1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHAN THỊ NGỌC HÀ
NÔNG THÔN THỜI KỲ ĐỔI MỚI TRONG
TIỂU THUYẾT THẦN THÁNH VÀ BƯƠM BƯỚM
CỦA ĐỖ MINH TUẤN
LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội – 2013
4
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3.Mục đích nghiên cứu 13
4.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 10
5.Phƣơng pháp nghiên cứu 14
6.Cấu trúc đề tài 15
PHẦN NỘI DUNG 16
CHƢƠNG 1: TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ NÔNG THÔN TRONG VĂN XUÔI
THỜI KÌ ĐỔI MỚI 16
1. 1.Khái quát về thể loại tiểu thuyết và những đổi mới trong quan niệm về
hiện thực và con ngƣời 16
1.1.1.Khái niệm và đặc trƣng thể loại 16
1.1.2.Vấn đề đổi mới về quan niệm hiện thực và con ngƣời trong tiểu thuyết
sau 1975 21
1.2.Tiểu thuyết viết về nông thôn trong văn xuôi đƣơng đại 29
1.2.1.Tiểu thuyết viết về nông thôn đặt trong bối cảnh chung của tiểu thuyết
đổi mới 29
1.2.2.Một số tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn trong văn học đổi mới 38
1.3.Đỗ Minh Tuấn và tiểu thuyết Thần thánh và bƣơm bƣớm 46
1.3.1.Tác giả Đỗ Minh Tuấn 46
1.3.2.Tác phẩm Thần thánh và bƣơm bƣớm 47
CHƢƠNG 2: NÔNG THÔN VÀ NGƢỜI NÔNG DÂN TRONG TIỂU
THUYẾT THẦN THÁNH VÀ BƢƠM BƢỚM 51
2.1. Hiện thực cuộc sống nông thôn qua Thần thánh và bƣơm bƣớm 51
2.1.1. Một nông thôn đầy biến động trƣớc thời kì hội nhập kinh tế thị trƣờng . 51
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nói tới tầm quan trọng của đề tài nông thôn trong văn học, nhà thơ
Hữu Thỉnh đã nhấn mạnh: “ Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, đặc biệt từ
thời kì đổi mới đến nay, mảng văn học đề tài nông nghiệp, nông dân, nông
thôn đã tạo ra đƣợc những giá trị to lớn, chiếm giữ một vị trí quan trọng trong
kho tàng đồ sộ, phong phú và đa dạng của nền văn học Việt Nam”[84]. Thật
vậy, từ xƣa tới nay, mảng đề tài viết về nông thôn luôn chiếm một vị trí khá
quan trọng trong nền văn học Việt Nam. Ở mỗi một giai đoạn lịch sử, hiện
thực nông thôn lại đặt ra những vấn đề mang tính thời đại và đặt ra những yêu
cầu cấp thiết cần đƣợc giải quyết đối với các nhà văn chuyên viết về đề tài
này. Các nhà văn luôn tìm ra hƣớng tiếp cận thích hợp hiện thực, phản ánh
đời sống, tâm tƣ, nguyện vọng của ngƣời nông dân và từ đó độc giả nhận ra
quan niệm, cách nhìn của chính nhà văn về hiện thực và con ngƣời cùng với
những vấn đề đặt ra trong đời sống nông thôn và ngƣời nông dân của giai
đoạn ấy.
1.2. Từ sau đổi mới hoà trong dòng chảy của tiểu thuyết nói riêng, của
văn học nói chung, tiểu thuyết viết về nông thôn đã có những chuyển đổi quan
trọng về tƣ duy nghệ thuật, đạt đƣợc những thành tựu mới. Các nhà văn đã có
một cái nhìn lịch sử mới trong một số vấn đề về nông thôn nhƣ thời kỳ cải
cách ruộng đất qua tiểu thuyết Ác mộng của Ngô Ngọc Bội, Ba ngƣời khác
của Tô Hoài, … thời hậu chiến nhƣ Sao đổi ngôi của Chu Văn, Bến không
chồng của Dƣơng Hƣớng…Đặc biệt một số tiểu thuyết đã đề cập đến những
vấn đề về nông thôn đƣơng đại trong thời buổi kinh tế thị trƣờng và đất nƣớc
bƣớc vào thời kỳ hội nhập nhƣ Ma làng của Trịnh Thanh Phong, Mảnh đất
2
mình rất lớn lao trên tất cả các thể loại, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết. Sự nở
rộ của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới, đặc biệt là các tiểu thuyết viết về nông thôn
đƣợc coi nhƣ một thành tựu của văn học thời kỳ này đã thu hút các nhà
nghiên cứu quan tâm.
