ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HẠNH
NHÂN TỐ TỰ BẠCH TRONG CẤU TRÚC
TIỂU THUYẾT THAO THỨC CỦA ALEKSANDR KRON LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học nước ngoài
Mã số: 06031028
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Gia Lâm
Hà Nội-2010
3.2.1. Tự bạch về tình yêu 73
3.2.2. Tự bạch về tình bạn 75
3.3. Triết lý về sự sống và hạnh phúc 77
3.3.1. Quan niệm về sự sống 77
3.3.2. Triết lý về hạnh phúc 80
KẾT LUẬN 84 Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
90
Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn xuôi Nga–xô viết những năm 60-80 của thế kỷ XX phát triển nở rộ
với dòng văn xuôi viết về chiến tranh, văn xuôi viết về đời sống làng quê và
văn xuôi viết về “đời thường của con người đương thời” [19, tr. 109]. Nằm
trong mảng đề tài thứ ba, cuốn tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron có
vị trí vững chắc, bên cạnh tác phẩm của các nhà văn Yu.Trifonov, A.Bitov,
A.Rybakov,… góp phần làm phong phú thêm những khám phá nghệ thuật
mới trong việc nhận thức con người nói chung và hình thức trần thuật nói
riêng. Nhân tố tự bạch như là một đặc điểm trong nghệ thuật trần thuật của
tiểu thuyết Thao thức, đồng thời cũng là đặc điểm chung trong xu hướng
phong cách trâm lý - triết lý của văn xuôi Nga-xô viết giai đoạn này, bao gồm
cả văn xuôi “chiến tranh” và văn xuôi “làng quê”. Ở Việt Nam, Thao thức
dòng suy ngẫm triền miên của nhân vật và những quan điểm triết mỹ của một
nhóm những người trí thức Nga-xô viết lúc bấy giờ.
Nếu như ở thế kỷ XIX, những người trí thức Nga trong các tác phẩm của
M.Lermontov (với Một anh hùng trong thời đại chúng ta), Lev Tolstoy (với
Chiến tranh và hòa bình, Anna Karenina, Phục sinh) luôn trăn trở đi tìm chân
lý thì sang thế kỷ XX, người trí thức Nga-xô viết lại suy ngẫm về vấn đề định
vị bản thân trong thời đại mới, thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật. Chính vì
vậy, trong những năm 60-80 của thế kỷ XX, Yuri Bondarev (với Trò chơi),
Aleksandr Kron (với Thao thức) đã nối mạch mảng đề tài lớn về người trí
thức trong văn học Nga. Việc tìm hiểu cuốn tiểu thuyết Thao thức sẽ giúp
chúng ta có một hình dung cụ thể hơn về hình tượng người trí thức trong xã
hội mới.
Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
3
2. Lịch sử vấn đề
Thao thức lần đầu in trên tạp chí Thế giới các số 4-6 năm 1977 của Nga
và ngay từ cuối năm đó, khi chưa được in thành sách, cuốn tiểu thuyết đã gây
nên dư luận sôi nổi, cả khen lẫn chê. Thao thức được in thành sách tại Nhà
xuất bản Văn học Quốc gia Moskva năm 1980. Cuốn tiểu thuyết được dịch giả
Hoàng Hữu Phê chuyển ngữ và xuất bản ở Việt Nam năm 1983.
