Thể thơ tự do trong thơ trữ tình Việt Nam 1975-2000 - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*** BÙI THỊ THANH HƯƠNG
THỂ THƠ TỰ DO TRONG THƠ TRỮ
TÌNH VIỆT NAM 1975 - 2000 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Hà Nội - 2009

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: GIỚI THUYẾT VỀ THƠ TỰ DO 7
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUAN NIỆM THỂ LOẠI THƠ 7
1.2 KHÁI NIỆM THƠ TỰ DO 11
1.2.1. Hiểu thế nào về khái niệm tự do 11
1.2.2. Một vài đặc điểm của thơ tự do 13
1.2.3. Phân biệt thơ tự do và thơ văn xuôi 15
1.3 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THƠ TỰ DO 16
1.3.1. Thơ tự do ở phương Đông 16
1.3.2. Thơ tự do ở phương Tây 18
1.3.3. Thơ tự do ở Việt Nam 20
Chương 2: THƠ TỰ DO 1975-2000 26
2.1. BỐI CẢNH ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VÀ Ý THỨC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI
CẦM BÚT 26
2.1.1. Bối cảnh đời sống xã hội 26
2.1.2. Ý thức nghệ thuật của người cầm bút 27
2.2. CÁC KHUYNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THƠ TỰ DO 1975 – 2000 28
2.2.1. Diện mạo thơ tự do 1975 – 2000 28
2.2.2. Khuynh hướng tiếp nối thơ tự do truyền thống. 30
2.2.3 Khuynh hướng đổi mới thơ tự do theo hướng hiện đại chủ nghĩa 33
Chương 3:MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN CỦA THƠ TỰ DO 1975-2000
3.1 HÌNH ẢNH THƠ 36
3.1.1. Hình ảnh của cuộc sống đời thường, trần tục 37
3.1.2. Hình ảnh lạ, mang tính trực giác cao 39

của tâm hồn; ta không khỏi ngạc nhiên thấy sự tồn tại với vị trí khá đặc biệt của thể thơ tự
do.
Ra đời vào khoảng những năm ba mươi của thế kỷ XX cho đến giai đoạn từ sau
1975, thể thơ tự do ngày càng khẳng định được vai trò của nó trong việc thoả mãn nhu
cầu sáng tác của các nhà nghệ sĩ cũng như nhu cầu thưởng thức của đông đảo công
chúng yêu thơ. Với những câu thơ không bị gò bó về vần, luật; với những bài thơ
không bị bó hẹp trong khuôn khổ của câu chữ, thơ tự do đã trở thành một thể thơ
không thể thay thế trong nền thơ hiện đại Việt Nam. Sự thành công của hình thức thơ
này đã khiến nó trở thành mối quan tâm của ngành văn học sử cũng như lý luận thơ ca.
Một loạt vấn đề cần phải đặt ra để lý giải sự phát triển và sức sống của thể thơ mới mẻ,
độc đáo này như: Nó đã ra đời và trải qua các giai đoạn phát triển như thế nào? Nó đã
đảm nhận vai trò chuyển tải nội dung ra sao? Có những điểm gì đáng chú ý trong hình
thức câu chữ của nó?
Trong nhiều công trình lý luận về thơ ca cũng như văn học sử Việt Nam những
năm gần đây, các nhà nghiên cứu cũng đã có đề cập đến hình thức thơ tự do. Tuy
nhiên, việc nghiên cứu cho đến nay chỉ được đề cập đến trong những trang viết lẻ tẻ ở
những khía cạnh riêng biệt, chưa mang tính chất hệ thống để thấy được đặc trưng của
thể loại thơ này qua mỗi giai đoạn văn học. Bởi vậy mà luận văn đặt vấn đề: “Thể thơ
tự do trong thơ trữ tình Việt Nam 1975-2000” nhằm góp phần giải đáp một số vấn đề
về thể thơ nói chung và thể thơ tự do nói riêng trong giai đoạn mới hiện nay. Từ đó,
người viết cũng mong muốn có thể phần nào dẫn đến những gợi mở bổ ích cho thực
tiễn sáng tạo thơ ca cũng như thực tiễn giảng dạy thơ ca.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Với đề tài này, trước hết cần xác định thơ tự do là gì? Hiểu thế nào về khái niệm
thơ tự do và đặc trưng thi pháp của nó. Khi đã tìm hiểu thấu đáo vấn đề này thì đó sẽ là
công cụ chính để chúng tôi đi sâu tìm hiểu về thể thơ tự do ở một giai đoạn phát triển
nở rộ của nó, giai đoạn 1975 – 2000. Trong giai đoạn văn học này, thi đàn Việt Nam
có sự đóng góp của nhiều gương mặt thơ với những bước đột phá như: Vi Thuỳ Linh,
Phan Huyền Thư, Dương Tường, Hoàng Hưng, Lê Đạt, Trần Dần Đồng thời, cũng
có sự nối tiếp, duy trì của những nhà thơ đã khẳng định tên tuổi trong giai đoạn trước

điểm qua các loại công trình như sau:
(1) Công trình giới thiệu, nghiên cứu các thể thơ trong lịch sử thơ ca Việt Nam.
