Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn xuôi Nga–xô viết những năm 60-80 của thế kỷ XX phát triển nở rộ
với dòng văn xuôi viết về chiến tranh, văn xuôi viết về đời sống làng quê và
văn xuôi viết về “đời thường của con người đương thời” [19, tr. 109]. Nằm
trong mảng đề tài thứ ba, cuốn tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron có
vị trí vững chắc, bên cạnh tác phẩm của các nhà văn Yu.Trifonov, A.Bitov,
A.Rybakov,… góp phần làm phong phú thêm những khám phá nghệ thuật
mới trong việc nhận thức con người nói chung và hình thức trần thuật nói
riêng. Nhân tố tự bạch như là một đặc điểm trong nghệ thuật trần thuật của
tiểu thuyết Thao thức, đồng thời cũng là đặc điểm chung trong xu hướng
phong cách trâm lý - triết lý của văn xuôi Nga-xô viết giai đoạn này, bao gồm
cả văn xuôi “chiến tranh” và văn xuôi “làng quê”. Ở Việt Nam, Thao thức
chưa trở thành đối tượng nghiên cứu của công trình khoa học nào. Chính vì
vậy, luận văn chọn đối tượng nghiên cứu là tiểu thuyết Thao thức nhằm tiếp
cận và có cái nhìn cụ thể về dòng văn xuôi này ở Nga-xô viết những năm 60-
80 của thế kỷ XX.
Bối cảnh cốt truyện của Thao thức là một viện nghiên cứu sinh học
nhưng cũng là một xã hội thu nhỏ với đủ kiểu người. Viện nghiên cứu sinh
học này có những nhà khoa học chân chính như giáo sư Uspensky, Beta …, có
những người mang chủ nghĩa cá nhân như Yudin, có kẻ thực dụng, vụ lợi như
Vdovin và cũng có những con người đáng thương, bị đè nén như Alyosha,
Iliusa… Công việc làm khoa học đã đem đến cho mỗi người một số phận.
Trong tập thể nghiên cứu khoa học đó, Yudin là nhân vật trung tâm. Qua
những va chạm với đời sống, anh đã khám phá những chiều sâu trong tâm hồn
con người và dần hoàn thiện nhân cách.
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
1
Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
Cuốn tiểu thuyết là những trăn trở, suy tư của Yudin về sự nghiệp khoa
xuất bản Văn học Quốc gia Moskva năm 1980. Cuốn tiểu thuyết được dịch giả
Hoàng Hữu Phê chuyển ngữ và xuất bản ở Việt Nam năm 1983.
Từ khi Thao thức xuất hiện ở Việt Nam, hầu như chưa có công trình
nghiên cứu hoàn chỉnh về tác phẩm, đáng kể nhất vẫn là bài viết giới thiệu của
nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn với nhan đề Những lý do chính đáng để thao
thức in ở các trang đầu của tập một bộ tiểu thuyết. Vương Trí Nhàn đã giới
thiệu sơ lược về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Aleksandr Kron. Ông đưa ra
lời tổng kết mang tính chất định giá cho tác phẩm: “Thao thức là một tác
phẩm giúp ta hiểu bề sâu con người xô viết, cuốn tiểu thuyết mang nặng chất
suy nghĩ này thật kỳ lạ, thú vị và đây là một hình thức tiểu thuyết hiện đại,
hơn nữa, một hình thức có triển vọng nhất.” [10, tr. 9].