Từ khi Thao thức xuất hiện ở Việt Nam, hầu như chưa có công trình
nghiên cứu hoàn chỉnh về tác phẩm, đáng kể nhất vẫn là bài viết giới thiệu của
nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn với nhan đề Những lý do chính đáng để thao
thức in ở các trang đầu của tập một bộ tiểu thuyết. Vương Trí Nhàn đã giới
thiệu sơ lược về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Aleksandr Kron. Ông đưa ra
tiểu thuyết Thao thức. Cùng với đó, luận văn cũng sử dụng các thao tác như:
so sánh, thống kê, phân tích.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn của chúng tôi gồm có ba
chương:
Chương 1: Cơ sở của nhân tố tự bạch
1.1. Nhân tố tự bạch trong tiểu thuyết
1.2. Cơ sở của nhân tố tự bạch trong Thao thức
Chương 2: Đặc điểm và hình thức thể hiện nhân tố tự bạch trong
Thao thức
2.1. Người kể chuyện ở ngôi thứ nhất và điểm nhìn trần thuật bên trong
2.2. Sự lặp lại trong thời gian và sự mở rộng không gian
2.3. Giọng điệu chủ quan, suy tư Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
5
Chương 3: Nhân tố tự bạch với việc thể hiện quan điểm triết – mỹ
của A.Kron
3.1. Vị trí người trí thức trong thời đại mới
3.2. Tự bạch về tình yêu, tình bạn
3.3. Triết lý về cuộc sống và hạnh phúc
một phần của hành động nghi lễ - là những lời thú tội trong nhà thờ, còn lớp
nghĩa thứ ba rộng hơn, đó chính là “sự thú nhận”, “là ý nghĩ chân thành và
đầy đủ, là cơ sở của niềm tin, suy nghĩ và hành động của con người” [20].
Theo G.Ibatullina, một trong những nghĩa đó liên quan đến khái niệm “tự thú”
như là một thể loại văn học đặc biệt. Ví dụ điển hình là các đại diện trong nền
văn hóa châu Âu. Nếu ở các tác phẩm của Augustine, Rouseau, Tolstoy,
chúng ta tìm thấy nhiều hay ít một dạng thức tự bạch thuần túy thì đến các tác
phẩm như Thoughts của Marcus Aurelius, Stories of my disasters của Pierre
Abelard, Notes của Natalia Dolgorukoi, Letters to a stranger của A.Maurois,
Diary of a witer của Dostoevsky, Fallen leaves của Rozanov , chúng ta thấy
sự phong phú về ý thức tự bạch được thể hiện trong các văn bản. Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
7
Bản thân “tự bạch” hay “sám hối” chính là quá trình tự đánh giá, kiến
giải, biện minh qua suy nghĩ, ứng xử. Quá trình đó không mang tính chính
luận trước đông người mà hướng vào nội tâm, trò chuyện với lương tâm.
G.Ibatullina nhấn mạnh: “Tự thú không tương thích với ý nghĩa là thể loại văn
học như hình thức tự truyện, nhật ký, thư từ, tiểu thuyết và truyện ngắn…”
[20]. Mặt khác, “tự bạch” còn có ý nghĩa là “ý định ban đầu”, là ý thức cơ
bản, được phản ánh và thể hiện trong sự đa dạng của tất cả các hình thức giao
tiếp bằng lời và thậm chí cho phép tạo ra những giao tiếp. “Xưng tội có thể
được coi là một loại nguyên mẫu cho các hình thức giao tiếp có ý thức của
con người – một loại giao tiếp có chủ ý” [20]. Những giao tiếp này là sự liên
kết hai đối tượng cần trao đổi thông tin mà ở đó, họ không bị ràng buộc bởi
bất kỳ mối quan hệ nào, điều quan trọng nhất là họ phải có tâm hồn tinh khiết
và tinh thần tự giác. Tuy nhiên, cho dù giao tiếp xảy ra ở mức độ nhận thức
hay siêu ý thức, bất kể có hoặc không phải là lời nói thì ý nghĩa của nó đã nằm
rõ điều này. Có những điều mà chỉ khi đối diện với đức cha, với Chúa, con
người mới dám nói ra, đặc biệt là những lời thú nhận về tội lỗi. Khi thú tội,
con chiên mong muốn được mở lòng hơn bao giờ hết. Không dừng lại ở đó,
họ còn mong muốn được nhận lại những lời khuyên răn để tâm hồn được khai
sáng. Bên cạnh ý nghĩa là một nghi thức trong nhà thờ, trong cuộc sống
thường nhật, “tự bạch” còn là những lời tâm sự thành thực nhất của mỗi người
sau quá trình tự kiểm điểm bản thân, và từ đó có mong muốn sửa chữa. Sau
những lỗi lầm mắc phải, con người luôn tự xem xét lại mình, nhìn nhận lại
cuộc sống xung quanh một cách bao dung và khách quan hơn.