Chẳng hạn như: Thơ ca Việt Nam – hình thức và thể loại (Bùi Văn Nguyên – Hà Minh
Đức)
(2) Công trình lý luận văn học và lý luận thơ ca của các tác giả: Mã Giang Lân
(Thơ hình thành và tiếp nhận, Văn học hiện đại Việt Nam – Vấn đề tác giả, Tiến trình
thơ hiện đại Việt Nam), Phạm Quốc Ca (Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000), Hà
Minh Đức (Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại),
(3) Các công trình tra cứu về văn học như: Từ điển văn học (Trung tâm từ điển
học), Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng
chủ biên)
(4) Các bài nghiên cứu riêng lẻ được công bố trên các tập sách, tập san như:
Thơ Việt Nam sau 1975 – Diện mạo và khuynh hướng phát triển (Nguyễn Đăng Điệp –
Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy), Nhịp điệu thơ
hôm nay (Mã Giang Lân – Tạp chí Nghiên cứu văn học – số 3/2007), Thơ tự do: Cuộc
vật lộn tiếp diễn của sáng tạo và tiếp nhận (Vi Thuỳ Linh – Về một dòng văn
chương),
Tìm hiểu nội dung của các công trình trên đây ta thấy thơ tự do trong các giai đoạn
phát triển của nó đều được các nhà nghiên cứu ít nhiều đề cập đến. Theo ý kiến của
nhà nghiên cứu Mã Giang Lân, thực ra trong lời ca của một số làn điệu dân ca quan họ
(Bắc Ninh), hát xoan (Phú Thọ), các làn điệu chèo, ca Huế, các điệu hò cũng đã có
những yếu tố của thơ tự do. Nhưng xuất hiện với tư cách là một thể thơ độc lập thì
phải đến thời kì thơ Mới, thơ tự do mới ra đời. Từ phong trào thơ Mới “Thơ tự do mở
đường nhập hội Tao Đàn” (Bằng Giang, Từ thơ Mới đến thơ tự do-NXB Phù Sa,Sài
Gòn,1961).
Năm 1971, Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức với chuyên luận Các thể thơ ca và sự
phát triển của hình thức thơ ca trong văn học Việt Nam (NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội,1971) đã có một cuộc tổng kết về hình thức thể loại của phong trào thơ Mới, trong
đó các ông đặc biệt chú ý đến thể thơ tự do: “Về hình thức, phong trào thơ Mới vốn đã
có những đóng góp quan trọng vào việc phát triển các thể thơ nâng cao khả năng biểu

Nam đã giải tỏa, đã chứng minh tất cả những gì mà Nguyễn Đình Thi sớm phát hiện
và kiên trì theo đuổi trong suốt hành trình cô đơn, heo hút đi tìm thơ,trong sự kì thị của
không ít bạn bè đồng nghiệp ngày ấy. Đó quả là một quan niệm cách mạng về nghệ
thuật” (Mai Hương, Nguyễn Đình Thi, từ quan niệm đến thơ – Tạp chí Văn học số 3-
1999).
Năm 1987, cuốn chuyên luận Một thời đại văn học mới với sự góp mặt của nhiều
tác giả (NXB Văn học, Hà Nội, 1987) đã có một cuộc tổng kết về sự phát triển của các
thể thơ trong nền thơ sau 1945: “Về mặt thể thơ, trong sự phát triển của thơ trữ tình
sau Cách mạng tháng Tám 1945, hầu hết các thể thơ dân gian và truyền thống (lục bát,
song thất lục bát, Đường luật ), các thể “thơ mới” (5 chữ, 7 chữ, 8 chữ) đều được khai
thác, sử dụng và trở nên nhuần nhuyễn trong nội dung mới. Bên cạnh đó, hình thức thơ
tự do ngày càng trở nên phổ biến , rộng rãi ” . Tác giả bài viết đặc biệt chú ý đến thể
thơ tự do và giải thích rõ hơn: “Thể thơ tự do đã hình thành. Đây là thể thơ được dùng
phổ biến nhất trong thơ từ sau 1945 với những cách xử lý hết sức khác nhau. Những
nhà thơ thích đưa hơi hướng cổ phong vào thơ mình hồi 45 – 50, trên thực tế đã phát
triển hình thức thơ tự do. Những tác giả định tạo ra lối thơ leo thang tiếng Việt hồi
cuối những năm 50 thì những thí nghiệm ấy thực ra cũng là những dạng của thơ tự do.
Thơ tự do hầu như là hình thức thích hợp nhất cho những nhà thơ trẻ xuất hiện hồi
những năm 60” Thơ tự do đã trở thành hình thức quen thuộc để các nhà thơ sáng tác,
là lĩnh vực thử thách để các cây bút trẻ khẳng định tài năng, cá tính sáng tạo của mình.