Trong quá trình tìm hiểu các tƣ liệu liên quan đến đề tài, chúng tôi có
đƣợc một số tƣ liệu và tạm phân ra mấy vấn đề chính sau đây:
2.1. Sự đổi mới tƣ duy tiểu thuyết và đề tài nông thôn trong tiểu thuyết
sau 1975
2.1.1. Sự đổi mới trong tƣ duy tiểu thuyết
Sau 1975, khi đất nƣớc thống nhất, văn học nói chung và tiểu thuyết nói
riêng đã bƣớc sang một chặng đƣờng mới, có những bƣớc chuyển và dấu hiệu
tích cực, đánh dấu vai trò của đƣờng lối “ cởi trói” văn nghệ của Đảng nói
chung và thành công của những cây bút văn xuôi nhiều thế hệ nói riêng.
Trong cách tìm tòi và thể nghiệm sự sáng tạo của mình, tiểu thuyết đã có
nhiều bài viết, đề cập đến các phƣơng diện và khía cạnh khác nhau. Có thể kể
đến các công trình:
Nguyễn Đăng Mạnh: Về một xu hƣớng tiểu thuyết đang phát triển (Nhân
dân, Ngày 26/10/1985)
Bích Thu với Những nỗ lực sáng tạo của tiểu thuyết Việt Nam từ sau Đổi
mới (Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học, NXB Khoa học xã hội, 2001)
Lê Ngọc Trà ( 2002) trong cuốn sách Thách thức của sáng tạo thách
thức của văn hoá, NXB Thanh niên.
Nguyễn Thị Bình với Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong văn
xuôi nƣớc ta từ sau 1975, Tạp chí văn học, số 4 - 2003.
4
Nguyễn Thị Bình, “ Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 – Một cái nhìn khái
quát”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 2 – 2007.
Phong Lê “ Vài nét tiếp cận lịch sử và giá trị văn xuôi Việt Nam hiện
đại”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 3 – 2010.
xuôi viết về nông thôn nói riêng cũng có bƣớc chuyển biến cơ bản. Có thể
nhận thấy, hiện thực đƣợc phản ánh trong tác phẩm đã trở nên sinh động, đa
dạng và phong phú hơn nhờ không khí dân chủ của xã hội. Hàng loạt các tác
phẩm viết về đề tài “ tam nông” ra đời và ngay lập tức nhận đƣợc sự chú ý
của đông đảo dƣ luận, những ý kiến đánh giá phê bình của các nhà nghiên
cứu, các cuộc hội thảo toạ đàm đƣợc tổ chức nhằm tiếp thu, tranh luận, đánh
giá về những tác phẩm ấy.