Trong văn học, như G.Ibatullina đã phân tích, nhân tố tự bạch đã tồn tại
như là một phong cách. Một trong những biểu hiện của nhân tố tự bạch đó là
các đối thoại nội tâm và dòng ý thức. Theo nhà nghiên cứu, kể từ khi chủ đề
tự ý thức trong con người tồn tại thì nhân tố tự bạch (mang bóng dáng của tôn
giáo) đã tồn tại trong các tác phẩm văn học. Bà đã đưa ra hai dẫn chứng cho
phong cách này đó là A.Camus và J.P.Sartre – hai đại diện của chủ nghĩa hiện Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
9
sinh. Riêng về tác phẩm Người xa lạ của A.Camus, nhà nghiên cứu nhấn
mạnh đến ý nghĩa giao tiếp của tác phẩm. Bà cho rằng trong Người xa lạ, chủ
nghĩa cá nhân luôn ý thức về sự cô lập, luôn coi mình là người ngoài cuộc:
“Hôm nay mẹ tôi qua đời và có thể hôm qua. Tôi không biết”. Dưới vỏ bọc
của một kẻ xa lạ, nhân vật che giấu đi những mặc cảm và những tâm tư của
mình. Nhưng đằng sau đó lại là những khát khao được bộc bạch và giao tiếp
với thế giới xung quanh.
Trong văn học Nga, nhân tố tự bạch đã tồn tại trong một số tiểu thuyết ở
thế kỷ XIX, trong đó, đậm đặc nhất phải kể đến các sáng tác của Dostoevsky,
Lev Tolstoy. Sang đến thế kỷ XX, nó xâm nhập sâu hơn vào những cuốn tiểu
tuổi mười chín, chàng còn là một thanh niên trong sáng tràn đầy lý tưởng cùng
quyết tâm làm điều thiện, hiến cả cuộc đời cho hạnh phúc mọi người thì chỉ ba
năm sau đã là một sỹ quan trung úy quân đội Nga hoàng và trở thành một
người hoàn toàn khác. Đó là một kẻ vị kỷ, ngỗ ngược, một gã trác táng. Chỉ
khi gặp lại và nhận ra Maslova Katioucha đang đứng trên vành móng ngựa,
Nekhlyudov với tư cách là viên bồi thẩm thì con người tự do, con người của
lương tri mới trỗi dậy trong anh. Ý thức sám hối và mong muốn được chuộc
lại tội lỗi trong Nekhlyudov mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Chàng nhận thấy
không chỉ Maslova cần phục hồi nhân phẩm mà chính bản thân mình cũng cần
phải tự tu thiện. Anh như được giác ngộ: “Phải luôn luôn tha thứ cho mọi
người. Phải tha thứ cho rất nhiều lần, là vì không có ai là không phạm tội và vì
vậy, họ không thể trừng phạt hay sửa chữa người khác được.” [18, tr. 423].
Sau cùng, Nekhlyudov đã tìm con đường phục sinh bằng cách trốn vào
“vương quốc của Chúa” nhằm tìm “thiên đường trên mặt đất”. Bước đường
phục sinh để tu thiện của Nekhlyudov là cả một quá trình xót xa, cay đắng với
những dằn vặt nội tâm. Kết quả, anh đã tự kiểm tra được nhân cách mình và
trở về với bản chất tốt đẹp của một chàng trai trong sáng, giàu lòng trắc ẩn. Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
11
Tiểu thuyết Phục sinh là một trong những tác phẩm tiêu biểu mà ở đó, nhân tố
tự bạch được thể hiện rõ nét.
Một vấn đề đặt ra, đó là cần phân biệt rõ “tự bạch” với “tự truyện”, “tự
thuật”. Trong tiếng Việt, tự bạch cũng có nghĩa gần với “tự thuật” nhưng
trong tiếng Nga, như trên đã nói, tự bạch lại có nghĩa tương đồng với tự thú,
sám hối và xưng tội. Tự bạch là yếu tố có liên quan đến nội dung và thuộc về
phong cách còn “tự truyện” hay “tự thuật” lại là những thuật ngữ dùng để chỉ
thể loại văn học. Nhà nghiên cứu G.Ibatullina đã nhấn mạnh: “Tự bạch không
kể chân tình của nhân vật “tôi” trong bộ ba tự truyện: Thời thơ ấu, Kiếm sống,
Những trường đại học của tôi, ta phần nào thấy được cuộc đời gian khổ, cơ
cực và ý chí vươn lên của nhà văn Gorki từ thời thơ ấu đến khi trưởng thành.