Giai đoạn phát triển này của thơ tự do còn thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả
với những ý kiến xác đáng khác như: Trần Đình Sử, Vũ Duy Thông, Nguyễn Văn
Long Năm 1994, Trần Đình Sử trong Hành trình thơ Việt Nam hiện đại (Báo Văn
nghệ năm 1994) đã thống kê tỉ lệ thơ tự do trong các tuyển tập thơ: “ Xét hình thức bề
ngoài, thơ cách mạng sau 1945 phát huy hình thức tự do. Một sự thống kê sơ bộ cũng
cho thấy điều này. Chẳng hạn, tập Thơ kháng chiến 1945 -1954 (NXB Tác phẩm mới,
1986) có 62/147 bài thơ tự do , hợp thể; tập Thơ Việt Nam 1945 -1985 (NXB Văn
học,1985) có 98/213 bài thơ tự do, tỷ lệ trung bình gần như 1/2. Tỷ lệ này chứng tỏ thơ
muốn vượt qua nhạc tính bề ngoài để đi vào nhạc điệu bên trong”. Tỷ lệ thống kê cho
thấy thơ tự do chiếm ưu thế vượt trội hơn hẳn so với các thể thơ khác. Nó phản ánh xu

không hiện thực, họ chỉ mải mê ghi lại những chấn động đột ngột của tâm hồn, đắm
mình trong dòng chảy cảm xúc ( ). Xu hướng chung của sự chuyển mới này là đi tìm
cách biểu cảm hiện đại của thơ, dồn nén thông tin, ham bày tỏ, ít so sánh trực tiếp, nhiều
liên tưởng ngầm, tăng trực giác lẫn ngẫu nhiên, câu thơ co duỗi tự do, đóng mở linh
hoạt ” Một thời đại mới đang mở ra khiến cho thơ cũng trở nên năng động, phong phú
hơn. Thể thơ thích hợp nhất để con người hiện đại chuyển tải những suy nghĩ, xúc cảm
của mình, không gì khác hơn là thơ tự do.
Trong diễn đàn Hội thảo về thơ hôm nay trên báo văn nghệ số 31/1994, Ngô Quân
Miện với bài viết Chuyển biến của các thể thơ trong tiến triển của thơ hiện nay đã
nhận xét: “Những thể thơ truyền thống, dù có sự cải tiến, về cơ bản vẫn mang tính chất
đều đặn và vẫn trở ngại cho sự ào vào thơ của văn xuôi, của những yếu tố văn xuôi,
của ngôn ngữ cuộc sống. Để vượt qua sự trở ngại ấy, trong hai thập kỉ gần đây, nhất là
từ thập kỉ 80 trở đi, ta thấy càng ngày xuất hiện càng nhiều những bài thơ có cấu trúc
không đều đặn, nghĩa là về cơ bản không theo luật vần, không theo luật bằng, trắc,
không có âm tiết đều nhau trong một câu. Còn nhịp thơ, những chỗ ngắt hơi, những
tiết tấu cũng không theo những quy luật có sẵn ” Tuy tác giả không trực tiếp gọi tên
thể thơ đó nhưng lối thơ có “cấu trúc không đều đặn” kia chính là thơ tự do. Lối thơ
này, theo tác giả, đã mang thành công đến cho một số tác giả, tác phẩm: Người đàn bà
ngồi đan (Giải thưởng Hội nhà văn, năm 1986), Ngày thường của Ý Nhi; Lối nhỏ, Bài
mẫu giáo sáng thế của Dư Thị Hoàn, Lá của Văn Cao, Việt Bắc của Trần Dần, Cà
Mau của Trinh Đường, Maratong của Trúc Thông, Những khối tình câm của Vân
Long Kết bài là một dự báo đầy lạc quan: “Thế là bên cạnh những bài thơ làm theo
những thể có sẵn ngày càng cải tiến lại mở ra thêm một lối đi ngày càng rộng cho thơ”.
Năm 1997, Vũ Tuấn Anh với chuyên luận Nửa thế kỉ thơ Việt Nam 1945-1995
(NXB Khoa học xã hội, 1997) đã đi tiếp ý “thơ đang mở ra nhiều hướng nhiều cách” ở
trên của Ngô Quân Miện: “Thơ sau 1975 và đặc biệt là mười năm trở lại đây không
quy tụ theo một hướng, một phạm vi đề tài hoặc một giới hạn hình thức nào )”. Tuy
nhiên, tác giả đã khái quát “Xu hướng chung của sự vận động hình thức là tính chất tự
do hoá, cá thể hoá và đa dạng hoá, thể hiện ở mọi cấp độ của hình thức thể loại ( )
Thơ tự do chiếm ưu thế, thậm chí, khái niệm “thơ tự do” đã không bao chứa hết sự

cực khiến cho thơ tự do ngày một đa dạng, phong phú, thành thục hơn.