Nhìn chung, mỗi công trình, mỗi bài viết đều đề cập đánh giá ở những
khía cạnh khác nhau nhƣng đa số đều hƣớng đến khẳng định giá trị đóng góp
của từng tác phẩm. Chẳng hạn, khi đề cập đến Thời xa vắng của Lê Lựu – tác
phẩm đoạt giải của Hội nhà văn năm 1990, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Lƣu
nhận định tác phẩm: “ là một sự phê phán mạnh mẽ những thói quen bảo thủ,
là một cảnh tỉnh, một niềm tâm sự nhắn gửi một lịch sử chua xót và thấm
thía” [49]. Về tiểu thuyết Bến không chồng của Dƣơng Hƣớng – tác phẩm
đƣợc nhận giải thƣởng của Hội nhà văn năm 1991, Nguyễn Văn Long nhận
định: “ Trong Bến không chồng, Dƣơng Hƣớng muốn lƣu ý ngƣời đọc đến
một phƣơng diện của xã hội nông thôn, nó chi phối đời sống ngƣời nông dân
không chỉ trong quá khứ mà cả cho đến mãi gần đây, đó là ý thức về tập quán
và dòng họ ( …). Nó vừa là một yếu tố góp phần củng cố cộng đồng làng xã,
đồng thời cản trở nông thôn trên con đƣờng phát triển” [46; tr.404] Về tác
phẩm Dòng sông mía của Đào Thắng – tác phẩm đạt giải A Cuộc thi tiểu
thuyết 2002 – 2005 của Hội nhà văn , nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến trong
6
bài viết Đọc Dòng sông mía của Đào Thắng(Tạp chí Sông Hƣơng, số 196,
tháng 6 /2009) đã nhận định: “Làng Mía cũng nhƣ mọi làng xã nông thôn
Việt Nam là địa bàn “thử nghiệm” những cuộc cải cách “long trời lở đất”,
những phong trào cải tạo “sắp đặt lại giang sơn”. Có những nỗ lực, những
thành tựu tích cực. Nhƣng những mặt trái của những công cuộc “cải cách”,
“cải tạo” này vẫn còn lại đó, bầy hầy, nhức nhối. Đọc Dòng sông Mía của
ngƣời dân, có nhiều hơn nữa những xoay chuyển thiết thực để giảm tỉ lệ dân
nghèo rất đáng kể ở nông thôn, cụ thể là ngay tại đồng bằng sông Cửu Long”.
Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn đã cho ra đời hàng loạt các truyện ngắn viết
về làng quê nhƣ: Đám cƣới làng, Ngƣời quê, Vợ chồng hò hẹn, Làng quê yên
ả… Tháng 6 năm 2011, ông đã đƣợc Hội nhà văn Việt Nam trao giải tác phẩm
văn học xuất sắc về nông nghiệp, nông dân, nông thôn cho truyện ngắn chọn
lọc về làng quê đô thị hóa. Nguyễn Hữu Nhàn không đi vào những mặt trái
của làng quê trong quá trình phát triển, hoặc phê phán chống tiêu cực, mà
bằng một cách thật tự nhiên, nhất quán, ông chuyên chú đi vào các tầng văn
hoá của làng quê thời hiện đại. Tác giả Đỗ Hà trong bài viết Nhà văn Nguyễn
Hữu Nhàn gom chút hƣơng quê chƣng cất hƣơng đời” đã nhận định : Các
truyện ngắn của Nguyễn Hữu Nhàn “là những góc nhìn mới mẻ về các vấn đề
muôn thuở của làng quê(…) Bức tranh nông thôn có sự pha tạp của “dấu
hình” thành thị có nhiều nét mới tích cực nhƣng cũng không tránh khỏi những
vấp váp. Mỗi truyện ngắn là một góc nhìn nông thôn thu nhỏ, thật gần gũi,
thân quen mà vẫn rất mới mẻ, độc đáo.” [23]
Sau đổi mới, với không khí dân chủ cởi mở, các nhà nghiên cứu đã có rất
nhiều điều kiện thuận lợi khơi sâu vào nhiều tầng, vỉa để đánh giá và nhìn
nhận lại nhiều vấn đề của văn học, trong đó có đề tài văn xuôi viết về nông
thôn. Tác giả Trần Cƣơng qua bài nghiên cứu Văn xuôi viết về nông thôn nửa
8
sau những năm 80 đã nhận định có hai sự chuyển biến của văn xuôi viết về
nông thôn nửa sau những năm 86 so với những năm trƣớc đó là sự chuyển
biến trong chủ đề và sự chuyển biến trong phạm vi bao quát hiện thực. Theo
tác giả dƣờng nhƣ “Lần đầu tiên xuất hiện hai chủ đề thuộc về con ngƣời mà
trƣớc kia chƣa có. Đó là chủ đề về số phận con ngƣời và hạnh phúc cá nhân”
[9; tr.35]. Ở phạm vi phản ánh hiện thực, tác giả cũng đƣa ra nhận xét rằng
“các nhà văn nhƣ đã nhìn nhận và phản ánh hiện thực nông thôn kĩ càng. Họ
thấy những gì ở tầng sâu, mạnh ngầm của đời sống nông thôn”.[9; tr.36]. Và
và từ 3 phần ấy ông đƣa đến 1 đánh giá ở phần thứ tƣ là “ Đỗ Minh Tuấn là
nhà văn hoá trùng điệp”. Đặc biệt, trong bài nghiên cứu này ông đi đến đánh
giá về bức tranh hiện thực xã hội đƣợc Đỗ Minh Tuấn xây dựng trong tiểu
thuyết: “Ngòi bút của Đỗ Minh Tuấn đủ cứng để xây dựng nên đƣợc một bức
tranh xã hội xác đáng và sinh động; đó là một xã hội đau thƣơng, tủi nhục đến
tột cùng. Tuy có phóng đại và có những khi rƣờm lời một cách nhiệt thành,
nhƣng mà ông đã thành công với khả năng khắc họa đời sống nông thôn Việt,
với rất nhiều nhân vật đứng đƣợc trong lòng ngƣời đọc.”