Tuy nhiên bài viết chỉ dừng lại ở vai trò của một lời ngỏ nhằm giới thiệu
cuốn sách đến với độc giả Việt Nam. Hơn nữa, bài viết chỉ giới thiệu cuốn
tiểu thuyết như: tóm tắt nội dung, tóm tắt quá trình tiếp cận độc giả của cuốn
tiểu thuyết… Bởi vậy, có thể nói với bản luận văn của chúng tôi, tiểu thuyết
Thao thức của Aleksandr Kron lần đầu tiên trở thành đối tượng nghiên cứu
một cách chi tiết và hệ thống ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn chính là nhân tố tự bạch - một yếu tố
chi phối đến toàn bộ các yếu tố cấu trúc trong tác phẩm như người kể chuyện,
giọng điệu, không – thời gian. Luận văn sẽ đi sâu tìm hiểu cơ sở, đặc điểm,
chức năng và hình thức biểu hiện nhân tố tự bạch trong tác phẩm, để từ đó
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
3
Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
hình dung được diện mạo tinh thần của người trí thức Nga trong giai đoạn lịch
sử những năm 60-80, thế kỷ XX trên các bình diện: đời sống khoa học, đời
sống tình cảm… Đề tài cũng sẽ làm rõ một vài phương diện nổi bật trong bút
pháp thể hiện của tác giả Aleksandr Kron.
Luận văn được triển khai trên cơ sở khảo sát bản tiếng Việt cuốn tiểu
CƠ SỞ CỦA NHÂN TỐ TỰ BẠCH TRONG THAO THỨC
1.1. Nhân tố tự bạch trong tiểu thuyết
Thuật ngữ “tự bạch” mà chúng tôi sử dụng ở đây được dịch từ tiếng Nga:
‘ispoved’ (tương đương confession trong tiếng Anh). Trong tiếng Nga,
ispoved có nghĩa là tự bạch, tự thú, sám hối, xưng tội. Điểm chung nhất của
các ngữ nghĩa này đó là trạng thái thú nhận tội lỗi. Chính vì vậy, “tự bạch” ở
đây không chỉ đơn thuần là sự tự bộc bạch, thổ lộ tâm tư mà còn là sự tự thú
nhận những lỗi lầm của bản thân. Vì người Nga đồng nhất ý nghĩa của hai
thuật ngữ: tự bạch và tự thú, vậy nên nhân tố tự bạch ở đây chính là những ăn
năn, hối hận về tội lỗi của một ai đó và mong muốn được sửa chữa.
Nhà nghiên cứu G.Ibatullina trong bài viết Lời tự bạch và “phong cách”
hiện sinh (phiên bản tiếng Anh: Confessional word and the existential "style")
có lý giải: Từ “xưng tội” có nhiều ý nghĩa. Một trong những nghĩa của nó đã
được xác định trong từ điển ngôn ngữ của V.I.Dal, và nghĩa thứ hai là để chỉ
một phần của hành động nghi lễ - là những lời thú tội trong nhà thờ, còn lớp
nghĩa thứ ba rộng hơn, đó chính là “sự thú nhận”, “là ý nghĩ chân thành và
đầy đủ, là cơ sở của niềm tin, suy nghĩ và hành động của con người” [20].
Theo G.Ibatullina, một trong những nghĩa đó liên quan đến khái niệm “tự thú”
như là một thể loại văn học đặc biệt. Ví dụ điển hình là các đại diện trong nền
văn hóa châu Âu. Nếu ở các tác phẩm của Augustine, Rouseau, Tolstoy,
chúng ta tìm thấy nhiều hay ít một dạng thức tự bạch thuần túy thì đến các tác
phẩm như Thoughts của Marcus Aurelius, Stories of my disasters của Pierre
Abelard, Notes của Natalia Dolgorukoi, Letters to a stranger của A.Maurois,
Diary of a witer của Dostoevsky, Fallen leaves của Rozanov , chúng ta thấy
sự phong phú về ý thức tự bạch được thể hiện trong các văn bản.