- Thứ hai, thơ tự do sẽ còn được tiếp tục phát triển đi lên trở thành một thể thơ
chính của nền thơ Việt Nam hiện đại. Nó đang mở ra “một lối đi ngày càng rộng cho
thơ ca”.
- Thứ ba, tuy có rất nhiều ý kiến bàn về thơ tự do, đặc biệt thơ tự do sau 1975
được giới nghiên cứu phê bình chú ý nhưng nó chưa trở thành đối tượng nghiên cứu
chuyên biệt của một công trình nào. Phần lớn tài liệu liên quan đến đề tài này mà
chúng tôi nắm được mới chỉ là những bài báo, tham luận, một mục trong chuyên luận.
Do vậy, đối tượng nghiên cứu hiện lên sơ lược, hạn hẹp, chưa được triển khai sâu
rộng. Chính vì thế, chúng tôi thực hiện đề tài luận văn này nhằm bổ khuyết cho những
gì còn bỏ trống, đi vào những bình diện cụ thể, chi tiết của đối tượng, trên cơ sơ đó
nâng đối tượng lên tầm bao quát vĩ mô, xứng đáng với tầm vóc mà nó phải có. Đồng
thời việc nghiên cứu về thơ tự do ở một giai đoạn được coi là thăng hoa nở rộ của nó
có lẽ là rất cần thiết để chúng ta thấy được phần nào đó diện mạo của cả một giai đoạn
thơ trong thời kì đổi mới – thời kì văn học Việt Nam đang trên đường hội nhập và phát
triển.
4. NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ chính của luận văn là phác họa lại diện mạo của thơ tự do trong giai đoạn
1975 – 2000 từ các khuynh hướng phát triển cho tới những tìm tòi cách tân về hình
thức nghệ thuật như : hình ảnh, ngôn ngữ, nhịp điệu, cấu trúc văn bản
Thơ tự do ra đời không phải là trò chơi thuần tuý về hình thức, mà là kết quả của ý
thức nghệ thuật mang tính tự giác cao của các nhà thơ, đáp ứng những đòi hỏi của thời
đại và nhu cầu của cuộc sống. Chính vì vậy, luận văn sẽ cố gắng làm sáng tỏ vấn đề:
đổi mới hình thức nghệ thuật trong đó có đổi mới thể thơ cũng chính là đổi mới tư duy
nghệ thuật của các nhà thơ để chiếm lĩnh đối tượng phản ánh.
4.2. Phương pháp nghiên cứư
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê: Thống kê các bài thơ sáng tác bằng thể thơ tự do nhằm
có một cái nhìn khái quát về thể thơ này trong giai đoạn văn học 1975 – 2000.

Vấn đề thể loại cho đến nay ở Việt Nam vẫn là vấn đề còn nhiều tranh cãi. Các
nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm được tiếng nói chung, thống nhất khi xem xét khái niệm
này, mặc dù thể và loại hay thể loại vốn là những từ được dùng khá phổ biến. Nói đến
thể, ta thường quan niệm nó thiên về hình thức như: Thể 2 chữ, 3 chữ, thể lục bát
Rộng hơn, ta có thể chia thành: Thể thơ không vần, thể thơ có vần Cách phân chia
này tương đối quen thuộc trong giới nghiên cứu văn học nhưng về thực chất chúng
không được phân chia trên cùng một hệ thống tiêu chí. Khái niệm thể đã vậy, khái
niệm loại còn phức tạp hơn. Loại vốn rộng hơn thể, bản thân một loại có thể bao hàm
nhiều thể khác nhau. Xét trên tiêu chí nội dung, ta có loại thơ trữ tình, loại thơ trào
phúng Theo tiêu chí phương pháp sáng tác, ta có thể chia thành thơ lãng mạn hay thơ
cách mạng Chi tiết hơn, chia ra thơ trữ tình chính trị, trữ tình công dân, thơ chính
luận, thơ châm biếm, đả kích Rõ ràng cách phân chia này cũng không hoàn toàn
thống nhất với nhau về tiêu chí. Từ trước đến nay đứng trước một thể, loại hay kiểu lối
thơ nào đó, chúng ta thường hay gọi một cách trực quan, thay vì dựa trên những căn cứ
khoa học nhất định. Thói quen ấy ban đầu như một người qua đường xa lạ nhưng rồi
theo dòng chảy thời gian nó trở thành người bạn vô cùng thân thiết mà đôi khi bản thân
người trong cuộc không ý thức được đầy đủ, đúng đắn.