- Trong bài viết “ Nông thôn trong Thần thánh và bƣơm bƣớm còn đảo
lộn ghê gớm hơn cả thời cải cách”, tác giả Hữu Thỉnh đã khẳng định: “ Thần
thánh và bƣơm bƣớm đã đề cập đến một vấn đề nhức nhối nhất, đó là vấn đề
đạo đức xã hội, thể hiện ở sự săn đuổi đồng tiền ghê gớm nhất, bất cứ cái gì
cũng có thể biến thành tiền, biến một vật vô tri, vô giác thành thần thánh cũng
chỉ vì đồng tiền, cuộc săn đuổi các bộ hài cốt không biết có hay không cũng
chỉ vì tiền! Có thể nói chƣa có bao giờ lại đảo lộn nhƣ vậy!”
2.2.2. Các công trình nghiên cứu tiếp cận Thần thánh và bƣơm bƣớm từ
phƣơng diện nghệ thuật:
10
- Nhà nghiên cứu Phƣơng Lựu trong bài viết “ Đỗ Minh Tuấn mở đầu
cho phong cách hiện thực kì ảo của Việt Nam”, tác giả tiếp cận tiểu thuyết
Thần thánh và bƣơm bƣớm từ phƣơng diện nghệ thuật. Ông xâu chuỗi các sự
kiện của tác phẩm và đƣa đến kết luận: “ Có thể coi tiểu thuyết của Đỗ Minh
Tuấn là một sự mở đầu cho phong cách hiện thực kỳ ảo của Việt Nam”.[53]
- Tác giả Trần Ninh Hồ trong bài viết “ Có gì đáng đọc ở Thần thánh
và bƣơm bƣớm” đã tiếp cận tác phẩm từ phƣơng diện thời gian và không gian
nghệ thuật. Từ đó, ông đi đến kết luận về giá trị của tác phẩm: “ Đây là một
tác phẩm thật đặc sắc không chỉ trong phạm vi một quốc gia”.[32]
- Tác giả Lê Huy Quang trong bài viết “ Nhìn Thần thánh và bƣơm
bƣớm từ góc độ nghệ thuật”, ông tiếp cận tác phẩm từ sự so sánh tƣơng quan
cách tiếp cận, rất hay về giọng điệu, rất hay về những cái mới mẻ trong biển
cả các cuốn sách viết rất giống nhau.”[45]
- Trong bài viết “ Thần thánh và bƣơm bƣớm – một tiểu thuyết về văn
hoá Việt Nam của Đỗ Minh Tuấn”, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử khẳng định
“Tiểu thuyết của Đỗ Minh Tuấn có ba điểm đặc sắc. Một là phản ánh hiện
thực văn hoá nông thôn thời kinh tế thị trƣờng; hai là sự khác biệt của hai thế
hệ cha – con; ba là tính hài hƣớc, giễu nhại, cƣời ra nƣớc mắt xuyên suốt cuốn
truyện, lôi cuốn ngƣời đọc từ đầu đến cuối.” [75]
- Tác giả Đỗ Ngọc Yên trong bài nghiên cứu “ Thần thánh và bƣơm
bƣớm một thể nghiệm đầy trăn trở” đã tiếp cận tác phẩm từ phƣơng diện đề
tài và bút pháp, từ đó đƣa ra đánh giá một cách rất khái quát về giá trị của
cuốn tiểu thuyết đối với hiện thực: “ Với cuốn tiểu thuyết Thần thánh và
bƣớm bƣớm, Đỗ Minh Tuấn đã cho trình làng ở tầm vĩ mô một bức phác họa
về nông dân - nông thôn hiện nay ở chiều sâu tâm thức văn hóa đang đƣợc
dịch chuyển từ quá khứ sang hiện tại. Qua đấy ngƣời đọc có thể thấy đƣợc số
12
phận lịch sử không phải của cái làng Bái Thƣợng, Bái Hạ cụ thể nào, mà là
của cả một dân tộc trong quá trình lột xác, đắp đổi thịnh suy”.[104]
- Tác giả Phan Huy Dũng trong công trình nghiên cứu Món nộm văn hoá
Việt hiện nay dƣới con mắt Đỗ Minh Tuấn ( Đọc tiểu thuyết Thần thánh và