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
6
Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
Bản thân “tự bạch” hay “sám hối” chính là quá trình tự đánh giá, kiến
giải, biện minh qua suy nghĩ, ứng xử. Quá trình đó không mang tính chính
của nó, đó là một hành động được thực hiện hàng ngày và quá đỗi quen thuộc
của những con chiên. Trong không gian nhà thờ, con chiên bộc bạch hết mọi
nỗi niềm và tội lỗi với đức cha, lắng nghe lời xưng tội đó không chỉ có đức
cha mà còn có Chúa Trời và sâu xa hơn nữa là chính linh hồn của người đang
thú tội. Khi thực hiện nghi lễ thiêng liêng này, con người trở nên thành thực
hơn bao giờ hết, lúc này họ mới được trở về cội nguồn, được là chính mình.
Bởi vậy, những lời thốt ra từ người đang sám hối là những lời chân thật nhất.
Không dừng lại ở mức độ bộc bạch tâm tư hay tự thú lỗi lầm, hành động
sám hối còn là một hình thức giao tiếp ở cấp cao khi hai ý thức tương tác
nhau. Liên tưởng sang hành động xưng tội trong Thiên Chúa giáo, ta sẽ thấy
rõ điều này. Có những điều mà chỉ khi đối diện với đức cha, với Chúa, con
người mới dám nói ra, đặc biệt là những lời thú nhận về tội lỗi. Khi thú tội,
con chiên mong muốn được mở lòng hơn bao giờ hết. Không dừng lại ở đó,
họ còn mong muốn được nhận lại những lời khuyên răn để tâm hồn được khai
sáng. Bên cạnh ý nghĩa là một nghi thức trong nhà thờ, trong cuộc sống
thường nhật, “tự bạch” còn là những lời tâm sự thành thực nhất của mỗi người
sau quá trình tự kiểm điểm bản thân, và từ đó có mong muốn sửa chữa. Sau
những lỗi lầm mắc phải, con người luôn tự xem xét lại mình, nhìn nhận lại
cuộc sống xung quanh một cách bao dung và khách quan hơn.
Trong văn học, như G.Ibatullina đã phân tích, nhân tố tự bạch đã tồn tại
như là một phong cách. Một trong những biểu hiện của nhân tố tự bạch đó là
các đối thoại nội tâm và dòng ý thức. Theo nhà nghiên cứu, kể từ khi chủ đề
tự ý thức trong con người tồn tại thì nhân tố tự bạch (mang bóng dáng của tôn
giáo) đã tồn tại trong các tác phẩm văn học. Bà đã đưa ra hai dẫn chứng cho
phong cách này đó là A.Camus và J.P.Sartre – hai đại diện của chủ nghĩa hiện
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
8
Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
sinh. Riêng về tác phẩm Người xa lạ của A.Camus, nhà nghiên cứu nhấn
mạnh đến ý nghĩa giao tiếp của tác phẩm. Bà cho rằng trong Người xa lạ, chủ
đã không đặt mình ở vị trí người nói hộ, nói thay. Ông đã nói về những biến
động diễn ra trong chính mình và “khắc họa những con người trải qua quá
trình tự phân tích, tự mổ xẻ tâm địa mình” [18, tr. 368]. Đó là quá trình tự
nhận thức, tự kiểm điểm đầy chua chát, đắng cay.
Trong tiểu thuyết Phục sinh của Lev Tolstoy, nhân vật chính Nekhlyudov
đã có hành trình tìm lại chính mình với nhiều trăn trở và tự thú. Nếu như ở
tuổi mười chín, chàng còn là một thanh niên trong sáng tràn đầy lý tưởng cùng
quyết tâm làm điều thiện, hiến cả cuộc đời cho hạnh phúc mọi người thì chỉ ba
năm sau đã là một sỹ quan trung úy quân đội Nga hoàng và trở thành một
người hoàn toàn khác. Đó là một kẻ vị kỷ, ngỗ ngược, một gã trác táng. Chỉ
khi gặp lại và nhận ra Maslova Katioucha đang đứng trên vành móng ngựa,
Nekhlyudov với tư cách là viên bồi thẩm thì con người tự do, con người của
lương tri mới trỗi dậy trong anh. Ý thức sám hối và mong muốn được chuộc
lại tội lỗi trong Nekhlyudov mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Chàng nhận thấy
không chỉ Maslova cần phục hồi nhân phẩm mà chính bản thân mình cũng cần
phải tự tu thiện. Anh như được giác ngộ: “Phải luôn luôn tha thứ cho mọi
người. Phải tha thứ cho rất nhiều lần, là vì không có ai là không phạm tội và
vì vậy, họ không thể trừng phạt hay sửa chữa người khác được.” [18, tr. 423].