Sở dĩ có những mối chồng chéo trong quan niệm và cách thức phân loại về thể,
loại cũng như thể loại như trên là do chúng ta có một quá trình tiếp thu và ảnh hưởng
lâu dài từ nhiều nền văn hoá khác nhau. Hơn một ngàn năm Bắc thuộc đã để lại những
dấu ấn sâu sắc trong quan niệm, tư tưởng của biết bao thế hệ người cầm bút. Các nhà
Nho được đào tạo từ cửa Khổng sân Trình để có một chỗ đứng nơi sân rồng đều tự tu
dưỡng mình theo đạo lý Nho giáo và tìm đến những thể thơ khuôn mẫu nhằm làm
phương tiện “tải đạo”. Ngoài các thể thơ đặc biệt như: song điệp, vĩ tam thanh, thủ vĩ
ngâm, hồi văn, yết hậu, liên hoàn thì thể thơ cổ phong và Đường luật là hai thể thơ
được dùng hết sức phổ biến. Suốt gần một thiên niên kỉ, hệ thống thể loại của văn học
Trung Hoa đã thâm nhập và thống soái trên thi đàn thơ ca Việt. Chính vì thế, hệ thống
thể loại ấy cho đến nay vẫn tìm thấy chỗ đứng vững chắc trong dòng chảy văn học dân
tộc. Sang đến đầu thế kỉ XX, khi tiếp xúc với văn hoá Tây phương, con người Á Đông
cảm thấy ngỡ ngàng, bàng hoàng khi lần đầu tiên đối diện và chiêm ngưỡng chân dung

Hoặc ngợi ca một cách ngắn gọn hơn như Keats – nhà thơ Anh thế kỉ XVIII: “Thơ
phải cao nhã, kín đáo, thấm thía vào tâm hồn mà không làm cho sửng sốt, ngạc nhiên”.
Và đã là người yêu thơ chắc chẳng ai có thể quên được tiếng lòng thảng thốt của
Raxum Gamzatôp : “Thơ ca, nếu không có người tôi đã mồ côi” Có lẽ, mỗi người
sáng tác thơ cũng như mỗi người đọc thơ lại tự tìm thấy cho riêng mình những quan
niệm về thơ khác nhau bởi thi ca muôn đời vẫn là tiếng nói của cảm xúc tâm hồn mà
thế giới tâm hồn ấy lại đa dạng, phong phú và kì diệu biết bao! Từ sự phong phú trong
quan niệm về thơ như thế, chúng ta có thể tạm thời chia thành ba xu hướng chính đó
là: xu hướng thi vị hoá, trần tục hoá và thần bí hoá thơ. Sự tạm thời phân chia này dù
sao cũng chỉ mang tính chất tương đối và cũng không thể tránh khỏi những bất đồng
trong quan niệm của các nhà nghiên cứu ở các thời kì khác nhau.
Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta không thể tìm ra những tiêu chí để mô
tả thể loại thơ. Bởi trong các phạm trù văn học, thể loại là phạm trù tương đối ổn định,
bền vững. M. Bakhtin nói đến “kí ức thể loại” như là “cái khuôn mẫu rắn chắc nhất
định đã đúc kết kinh nghiệm nghệ thuật”, lưu cữu, tiếp nối, truyền từ đời này sang đời
khác. Như vậy, mặc dù có sự chồng chéo, phức tạp trong quan niệm về thể loại thơ
nhưng chúng ta hoàn toàn có thể gạn đục khơi trong để tìm thấy những yếu tố chung,
đồng nhất hình thành nên thể loại. Từ đó, thiết nghĩ góp phần quan trọng vào công
việc nặng nhọc mà vinh quang – sáng tạo thơ và nghiên cứu thơ.
Trước tiên, cần phải khẳng định rằng thể loại là một phạm trù mang tính hình
thức. Đây có lẽ là thuật ngữ mà chúng ta du nhập từ văn học Trung Quốc. B.L.Riftin
đã chứng minh được: “Bản thân khái niệm “thể loại” trong khoa nghiên cứu văn học
Trung Quốc đương đại được truyền đạt qua từ “thể tài”, trong đó “thể” nghĩa đen là
“thân thể”, “hình thức”. Cùng với từ này người ta dùng các thuật ngữ khác như “văn
thể”, theo nghĩa đen là “thân thể văn học”, “hình thức văn học”. Những khái niệm này
mới chỉ xuất hiện trong thế kỉ XX, nhưng bảo lưu trong chúng thành tố “thể”, tức là
“thân thể”, vốn đã được sử dụng theo nghĩa đó từ thời viễn cổ”[5, 24]. Theo nghiên
cứu của nhà khoa học thì: Trong một chứng tích văn tự đầu tiên của người Trung
Quốc – Kinh sử (Thượng Thư hay là Thư Kinh) ta gặp câu : “Từ thiện thể thuộc” (Lời
tuyệt đẹp mà thể lệ thuộc). Từ cái nôi của nền văn minh phương Đông – Trung Hoa

luôn vận động, biến đổi. Có thể nói mỗi một giai đoạn, một trào lưu văn học đều gắn
liền với sự phát triển, lên ngôi thậm chí hình thành nên một thể loại nhất định. Không
có một nền văn học nào, một giai đoạn văn học nào được coi là phát triển mà lại đơn
điệu, nghèo nàn về thể loại. Ngoài ra, thể loại còn mang tính lịch sử và dân tộc, tính kế
thừa và sáng tạo. Dấu ấn lịch sử bao giờ cũng in đậm nét trên chân dung mỗi thể loại.