bƣơm bƣớm của Đỗ Minh Tuấn ) đã tiếp cận tác phẩm từ phƣơng diện văn
hoá. Tác giả đi sâu vào nghiên cứu nội dung tác phẩm và đi đến khẳng định
Thần thánh và bƣơm bƣớm đã đƣa ra một “ món nộm” một “ nồi lẩu” văn
hoá, trong đó chứa đựng tất cả những thứ tạp nham, hổ lốn do tác động của
kinh tế thị trƣờng tạo nên. Bên cạnh đó, tác giả Phan Huy Dũng cũng đi vào
nghiên cứu sơ lƣợc về những đặc sắc nghệ thuật của Đỗ Minh Tuấn, từ đó đi
đến khẳng định: “Thần thánh và bƣơm bƣớm không thiếu những dấu hiệu
cách tân nghệ thuật tiểu thuyết, nhƣng nó đã đƣợc tác giả viết ra bằng tâm thế
của một nhà văn cổ điển vốn coi trọng, đề cao chức năng xã hội của văn học,
của mình qua các bộ môn nghệ thuật nhƣ hội hoạ, điện ảnh, thơ…mà tài năng
của ông còn đƣợc khẳng định ở lĩnh vực tiểu thuyết. Tìm hiểu về tiểu thuyết
Thần thánh và bƣơm bƣớm, chúng tôi muốn tìm hiểu và góp phần khẳng định
những đóng góp của ông đối với nghệ thuật tiểu thuyết và tiến trình phát triển
của văn xuôi đƣơng đại.
Qua tác phẩm Thần thánh và bƣơm bƣớm và liên quan là những tiểu
thuyết viết về nông thôn, độc giả thấy đƣợc vấn đề “ tam nông” đƣợc đặt ra
hết sức cấp bách hiện nay. Sự khác biệt, mới mẻ trong lối viết, cách tiếp cận
hiện thực và giọng điệu của tác phẩm trong tiểu thuyết Thần thánh và bƣơm
bƣớm cho thấy việc tiếp cận và xử lý hiện thực là nhu cầu thiết yếu đối với
ngƣời viết.
14
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu chính của chúng tôi trong đề tài này là những
vấn đề về nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết Thần thánh và bƣơm
bƣớm.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Ngoài việc tập trung khảo sát Thần
thánh và bƣơm bƣớm, chúng tôi sẽ đặt cuốn tiểu thuyết này trong tƣơng quan
so sánh với một số tác phẩm viết về đề tài nông thôn thời kì đổi mới khác
nhƣ: Thời xa vắng – Lê Lựu, Ma Làng – Trịnh Thanh Phong, Mảnh đất lắm
ngƣời nhiều ma – Nguyễn Khắc Trƣờng, Dòng sông mía – Đào Thắng, Bến
không chồng – Dƣơng Hƣớng, Thuỷ hoả đạo tặc – Hoàng Minh Tƣờng
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu truyền
thống nhƣ:
- Phƣơng pháp khảo sát, thống kê
- Phƣơng pháp phân tích.
- Phƣơng pháp so sánh đối chiếu
- Phƣơng pháp khái quát tổng hợp.
hình” và “ chƣa hề rắn lại”. Nó “ trẻ hơn chữ viết và sách, chỉ một mình nó
thích ứng hữu cơ với cách thức tiếp thu im lặng tức là đọc”. Nó “ là một sinh
linh thuộc giống nòi khác. Nó khó sống chung với các thể loại kia. Nó đấu
tranh giành lấy vị trí thống trị trong văn chƣơng, và nơi nào nó ƣu thắng ở đấy
những thể loại khác, thể loại cũ, bị phân hoá”. [61]
Tiểu thuyết luôn là thể loại “nóng” lôi cuốn sự quan tâm và kích thích
cảm hứng “đối thoại” của cả giới sáng tác, lý luận, phê bình và công chúng.