Chắc hẳn, ít độc giả nào không biết đến bộ ba tự truyện của nhà văn Lev
Tolstoy: Thời thơ ấu, Thời niên thiếu và Thời thanh niên kể về thời thơ ấu với
những niềm vui nỗi buồn trong tâm hồn Nikonlenka (là hiện thân của nhà văn
Lev Tolstoy). Đó là bộ ba tự truyện điển hình cho phong cách thể loại tự
truyện.
Không giống như các tác phẩm tự truyện, trong các tác phẩm có nhân tố
tự bạch tồn tại như là một phong cách, câu chuyện được kể không nhất thiết
phải xuất phát từ đời tư của nhà văn. Vấn đề quan trọng là độc giả có thể cảm
nhận được những bộc bạch của nhà văn được thể hiện trực tiếp hay gián tiếp.
Như vậy, tự bạch, với tư cách là một thuật ngữ xuất phát từ nhà thờ, nó không
tương thích với thể loại tự thuật, tự truyện. Điều này cũng tương tự với thể hồi
ký. Hồi ký và nhật ký cũng là hai thuật ngữ chỉ thể loại, trong khi đó, tự bạch
không phải là thuật ngữ chỉ thể loại.
1.2. Cơ sở của nhân tố tự bạch trong Thao thức
Nước Nga-xô viết những năm 60-80 của thế kỷ XX đang ở đỉnh cao của
công cuộc xây dựng đất nước với nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế, cuộc
cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão. Cùng với đó, đời sống xã Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
13
hội có nhiều biến chuyển, đòi hỏi các văn nghệ sỹ cần thay đổi lối nghĩ, lối
viết để làm sao tiến kịp thời đại. Nằm trong guồng xoáy của thời đại,
Aleksandr Kron đã chọn cho mình đề tài về người trí thức mà cụ thể hơn ở
đây là những con người tham gia trực tiếp trong cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật. Họ là một trong những lao động chủ lực làm nên các thành tựu khoa
Bên cạnh cơ sở về mặt lịch sử - xã hội thì cơ sở về mặt văn học cũng
đóng vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại nhân tố tự bạch trong Thao thức.
Gần hai mươi năm sau chiến tranh, văn học Nga-xô viết phát triển nở rộ ở hầu
hết các thể loại. Có được thành tựu này, không thể không kể đến làn gió dân
chủ trong đời sống văn nghệ. Sau khi Stalin qua đời (năm 1953), bầu không
khí dân chủ bắt đầu xuất hiện trở lại. Người ta có thể nói lên những sự thật
hay những điều “tế nhị”. Đại hội lần thứ hai các nhà văn Liên Xô (cuối năm
1954) đã phê phán hết sức thẳng thắn và kiên quyết những sai lầm và những
yếu kém trong văn học thời kỳ trước đó – thời kỳ những năm sau chiến tranh.
Một trong những quan niệm sai lầm của văn học thời kỳ trước, đó là thuyết
“không có xung đột”, cho rằng “xã hội xã hội chủ nghĩa không có giai cấp đối
kháng cho nên không thể có xung đột, không thể có mâu thuẫn giữa người tốt
và người xấu, họa chăng chỉ có xung đột giữa người tốt và người rất tốt” [18,
tr. 755]. Bởi vậy, văn học không phản ánh đúng cuộc sống thực tại. “Những
dấu hiệu cụ thể của thời đại”, những vấn đề bất cập trong xã hội bị xếp sang
một bên. Cuộc sống là một màu hồng với toàn những điều tốt đẹp. Đại hội lần
thứ II các nhà văn Xô viết đã nghiêm túc nhìn nhận lại những khuyết điểm đó
của nền văn học và đã kêu gọi chấn chỉnh lại nền văn nghệ nước nhà mà trước
hết là việc định hướng lại cách nhìn cuộc sống của các nhà văn.