Chẳng thế mà Bakhtin đã khẳng định: “Thể loại vừa rất cổ sơ nhưng luôn luôn mới
mẻ. Nó vừa muốn quên mình là ai đi nhưng luôn nhắc nhở những người khác nhớ về
gốc gác của nó”. Có những thể loại chỉ tồn tại ở một giai đoạn nhất định trong lịch sử
và “một đi không trở lại bao giờ”. Ví như nền nghệ thuật cổ đại Hy Lạp mặc dù rất
huy hoàng nhưng nó chỉ gắn liền với thời đại chưa có bàn in và máy in. Hình tượng
Asin không thể tồn tại trong thời đại có thuốc súng và đạn chì. Nhân loại không có một
cơ hội thứ hai như trước”(K. Marx). Trong quá trình phát triển, mỗi một dân tộc lại có
những thể loại tiêu biểu phù hợp với ngôn ngữ, văn hoá của dân tộc đó. Người ta biết
đến thơ Haikư của Nhật Bản, tiểu thuyết chương hồi và thơ Đường của Trung Quốc
cũng như thể lục bát và song thất lục bát ở Việt Nam. Những thể loại này tạo nên nét
đặc sắc, góp phần gìn giữ hồn thiêng dân tộc của mỗi quốc gia đồng thời cũng tạo nên
những giá trị truyền từ đời này qua đời khác. Mỗi một thể loại ấy trong quá trình phát
triển lại không ngừng vận động để tự hoàn thiện chính mình. Vì vậy, thể loại có sự kế
thừa truyền thống quá khứ đồng thời cũng luôn tìm đến con đường của sự sáng tạo
không mệt mỏi. Và cũng chính trên con đường sáng tạo ấy, mỗi thể loại cũng không
ngừng tiếp thu, ảnh hưởng những ưu điềm nổi trội của các thể loại khác tạo nên tính
chất giao thoa. Ranh giới giữa các thể loại vì vậy đôi khi chỉ mang tính chất tương đối.
Chúng ta đã khá quen thuộc với những thể loại mang tính cầu nối ngay từ trong tên gọi
như: thơ văn xuôi, kịch thơ, tiểu thuyết phóng sự
Thể loại vốn động, không nhất thành bất biến. Sự vận động của thể loại cho thấy
sự vận động trong tư duy nghệ thuật, sự thay đổi của quan niệm và đối tượng thẩm mỹ,
thị hiếu thẩm mỹ của mỗi thời kì. Mặc dù các ý kiến về thể loại văn học cho đến nay
vẫn còn nhiều vấn đề phức tạp nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng đó là
một phạm trù mang tính hình thức, là dạng thức tồn tại của chỉnh thể tác phẩm văn
học; nó mang trong mình những đặc tính như: Tính ổn định bền vững, tính vận động

trong những cấu trúc ngôn ngữ dưới sự điều khiển của tâm thức văn hoá mang tính
riêng biệt của mỗi một dân tộc. Thêm vào đó, mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sử lại
thường lựa chọn sử dụng những thể loại thích hợp mà ở đấy chúng ta có thể thấy được
sự vận động trong tư duy sáng tạo của người nghệ sĩ. Sự vận động này thể hiện ở nhiều
cấp độ khác nhau như: Quan niệm về mối liên hệ giữa thơ và cuộc sống, thái độ của
nhà thơ với cuộc đời, tư thế bộc lộ cảm xúc của nhà thơ Như vậy, thể thơ không phải
là một phạm trù thuần tuý hình thức mà bản thân nó hàm ẩn ý nghĩa của nội dung.
Thực tế cho thấy, các sáng tác thơ ca không phải bao giờ cũng theo một thể thức
như nhau. Bản thân mỗi một nhà thơ cũng không tuyệt đối trung thành với một hình
thức biểu hiện nhất định. Trái lại, tùy theo xu hướng thẩm mỹ hoặc nhu cầu biểu đạt nội
dung mà có thể lựa chọn những thể thức khác nhau, chặt chẽ hoặc không chặt chẽ.
Chặt chẽ có nghĩa là ở đó mọi yếu tố tạo nên thể thơ đều được thể hiện theo quy tắc và
luật lệ ổn định trở thành khuôn khổ, thể thức hằng thường. Còn không chặt chẽ tức là
được tự do trong việc lựa chọn từ ngữ cũng như vần điệu phụ thuộc vào từng người
sáng tác. Các thể thức tuân theo những quy tắc và luật lệ bắt buộc được gọi là các thể
thơ cách luật. Còn các thể thức không tuân theo những quy tắc tổ chức ngôn từ thơ ca
cố định, lặp đi lặp lại trong các tác phẩm xưa nay vẫn được gọi bằng một cái tên giản
dị như chính bản thân nó: Thơ tự do. Như vậy, thơ tự do thường được đặt trong thế đối
sánh với thơ cách luật để làm nổi bật đặc trưng, bản chất của nó về vần thơ, nhịp thơ,
số chữ, số câu trong một bài thơ.