Sau cùng, Nekhlyudov đã tìm con đường phục sinh bằng cách trốn vào
“vương quốc của Chúa” nhằm tìm “thiên đường trên mặt đất”. Bước đường
phục sinh để tu thiện của Nekhlyudov là cả một quá trình xót xa, cay đắng với
những dằn vặt nội tâm. Kết quả, anh đã tự kiểm tra được nhân cách mình và
trở về với bản chất tốt đẹp của một chàng trai trong sáng, giàu lòng trắc ẩn.
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
10
Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
Tiểu thuyết Phục sinh là một trong những tác phẩm tiêu biểu mà ở đó, nhân tố
tự bạch được thể hiện rõ nét.
Một vấn đề đặt ra, đó là cần phân biệt rõ “tự bạch” với “tự truyện”, “tự
thuật”. Trong tiếng Việt, tự bạch cũng có nghĩa gần với “tự thuật” nhưng
nhân vật “tôi” (hay chính nhà văn) trải qua. Trong văn học Nga cũng có nhiều
tác phẩm tự truyện để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả. Qua những lời
kể chân tình của nhân vật “tôi” trong bộ ba tự truyện: Thời thơ ấu, Kiếm sống,
Những trường đại học của tôi, ta phần nào thấy được cuộc đời gian khổ, cơ
cực và ý chí vươn lên của nhà văn Gorki từ thời thơ ấu đến khi trưởng thành.
Chắc hẳn, ít độc giả nào không biết đến bộ ba tự truyện của nhà văn Lev
Tolstoy: Thời thơ ấu, Thời niên thiếu và Thời thanh niên kể về thời thơ ấu với
những niềm vui nỗi buồn trong tâm hồn Nikonlenka (là hiện thân của nhà văn
Lev Tolstoy). Đó là bộ ba tự truyện điển hình cho phong cách thể loại tự
truyện.
Không giống như các tác phẩm tự truyện, trong các tác phẩm có nhân tố
tự bạch tồn tại như là một phong cách, câu chuyện được kể không nhất thiết
phải xuất phát từ đời tư của nhà văn. Vấn đề quan trọng là độc giả có thể cảm
nhận được những bộc bạch của nhà văn được thể hiện trực tiếp hay gián tiếp.
Như vậy, tự bạch, với tư cách là một thuật ngữ xuất phát từ nhà thờ, nó không
tương thích với thể loại tự thuật, tự truyện. Điều này cũng tương tự với thể hồi
ký. Hồi ký và nhật ký cũng là hai thuật ngữ chỉ thể loại, trong khi đó, tự bạch
không phải là thuật ngữ chỉ thể loại.
1.2. Cơ sở của nhân tố tự bạch trong Thao thức
Nước Nga-xô viết những năm 60-80 của thế kỷ XX đang ở đỉnh cao của
công cuộc xây dựng đất nước với nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế, cuộc
cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão. Cùng với đó, đời sống xã
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
12
Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
hội có nhiều biến chuyển, đòi hỏi các văn nghệ sỹ cần thay đổi lối nghĩ, lối
viết để làm sao tiến kịp thời đại. Nằm trong guồng xoáy của thời đại,
Aleksandr Kron đã chọn cho mình đề tài về người trí thức mà cụ thể hơn ở
đây là những con người tham gia trực tiếp trong cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật. Họ là một trong những lao động chủ lực làm nên các thành tựu khoa
Gần hai mươi năm sau chiến tranh, văn học Nga-xô viết phát triển nở rộ ở hầu
hết các thể loại. Có được thành tựu này, không thể không kể đến làn gió dân
chủ trong đời sống văn nghệ. Sau khi Stalin qua đời (năm 1953), bầu không
khí dân chủ bắt đầu xuất hiện trở lại. Người ta có thể nói lên những sự thật
hay những điều “tế nhị”. Đại hội lần thứ hai các nhà văn Liên Xô (cuối năm
1954) đã phê phán hết sức thẳng thắn và kiên quyết những sai lầm và những
yếu kém trong văn học thời kỳ trước đó – thời kỳ những năm sau chiến tranh.