Có lẽ chính vì lý do ấy mà hiện nay tiểu thuyết đã trở thành tâm điểm của các
16
nhà nghiên cứu nhƣng vẫn chƣa có đƣợc một khái niệm chung nhất về thể
loại. Mỗi nhà nghiên cứu đƣa ra một khái niệm, một cách nhìn riêng về thể
loại theo cách tiếp cận của mình. Những khái niệm ấy sẽ góp phần làm nổi rõ
những đặc điểm từ những đóng góp của tiểu thuyết đối với nền văn học nhân
loại.
Nhà nghiên cứu N.T Rymar trong bài viết “ Tƣ duy tiểu thuyết và văn
hoá thế kỉ XX” do Song Mộc dịch, định nghĩa tiểu thuyết “ là một hình thức
của tƣ duy sử thi muốn giải quyết theo cách của sử thi những vấn đề vừa mới
đặt ra trƣớc con ngƣời mà sự xuất hiện của chúng đƣợc chế định bởi quá trình
tách biệt cá nhân qua hàng chục thế kỷ. Vì thế tiểu thuyết cũng còn là một
“thể loại không có quy phạm”, nhiệm vụ của nó là thiết lập mối tiếp xúc với “
hiện thực chƣa hoàn thành”. Nhƣng đấy mới chỉ là một mặt của vấn đề; còn
phƣơng diện khác của vấn đề nằm ở chỗ “tính chƣa đoàn kết” đó của thể loại
không có nghĩa cấu trúc thể loại của nó không hoàn toàn định dạng: tiểu
thuyết không chỉ mang tính biến dị khác thƣờng mà còn có tính bền vững
đáng kinh ngạc”. [63]
PGS.TS. Lý Hoài Thu định nghĩa tiểu thuyết: “ Là một hình thức tự sự
cỡ lớn, tiểu thuyết có những khả năng riêng trong việc tái hiện với một quy
mô lớn những bức tranh hiện thực đời sống, trong đó chứa đựng nhiều vấn đề
sâu sắc của đời sống xã hội, của số phận con ngƣời, của lịch sử, của đạo đức,
Trong tƣơng quan với các thể loại khác, tiểu thuyết nổi bật lên ở khả
năng phản ánh một cách “ toàn vẹn và sinh động” bức tranh mang tính tổng
thể của hiện thực đời sống. Đây là một trong những đặc trƣng cơ bản, là ƣu
thế lớn tạo nên tầm vóc, quy mô hiện thực cho tác phẩm tiểu thuyết. Phẩm
chất này của tiểu thuyết gắn chặt với nguồn gốc và sự ra đời của thể loại. Từ
những câu chuyện “ phiêu lƣu mạo hiểm” trong văn học phƣơng Tây đến
18
những câu chuyện “ thần tiên ma quái” trong văn học phƣơng Đông, tiểu
thuyết đi đến sự định hình về thể loại ở tính chất tiếp cận đời sống một cách
gần gũi, ở khả năng nhận thức và phản ánh hiện thực một cách sâu sắc. Là
một thể loại tiêu biểu cho phƣơng thức tự sự, tiểu thuyết có khả năng bao quát
lớn về chiều rộng của không gian cũng nhƣ chiều dài của thời gian, luôn luôn
“ vƣợt qua những đƣờng ranh về tri thức cũng nhƣ về phong thổ”. Sự phá vỡ
giới hạn này là một ƣu thế đặc biệt tạo tiền đề để các nhà tiểu thuyết mở rộng
đến tối đa tầm vóc hiện thực trong tác phẩm của mình. Nếu nói rằng văn học
là tấm gƣơng phản chiếu một cách chân thực và đầy đủ bức tranh đời sống
muôn màu, nhà văn là ngƣời thƣ ký trung thành của thời đại thì điều đó có lẽ
thích hợp nhất với tiểu thuyết. Giá trị hiện thực to lớn của tiểu thuyết đƣợc tạo
nên bởi một thế giới nghệ thuật “ siêu hiện thực” mà ở đó nhà văn không hề