Đây là ví dụ về một bài thơ tự do:
Em hẹn tối nay không trở lại
Để trời đổ mưa khắp thành phố tìm em
Mưa thắp nghìn ngọn nến giữa trời đêm
Mưa xum xuê nỗi lòng anh buồn nhớ
Mưa đập choang choang mọi cửa ô thành phố
Mưa thét gào mưa gọi em em
( ) Chưa hết đêm
Chưa gặp em
Cơn mưa xuyên bóng tối

Thơ tự do có lợi thế cho người viết khơi nguồn, bộc lộ cảm xúc mạnh, nhưng
cảm xúc triền miên, xô bồ quá sẽ dẫn đến sự lan man, dàn trải. “Người làm thơ đâm ra
nói nhiều mà người đọc cảm thấy mông lung, rất khó nắm bắt. Vậy, ngoài cảm xúc
trào tuôn ra, người làm thơ phải biết tiết chế cảm xúc của mình, giống như người cưỡi
ngựa giỏi, phải vượt qua những cánh đồng, đỉnh núi để về nơi mình cần đến. Nếu để
lỏng dây cương, con ngựa bất kham kia sẽ phi nhanh mà không biết điểm dừng ”[51].
Nguyễn Xuân Nam cũng đồng ý kiến: “Ta thường thấy những người làm thơ tự do
thành công chính là những người rất am hiểu thơ luật, có khiếu thẩm mỹ tốt, biết tự
kiềm chế”.
Như vậy, muốn phát triển tốt, thơ tự do cũng phải chú ý đầy đủ đến nghệ thuật
luyện chữ, luyện câu, nghệ thuật cấu tứ, đến truyền thống thơ Việt. Cần phải nhắc lại
lời của nhà thơ Xuân Diệu : “Tự do không có nghĩa là muốn làm gì thì làm”
1.2.2. Một vài đặc điểm của thơ tự do
Trong cuốn Từ điển văn học ( bộ mới) của nhà xuất bản Thế Giới 2004, các tác
giả đã định nghĩa về thơ tự do: “ Một trong ba hình thức cơ bản xét về phương diện tổ
chức ngôn ngữ (thơ cách luật, thơ tự do, thơ văn xuôi), thơ tự do không bị ràng buộc
vào những quy tắc định trước nào như thơ cách luật về số dòng, số chữ, niêm, đối,
vần Mạch thơ có thể liên tục hoặc ngắt ra từng khổ. Số dòng trong khổ không nhất
định. Số chữ trong từng dòng có thể nhiều ít khác nhau. Cách gieo vần cũng rất linh
hoạt, không nhất thiết dòng nào cũng phải hiệp vần. Nói chung, thơ tự do là thơ phân
dòng nhưng không theo một thể thức nhất định”[88, 1692]. Còn trong cuốn Thơ ca
Việt Nam – hình thức và thể loại, các tác giả Hà Minh Đức và Bùi Văn Nguyên cho
rằng: “ Thơ tự do không phải là một hình thức ổn định, một cấu trúc cách luật của thi
ca. Thực ra thì trong tiến trình phát triển của các thể thơ, hướng vận động tất yếu của
hình thức thơ sẽ dẫn đến thơ tự do, một cấu trúc thơ xoá bỏ hết mọi sự ràng buộc bên
ngoài về số câu trong bài, số chữ trong câu rồi hiệp vần, chỉ còn một nguyên tắc là
phải có chất nhạc, hài hoà gợi cảm về ngôn từ và nằm trong quỹ đạo của thơ ca”[56,
123-124].
Như vậy, các nhà nghiên cứu mặc dù diễn đạt theo những cách thức khác nhau
nhưng đều thống nhất ở việc chỉ ra những đặc điểm tiêu biểu nhằm nhận diện thể thơ tự

Sông nước Cửu Long dào dạt
Dừa nghiêng bóng mát
Thơm ngọt, xoài ngon
Tươi rói đất son
Rừng cao su xanh non thẳng tắp
Bắp mẩy, mía giòn
Bát ngát Tây Nguyên vẫy gọi
Nào trai tài gái giỏi
Lại đây!
Khai phá, dựng xây
Trên trận địa năm xưa, rạch những đường cày mới
( Với Đảng mùa xuân – Tố Hữu)
Cũng có những bài thơ không chia khổ:
Làm bà mẹ ở Việt Nam thực chẳng dễ dàng
Đâu dạy con hái hoa, đâu dạy chúng xuống hầm
Ai dạy cho con hòa âm của chim và của nhạc
Ta phải dạy cho chúng phân biệt tiếng những B, những AD và những F rít gầm
Hỡi Đức Bà!