Một trong những quan niệm sai lầm của văn học thời kỳ trước, đó là thuyết
“không có xung đột”, cho rằng “xã hội xã hội chủ nghĩa không có giai cấp đối
kháng cho nên không thể có xung đột, không thể có mâu thuẫn giữa người tốt
và người xấu, họa chăng chỉ có xung đột giữa người tốt và người rất tốt” [18,
tr. 755]. Bởi vậy, văn học không phản ánh đúng cuộc sống thực tại. “Những
dấu hiệu cụ thể của thời đại”, những vấn đề bất cập trong xã hội bị xếp sang
một bên. Cuộc sống là một màu hồng với toàn những điều tốt đẹp. Đại hội lần
thứ II các nhà văn Xô viết đã nghiêm túc nhìn nhận lại những khuyết điểm đó
của nền văn học và đã kêu gọi chấn chỉnh lại nền văn nghệ nước nhà mà trước
hết là việc định hướng lại cách nhìn cuộc sống của các nhà văn.
Đại hội lần thứ XX Đảng Cộng sản Liên Xô (1956) đã thổi một luồng
sinh khí mới vào đời sống văn nghệ khi một loạt nhà văn bị xử oan trước đây
như I.I.Baben, I.Kataev, P.Vasilev đã được khôi phục danh dự. Điều này đã
tạo động lực để các nhà văn phát huy khả năng sáng tác. Nhờ cái “đà” đó, văn
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
14
Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
học Nga những năm 60-80, thế kỷ XX đã phát huy tính tích cực và tinh thần
chủ động trong lập trường sáng tác của các nhà văn. Cũng trong giai đoạn này,
xu hướng suy tư về đạo đức phát triển khiến văn xuôi trở nên gần gũi với đời
sống. Các tác giả ngày càng quan tâm hơn đến “sự chân thật trong miêu tả
hiện thực cuộc sống như nó tồn tại, dầu đó là một hiện thực của môi trường
sinh hoạt hay hiện thực của những quá trình phức tạp trong tâm hồn con
chuyển đổi phong cách của các nhà văn. Đó là việc tăng cường yếu tố phân
tích tâm lý nhân vật, từ đó dẫn đến xu hướng chuyển phương thức trần thuật
về ngôi thứ nhất. Đây là một trong những tiền đề quan trọng cho sự phát triển
của nguyên tắc trữ tình trong văn xuôi Nga-xô viết từ những năm 60, thế kỷ
XX trở đi, trong đó có Thao thức của Aleksandr Kron.