Đại hội lần thứ XX Đảng Cộng sản Liên Xô (1956) đã thổi một luồng
sinh khí mới vào đời sống văn nghệ khi một loạt nhà văn bị xử oan trước đây
như I.I.Baben, I.Kataev, P.Vasilev đã được khôi phục danh dự. Điều này đã
tạo động lực để các nhà văn phát huy khả năng sáng tác. Nhờ cái “đà” đó, văn Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
15
học Nga những năm 60-80, thế kỷ XX đã phát huy tính tích cực và tinh thần
chủ động trong lập trường sáng tác của các nhà văn. Cũng trong giai đoạn này,
trước vấn đề chủ thể trong sáng tác văn học. Các nhân vật trong các tác phẩm
này cũng thể hiện rõ tính chủ động trong việc nhận thức thế giới xung quanh
bằng những suy nghĩ độc lập và việc tìm lời giải đáp cho những vấn đề mới
mẻ trong cuộc sống. Họ là những “nhân vật tích cực mang tinh thần thời đại”
[18, tr. 759]. Khuynh hướng văn xuôi trữ tình không chỉ gợi mở nội dung đề
cập về những con người mới tích cực, chủ động mà nó còn là tiền đề cho sự
chuyển đổi phong cách của các nhà văn. Đó là việc tăng cường yếu tố phân
tích tâm lý nhân vật, từ đó dẫn đến xu hướng chuyển phương thức trần thuật
về ngôi thứ nhất. Đây là một trong những tiền đề quan trọng cho sự phát triển
của nguyên tắc trữ tình trong văn xuôi Nga-xô viết từ những năm 60, thế kỷ
XX trở đi, trong đó có Thao thức của Aleksandr Kron.
Một cơ sở quan trọng của nhân tố tự bạch trong Thao thức đó là những
tiền đề về nhân tố tự bạch trong văn học Nga. Văn học Nga những năm 60-80
thế kỷ trước chứng kiến sự phát triển nở rộ của dòng văn xuôi viết về chiến
tranh với các gương mặt tiêu biểu như: Yu.Bondarev, A.Ananiev, V.Bykov,
Ximonov… Trên hành trình tìm về những ngày tháng hào hùng, bi tráng của
dân tộc trong cuộc chiến tranh vệ quốc, các nhà văn đã tái hiện lại nhiều số
phận khác nhau. Văn học giai đoạn này không còn nhìn chiến tranh bằng
những chiến công và bản thân nhà văn không còn là người phất cờ, hô hào, cổ
vũ cho những cuộc chiến như văn học những giai đoạn trước nữa mà thay vào
đó, họ đã cùng nhau lật lại mặt trái tấm huy chương và cho mọi người thấy vẻ
xù xì của nó. “Đối với xã hội xô viết nhiều dân tộc, cuộc chiến tranh đó là một
vết hằn sâu nhất, cho tới nay vẫn không liền miệng” [16, tr. 5]. Sự thay đổi
trong điểm nhìn của các nhà văn đã dẫn đến hàng loạt những thay đổi trong
phong cách cũng như đặc trưng thể loại. Trên bước đường đi tìm sự thật, đi
tìm chân lý, các nhà văn đã để nhân vật của mình luôn có những xung đột đạo
đức, có những dòng tự thú, sám hối. Chiến tranh cũng là công cụ để con người Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
18
chương hay đơn giản, nó chỉ là tình yêu thương với người thân và bạn bè? Có
chăng, sau những vinh quang hào nhoáng, ý nghĩa đính thực của cuộc sống lại
nằm ở chính những tình cảm thiêng liêng đó. Qua việc phân tích những tính
cách và những số phận của nhiều nhân vật, các tác giả đã đưa ra bàn luận một
vấn đề mang tính thời đại: Con người nên lựa chọn điều gì giữa một bên là
chiến tranh tàn khốc, nơi con người có thể lập chiến công và một bên là cuộc
sống bình dị, không có anh hùng trận mạc nhưng bù lại là sự bình yên trong
tâm hồn. Từ những bi kịch của người lính trong và sau chiến tranh, độc giả sẽ
tìm được câu trả lời.
