyển tập anh” và có một tác phẩm mang tính chất làm nền tảng cho
luật pháp nước nhà (bộ Hình thư) , nhưng hiện nay không còn; Lý Nhân Tông
với bài Thơ viếng Vạn Hạnh. Nhìn chung, thơ văn các vua nhà Lý còn mờ 19
nhạt, số lượng để lại không nhiều, nội dung chủ yếu mang đậm chất Thiền và
giáo lý Phật giáo.
phẩm của ông có nhiều như: Trần Nhân Tông thi tập, Đại hương hải âm thi
tập, Thiền tâm thiết chuỷ ngữ lục, Tăng già toái sự, Thạch thất mỵ ngữ, Trung
hưng thực lục. Hiện chỉ còn 31 bài thơ, một bài minh, một bài phát biểu của
ông với sứ giả Trương Lập Đạo do chính vị sử giả này ghi lại.
Thứ tư là, Trần Anh Tông, theo Đại Việt sử kí toàn thư, Trần Anh Tông
có bài Thạch dược châm và tập Thuỷ văn tuỳ bút nhưng đều đã bị chính tác
giả thiêu huỷ trước khi mất. Hiện còn 14 bài thơ. Ông rất yêu nghệ thuật,
thích vǎn chương. Ông làm thơ nhiều, nhưng chỉ xem thơ ca như một lợi khí
nuôi dưỡng tính tình, diễn đạt tâm hồn ở những thời gian nhất định, chứ
không có dụng ý lưu lại công trình, nghĩ tới danh hiệu về sau.
Thứ năm là, Trần Minh Tông. Hầu hết tác phẩm của Minh Tông đã
mất, nay chỉ còn khoảng 25 bài thơ được chép rải rác ở các sách như Việt âm
thi tập,Đại Việt sử kí toàn thư và Nam Ông mộng lục. Thời này Nho học được
đề cao, Phật học giảm dần uy thế; Minh Tông cũng xuất gia như các vị tiên đế
nhưng ông luôn dặn dò các Hoàng hậu đừng đi tu.
Cuối cùng là, Trần Nghệ Tông, có Tông Bắc sứ ngưu lượng, Tỵ cư Gia
Hưng trấn ký đệ cung Tuyên Vương, Đề Tư đồ Trần Nguyên Đán từ
đường…Hiện chỉ còn 5 bài thơ chép trong Việt âm thi tập. Nhìn chung, thơ
ông thể hiện sự bất lực trước thời cuộc, với cơ nghiệp tổ tiên để lại, phản ánh
tình cảm đối với anh em bạn bè.
Nhìn chung, các vua nhà Trần đã làm cho phả hệ văn chương hoàng
phái được đậm nét hơn, tuy nhiên hiện nay tác phẩm còn sót lại không nhiều,
chủ yếu là thơ, biểu, chiếu, không có sự xuất hiện các tác phẩm viết về thi
pháp. Các tác giả nhà Trần đã có công rất lớn trong việc sáng lập nên dòng
văn hoá Thiền Tông, là những tác giả quan trọng trong phạm vi thơ Thiền 21
Sang triều Lê, Lê Thánh Tông là hoàng đế duy nhất làm thơ ở triều Lê.
Ông được xem là một nhà văn hoá, một ông vua coi trọng hiền tài, trân trọng
kính trời lo dân, mong tạnh cầu mưa… không phải vụ lời văn hoa mà đua hay
với văn sĩ đâu”[50, tr. 427]. Chính vì những suy nghĩ đó mà thơ vua Minh
Mệnh phần nhiều viết về tự nhiên, thể hiện mong ước cầu mưa, cầu nắng, cầu
tạnh, thể hiện tấm lòng lo lắng cho nền sản xuất nông nghiệp nước nhà, bày tỏ
cái ý chí của mình. Do đó, Minh Mệnh tuy là ông vua chuộng văn học, đề cao
những người học văn học nhưng ông lại cho rằng văn chương nếu đề cao quá
mức, không gắn với thực tế thì sẽ trở nên sáo rỗng.
Thiệu Trị được sinh ra trong dòng chảy đó, ông là một mắt xích - một
mắt xích quan trọng vì vị hoàng đế này không chỉ đóng góp nhiều mặt trên
các lĩnh vực văn hoá, giáo dục mà còn góp thêm một màu sắc cho văn chương
hoàng tộc nói riêng và văn chương Việt Nam nói riêng. Không chỉ tiếp nối
truyền thống hăng say sáng tạo của các bậc đế vương mà Thiệu Trị còn phát
huy truyền thống đó lên đến đỉnh cao.
1.2.2.2. Văn chương hoàng phái nhà Nguyễn
Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng “không thời nào, văn hoá phát triển
như thời Nguyễn, sách vở sáng tác gần bằng hoặc bằng, thậm chí còn nhiều
hơn mấy trăm năm trước. Những nhà tư tưởng của thời Nguyễn cao hơn
những nhà tư tưởng trước, những nhà văn cao hơn những nhà văn trước,
những nhà làm sử cũng giỏi hơn những người làm sử trước. Có thể nói, sự
phát triển dưới thời Nguyễn tương đương với sự thống nhất của quốc gia. Sự
thống nhất về chính trị thúc đẩy sự phát triển về văn hoá rất nhiều. Đó là
thành tích của triều Nguyễn” [16, tr. 18]. Giáo sư Nguyễn Lộc viết: “Văn học
Việt Nam nửa cuối thế kỷ 18 đến hết thế kỷ 19 không những phát triển rực rỡ
mà còn là đỉnh cao của văn học dân tộc”, “Trước kia lịch sử chưa bao giờ
chứng kiến một giai đoạn văn học nào lại phát triển một cách phong phú