Một cơ sở quan trọng của nhân tố tự bạch trong Thao thức đó là những
tiền đề về nhân tố tự bạch trong văn học Nga. Văn học Nga những năm 60-80
thế kỷ trước chứng kiến sự phát triển nở rộ của dòng văn xuôi viết về chiến
tranh với các gương mặt tiêu biểu như: Yu.Bondarev, A.Ananiev, V.Bykov,
Ximonov… Trên hành trình tìm về những ngày tháng hào hùng, bi tráng của
dân tộc trong cuộc chiến tranh vệ quốc, các nhà văn đã tái hiện lại nhiều số
phận khác nhau. Văn học giai đoạn này không còn nhìn chiến tranh bằng
những chiến công và bản thân nhà văn không còn là người phất cờ, hô hào, cổ
vũ cho những cuộc chiến như văn học những giai đoạn trước nữa mà thay vào
đó, họ đã cùng nhau lật lại mặt trái tấm huy chương và cho mọi người thấy vẻ
xù xì của nó. “Đối với xã hội xô viết nhiều dân tộc, cuộc chiến tranh đó là một
vết hằn sâu nhất, cho tới nay vẫn không liền miệng” [16, tr. 5]. Sự thay đổi
trong điểm nhìn của các nhà văn đã dẫn đến hàng loạt những thay đổi trong
phong cách cũng như đặc trưng thể loại. Trên bước đường đi tìm sự thật, đi
tìm chân lý, các nhà văn đã để nhân vật của mình luôn có những xung đột đạo
đức, có những dòng tự thú, sám hối. Chiến tranh cũng là công cụ để con người
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
16
Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
nhìn nhận lại lịch sử. Chính bởi lẽ đó nên nhân tố tự bạch tồn tại đậm đặc
trong các tác phẩm văn xuôi viết về chiến tranh và nó là cơ sở định hướng
phong cách của một số tác phẩm trong dòng văn học này.
Trong số những nhà văn viết về chiến tranh trong giai đoạn này,
V.Bykov là một tác giả tiêu biểu. Ông đặc biệt quan tâm đến những “tình thế
đạo đức trớ trêu trong chiến tranh, ông nhấn mạnh vai trò của lương tâm trong
sống bình dị, không có anh hùng trận mạc nhưng bù lại là sự bình yên trong
tâm hồn. Từ những bi kịch của người lính trong và sau chiến tranh, độc giả sẽ
tìm được câu trả lời.
Nhân tố tự bạch tồn tại đậm đặc trong các tác phẩm văn xuôi viêt về
chiến tranh đã làm sinh động và sâu sắc thêm quá trình tự nhận thức của các
nhân vật, để từ đó, con người nhận ra chân lý đời sống và sự thật ở bên trong
mình. Thao thức (và nhân tố tự bạch) nằm trong dòng phong cách tâm lý-triết
lý, có cả ở văn xuôi viết về nông thôn và văn xuôi viết về chiến tranh. Nhưng
những lời tự bạch của nhân vật Yudin trong Thao thức không phải là những
dòng thú tội của một người nhân danh người lính mà nhân danh một cán bộ
khoa học, một trí thức có tầm vóc trong xã hội. Hành trình tự thú của Yudin
cũng giống như nhiều nhân vật trong dòng văn xuôi viết về chiến tranh, đó là
nhận ra lỗi lầm, tự kiến giải, biện minh cho bản thân, rồi tự thú, sám hối, cuối
cùng là mong muốn được cảm thông và sửa chữa những lỗi lầm. Nhưng
những nội dung mà nhân vật Yudin muốn tự thú với độc giả lại không giống
với những day dứt, giằng xé của các nhân vật trong tiểu thuyết viết về chiến
tranh. Những dòng tự thú của anh là những lời tự bạch của một người trí thức
trong thời đại mới.
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
18
Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
Chương 2
ĐẶC ĐIỂM VÀ HÌNH THỨC THỂ HIỆN NHÂN TỐ TỰ BẠCH
TRONG THAO THỨC
2.1. Người kể chuyện ở ngôi thứ nhất và điểm nhìn
trần thuật bên trong
2.1.1. Người kể chuyện ở ngôi thứ nhất
Vốn được xuất phát từ ý đồ nghệ thuật của tác giả, nhân tố tự bạch thâm
nhập vào toàn bộ cấu trúc tác phẩm và chi phối phần nào đến sự lựa chọn hình
thức thể hiện của tác phẩm, từ việc lựa chọn ngôi kể, điểm nhìn đến việc tổ
nghe, sẵn sàng biểu hiện thái độ thân thiện với người đọc bất cứ lúc nào cần
đến (khi sử dụng chức năng diễn ngôn cầu khiến, thuyết phục…); người bày
tỏ thái độ hoặc lập trường diễn ngôn hướng tới nhân vật và sự kiện, đặc biệt
trong cách sử dụng các biện pháp tu từ, hình ảnh, những cụm từ định giá, sự
biểu hiện để nói lên những chú giải triết học hoặc khớp nối trần thuật, là
người có giọng điệu đặc trưng.” [9, tr. 46].