chịu một giới hạn nào về số lƣợng nhân vật, khối lƣợng các sự kiện, biến cố,
chi tiết về không gian, thời gian, môi trƣờng, hoàn cảnh…
Tiểu thuyết có ƣu thế đặc biệt ở khả năng thâu tóm, dồn ép nhân vật, sự
kiện vào trong một khoảng không gian ngắn, thời gian hẹp…để tạo nên những
bức tranh hiện thực có quy mô vừa và nhỏ. Trên nền của những bức tranh đời
sống đã bị thu hẹp đó, nhà văn thuận lợi hơn khi đi sâu vào những cảnh ngộ
riêng của số ít nhân vật hoặc khai thác những quan hệ mang tính chất gia đình
với điều kiện là sự lựa chọn đó phải đạt đến ý nghĩa điển hình, chẳng hạn nhƣ:
Ơgiơni Grăngđê ( Banzac), Mảnh đất lắm ngƣời nhiều ma ( Nguyễn Khắc
Trƣờng), Bến không chồng ( Dƣơng Hƣớng)…
nó khoẻ, nó đầy sức sống” [61]. Trong nhiều trƣờng đoạn khác nhau, ngƣời
viết có thể vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo nhiều phƣơng thức: tự sự,
trữ tình, kịch. Trong quỹ đạo vận động của thể loại, ngƣời viết có thể khai
thác ƣu thế của điện ảnh, điêu khắc, âm nhạc, hội hoạ trong việc lắp ghép các
20
mảng không gian, đặc tả chi tiết, tạo hình nhân vật, phối âm, hoà sắc…Ngoài
ra, tiểu thuyết còn có khả năng dung nạp các hình thức của nhiều lĩnh vực
khoa học, trong đó có cả lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học ứng dụng,
khoa học viễn tƣởng.
Là một thể loại lớn của văn học, tiểu thuyết luôn luôn lƣu giữ trong mình
những yếu tố “ cổ sơ bất tử”, đồng thời không ngừng đƣợc hồi sinh đổi mới.
Với những ƣu thế đặc biệt của mình, tiểu thuyết càng ngày càng trở nên bổ
ích đối với nhận thức nghệ thuật của con ngƣời. Chừng nào nhân loại vẫn
khát khao đi tìm câu trả lời cho sự tồn tại của kiếp nhân sinh, khát khao lƣơng
thiện, khát khao tìm kiếm những cá tính nghệ thuật độc đáo, chừng đó tiểu
thuyết vẫn là một thể loại không thể thay thế.
1.1.2. Vấn đề đổi mới về quan niệm hiện thực và con ngƣời trong tiểu
thuyết sau 1975
Tiểu thuyết là một thể loại bám rễ sâu vào hiện thực đời sống và con
ngƣời thời đại, từ đó hút lấy nguồn dinh dƣỡng vô tận để phát triển và sáng
tạo. Chính vì vậy mà nó luôn song hành và không ngừng đổi mới tƣ duy sao
cho phù hợp với hiện thực, con ngƣời và tƣ tƣởng thời đại. Nói đến sự luôn
luôn đổi mới trong tƣ duy tiểu thuyết, nhà nghiên cứu N.T Rymar trong công
trình “ Tƣ duy tiểu thuyết và văn hoá thế kỉ XX” khẳng định: “ Nếu tiểu thuyết
có chết thì nó cũng chết từ từ, nghĩa là nó không chết với tƣ cách một thể loại
mà với tƣ cách một hình thức của thể loại này từng tồn tại trong lịch sử, nó
chết để thể loại hồi sinh và có khả năng có một cuộc sống mới”.[63]
Cùng với bƣớc chuyển mình của thời đại sang thời kì đổi mới, tiểu
thuyết - một loại hình tự sự cỡ lớn - cũng đang nỗ lực chuyển mình, đổi mới
này đã có khuynh hƣớng vừa mở rộng đề tài,vừa cố cƣỡng lại “ từ trƣờng”
của tiểu thuyết sử thi để gia tăng chất thế sự, đời tƣ. Hiện thực đƣợc miêu tả