Nhân tố tự bạch tồn tại đậm đặc trong các tác phẩm văn xuôi viêt về
chiến tranh đã làm sinh động và sâu sắc thêm quá trình tự nhận thức của các
nhân vật, để từ đó, con người nhận ra chân lý đời sống và sự thật ở bên trong
mình. Thao thức (và nhân tố tự bạch) nằm trong dòng phong cách tâm lý-triết
lý, có cả ở văn xuôi viết về nông thôn và văn xuôi viết về chiến tranh. Nhưng
những lời tự bạch của nhân vật Yudin trong Thao thức không phải là những
dòng thú tội của một người nhân danh người lính mà nhân danh một cán bộ
khoa học, một trí thức có tầm vóc trong xã hội. Hành trình tự thú của Yudin
cũng giống như nhiều nhân vật trong dòng văn xuôi viết về chiến tranh, đó là
nhận ra lỗi lầm, tự kiến giải, biện minh cho bản thân, rồi tự thú, sám hối, cuối
cùng là mong muốn được cảm thông và sửa chữa những lỗi lầm. Nhưng
những nội dung mà nhân vật Yudin muốn tự thú với độc giả lại không giống
với những day dứt, giằng xé của các nhân vật trong tiểu thuyết viết về chiến
tranh. Những dòng tự thú của anh là những lời tự bạch của một người trí thức
trong thời đại mới.
công trình luận án hay sách chuyên ngành. Song, một định nghĩa cụ thể, đầy Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
20
đủ và thống nhất về người kể chuyện thì dường như chưa có. Theo Từ điển
thuật ngữ văn học thì “người trần thuật là một nhân vật hư cấu có thật mà văn
bản trần thuật là do hành vi ngôn ngữ của anh ta tạo thành” [7, tr. 221]. Trong
một tác phẩm văn học, người kể chuyện có thể là tác giả, có thể không, tuy nó
là hình thức thể hiện quan điểm tác giả trong tác phẩm. Người kể chuyện bị
trừu tượng hóa. Dựa vào việc tồn tại của người kể chuyện được báo hiệu như
thế nào trong văn bản, người ta phân biệt người kể chuyện lộ diện và người kể
chuyện giấu mặt (hay ẩn tàng).
Người kể chuyện lộ diện (overt narrator) là “anh, cô ta tự nhắc đến mình
ở ngôi thứ nhất: tôi, chúng tôi, người trực tiếp hoặc gián tiếp hướng đến người
nghe, sẵn sàng biểu hiện thái độ thân thiện với người đọc bất cứ lúc nào cần
đến (khi sử dụng chức năng diễn ngôn cầu khiến, thuyết phục…); người bày
tỏ thái độ hoặc lập trường diễn ngôn hướng tới nhân vật và sự kiện, đặc biệt
trong cách sử dụng các biện pháp tu từ, hình ảnh, những cụm từ định giá, sự
biểu hiện để nói lên những chú giải triết học hoặc khớp nối trần thuật, là người
có giọng điệu đặc trưng.” [9, tr. 46].
Người kể chuyện ẩn tàng (covert narrator) là một người không bày tỏ
những đặc điểm công khai như người kể chuyện lộ diện. “Cụ thể là anh ta/ cô
ta là người không hướng đến chính mình hay người nhận hoặc người nghe;
một người có giọng điệu và phong cách ít nhiều trung tính (không có đặc tính
rõ rệt); một người mơ hồ về giới tính; một người thể hiện không có ý muốn
quan tâm đến bất cứ thứ gì”. [9, tr. 46]. Việc xác định và phân biệt những
dạng thức khác nhau của người kể chuyện sẽ giúp ta thấy rõ hơn mối quan hệ
giữa người kể chuyện với hành động truyện, cũng như vị trí, thái độ của anh ta
Nhờ những ưu thế vốn có ấy mà người kể chuyện ở ngôi thứ nhất luôn
được nhiều tác giả lựa chọn dù ở bất kỳ thời kỳ văn học nào. Những thập kỷ
cuối của thế kỷ XX, khi nhu cầu bộc bạch cái tôi cá nhân trở nên bức thiết hơn