Người kể chuyện ẩn tàng (covert narrator) là một người không bày tỏ
những đặc điểm công khai như người kể chuyện lộ diện. “Cụ thể là anh ta/ cô
ta là người không hướng đến chính mình hay người nhận hoặc người nghe;
một người có giọng điệu và phong cách ít nhiều trung tính (không có đặc tính
rõ rệt); một người mơ hồ về giới tính; một người thể hiện không có ý muốn
quan tâm đến bất cứ thứ gì”. [9, tr. 46]. Việc xác định và phân biệt những
dạng thức khác nhau của người kể chuyện sẽ giúp ta thấy rõ hơn mối quan hệ
giữa người kể chuyện với hành động truyện, cũng như vị trí, thái độ của anh ta
với câu chuyện.
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
20
Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
Tiểu thuyết Thao thức được kể bởi người kể chuyện lộ diện xưng “tôi”.
Olek Antonovich Yudin là kiểu người kể chuyện truyền thống – người hướng
dẫn ta trong tiểu thuyết thế kỷ XIX – giờ đã trở nên lạc hậu. Người kể chuyện
không phải ai xa lạ, đứng ở trên cao, ngoài xa phóng tầm mắt quan sát mọi
chuyện mà hòa mình, trực tiếp tham gia vào các biến cố. Người kể chuyện
đóng vai nhân vật chính, liên quan trực tiếp và chủ yếu đến các hành động
truyện, là kiểu người kể chuyện biết tuốt. Tác phẩm mang bóng dáng của một
cuốn tự truyện hư cấu, chính bởi vậy, câu chuyện của người kể chuyện gây
cảm giác đáng tin hơn.
Lối kể chuyện ở ngôi thứ nhất đặc biệt được thịnh hành trong tiểu thuyết
phương Tây thế kỷ XVIII, khi tiểu thuyết đang vươn lên chiếm vị trí hàng đầu
trong văn đàn với các đại diện như: Voltaire, Diderot, Rousseau,
Trong tiểu thuyết Thao thức, nhân vật Yudin là người chủ xướng, đồng
thời là người tham dự vào mọi biến cố của câu chuyện. Anh ta là người kể
chuyện, đồng thời cũng là nhân vật trung tâm của chính câu chuyện mà anh ta
kể lại. Giọng điệu tự thú của một người đang tự kiểm điểm đã xác lập niềm tin
của độc giả với câu chuyện. Khi đọc những dòng chữ của cuốn tiểu thuyết,
người đọc sẽ có cảm giác như đang tiếp cận những dòng tự thuật. Ở đây, lời
kể của tác giả đã chuyển thành lời kể của nhân vật. Việc sử dụng người kể ở
ngôi thứ nhất còn tạo ra sắc thái chủ quan cho câu chuyện, từ đó dẫn tới
những điều kiện thuận lợi cho việc bộc bạch tâm sự của nhân vật “tôi”. Anh ta
điều khiển mọi diễn biến của câu chuyện, đồng thời có thể thoải mái đưa ra
những đánh giá và nhận định cá nhân. Chính bởi vậy, ngôi kể thứ nhất đã trở
thành đặc điểm và cũng là hình thức biểu hiện đầu tiên của nhân tố tự bạch
trong tác phẩm.
Tiểu thuyết Thao thức xoay quanh những câu chuyện do Yudin kể lại.
Nhân cái chết của giáo sư Uspensky, Yudin đã hồi tưởng lại cuộc đời mình, từ
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
22
Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
thời thơ ấu sống cùng người cha bên Pháp rồi đến thời thanh niên gắn bó với
cậu bạn thân Alyosha Sutov, rồi quãng đời quân ngũ và cuối cùng là những
ngày tháng làm việc, cống hiến trong viện nghiên cứu sinh học. Có thể nói,
tình huống trần thuật ở ngôi thứ nhất rất phù hợp với việc thể hiện giọng điệu
tự thú của Yudin. Những lời sám hối của nhân vật được viết ra tự nhiên như
những dòng nhật ký: “Tôi cũng tham quyền, việc tôi tìm đến mọi cách lẩn
tránh những chức vụ chỉ huy chỉ nói rằng lòng tham quyền của tôi thuộc loại
khác” [10, tr. 317].
Ngoài ý nghĩa tạo nên niềm tin nơi độc giả, ngôi kể thứ nhất còn có tác
dụng tạo nên tính giao tiếp ở cấp độ nội văn bản, đó là sự giao tiếp trực tiếp
giữa người kể chuyện với người đọc, người nghe chuyện. Nhà nghiên cứu
Manfred Jahn có đưa ra thuật ngữ “độc giả của trần thuật” (narrative
đổi những suy tư và trải nghiệm. “Độc giả giả định” ở đây có thể là một nhân
vật hư cấu do người kể chuyện tưởng tượng ra nhưng cũng có thể là những
độc giả, những con người thật đang tồn tại trong đời sống mà khi viết cuốn
tiểu thuyết nhà văn hướng đến. Trên thực tế, kể chuyện cũng là một hoạt động
hội thoại giữa người kể chuyện (người nói) và người đọc (người nghe
chuyện). Việc phân tích và tìm hiểu mối quan hệ giữa người kể chuyện với
“độc giả giả định” sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất giao tiếp của tác
phẩm trần thuật.
Tác giả Wolf Schmidt vào năm 1972 đã đề xuất sơ đồ định hướng giao
tiếp của các cấp độ trần thuật và các bậc trần thuật tương ứng, trên cơ sở chỉnh
sửa và hệ thống lại các các tư tưởng lý luận của M.Bakhtin, W.Booth,
F.K.Stanzel và L.Dolezel. Sau đó, sơ đồ này được bổ sung và hoàn chỉnh bởi
Warning, H.Link và một số nhà lý luận khác. Mô hình cắt dọc cấu trúc trần
thuật có xuất xứ từ Schmidt đề ra bốn cấp độ giao tiếp. Đó là các cấp độ sau:
Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X
24
Nhân tố tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron
Cấp độ ngoài văn bản, diễn ra sự giao tiếp giữa tác giả thực và độc giả
thực.
Cấp độ nội văn bản của những tình thế giao tiếp trừu tượng, nơi thực hiện
sự giao tiếp giữa những cấu trúc lý thuyết: tác giả trừu tượng (hoặc tác giả ẩn
tàng) và độc giả trừu tượng.
Cấp độ nội văn bản của những tình thế giao tiếp hư cấu, nơi diễn ra sự
giao tiếp giữa tác giả hư cấu với độc giả hư cấu, tức là các bậc trần thuật hiển
thị dưới dạng các nhân vật.
Cấp độ “thế giới văn bản”, tại đây nảy sinh vô số tình thế giao tiếp giữa
các vai, tồn tại một thế giới nữa do sự hành ngôn của các vai. [13, tr. 152].
Từ lý thuyết về các cấp độ trần thuật, soi rọi vào tiểu thuyết Thao thức, ta
thấy tác giả đã cố ý tạo ra hình thức giao tiếo giữa “người viết những dòng
này” với “độc giả giả định”. Hình thức giao tiếp này thuộc cấp độ trần thuật