Suốt một nghìn chín trăm sáu mươi sáu năm. Bà luôn được bế con
Bà biết chăng các bà mẹ Việt Nam hàng tháng héo hon
Bởi phải ngủ xa con mình đi sơ tán
Có những thời chỉ cần dạy sao cho con mình nên người
Có những thời phải làm thêm tý nữa
Dạy cho chúng trở nên anh hùng, đấy là việc làm của bà mẹ quê tôi
( Làm bà mẹ ở Việt Nam – Chế Lan Viên)
Lại có một số bài thơ gây ấn tượng với thị giác của người đọc bằng hình dáng đặc
biệt:
Em là con gái đồng xanh
tóc dài
vương hoa lúa

phân dòng. Ở thơ tự do, dòng thơ là đơn vị cấu thành nhịp điệu (dù câu thơ có thể kéo
dài mấy chục âm tiết), còn thơ văn xuôi, đơn vị đó là đoạn thơ, gồm nhiều dòng thơ hợp
lại.
Tuy nhiên, tiêu chí trên chỉ có ý nghĩa tương đối vì trong thực tế, có nhiều bài thơ
mà đơn vị cấu tạo nhịp điệu là dòng thơ lại được xếp vào thơ văn xuôi. Đây là ý kiến
của Lưu Khánh Thơ: “Thời kì thơ Mới 1932 – 1945 có một số bài thơ văn xuôi như :
“Tình già” (Phan Khôi), “Giọt sương hoa” (Phạm Văn Hạnh), “Giọt mưa rơi”, “Thanh
khí” (Nguyễn Xuân Sanh) Ngay từ đầu thời kì kháng chiến chống Pháp đã xuất hiện
những bài thơ văn xuôi như bài “Đêm mít tinh” của Nguyễn Đình Thi, “Nhớ” của
Hồng Nguyên, “Nhớ máu” của Trần Mai Ninh. Đặc biệt là có cuộc tranh luận về thơ
không vần (một cách gọi khác của thơ văn xuôi) của Nguyễn Đình Thi”. Những
trường hợp khác như thơ của W.Whitman (Tập Lá cỏ), thơ của Chế Lan Viên (Cành
phong lan bể, nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ ). Có người xếp vào thể loại thơ tự do
nhưng cũng có ý kiến cho rằng đó là thơ văn xuôi. Như vậy phải chăng ngoài tiêu chí
dòng thơ còn có tiêu chí nào khác phân định giữa thơ tự do và thơ văn xuôi. Hữu Đạt
có lý khi ông cho rằng cách tổ chức câu của thơ văn xuôi giống với cách tổ chức câu
trong văn xuôi, có nhiều lớp lang, có sự trùng điệp về cấu trúc, sử dụng nhiều thành
phần mở rộng, thành phần liên kết.
Theo chúng tôi nghĩ, dù căn cứ và tiêu chí này hay tiêu chí khác thì cũng không
nên dựa vào đó để phân định một ranh giới tuyệt đối giữa thơ tự do và thơ văn xuôi. Vì
“thơ văn xuôi là đỉnh phát triển cao nhất của thơ tự do” (Hữu Đạt).
Nếu hiểu thơ tự do như là một thể thơ cởi bỏ mọi ràng buộc về vần luật thì thơ văn
xuôi chính là thể thơ “văng ra xa nhất” khỏi những quy phạm đó. Vì vậy, phải thừa
nhận giữa thơ tự do và thơ văn xuôi có những điểm giao thoa nhất định và chúng ta
cũng không nên quá cứng nhắc khi “xếp chỗ” cho hai thể thơ này.
Trong khuôn khổ có hạn của luận văn, chúng tôi chỉ đi sâu khảo sát trường hợp thơ tự
do. Trong thế đối sánh với thơ văn xuôi, thơ tự do vẫn có những khuôn khổ nhất định. Vì vậy
trong trường hợp này thiết nghĩ nội hàm của hai chữ “tự do” chỉ mang tính chất tương đối.
thành thơ, còn hình thức, vần điệu tự nó không thành thơ được. Trong Tuỳ viên thi
thoại, Viên Mai cho cái gốc của thơ ca là ở chỗ miêu tả cảnh ngộ tính tình và linh cảm
cá nhân:
Chịu khó tìm thơ sẽ có thơ
Tâm linh điểm ấy chính thầy ta
Phê phán lối thơ học vấn của ông Phương Cương, ông cho là “nhồi sách nhét
điển, tử khí đầy cả trang giấy, thế mà vẫn khoe là sâu rộng”. Đối với thuyết “cách
điệu” của Thẩm Đức Tiềm, ông viết : “Thơ há có cách cố định hay sao? Cách của
Quốc Phong khác với Nhã Tụng, lời ca của Cao Vũ khác với “ba trăm bài”, thơ của
Hán Ngụy Lục triều khác với thơ tam Đường, kẻ đề ra cách sẽ theo cách nào?”; “ngựa
gỗ, rồng đất, đều có thể cách, sao chết cứng không dùng được thể?”. “Thơ có thể cách
mà không có hứng thú là con trâu đất vậy”, “phải có tính tình trước rồi cách luật sau, cách
luật không ở ngoài tính tình. “Ba trăm bài” quá nửa là của người lao động, của người vợ
nhớ thương, tự nhiên nói lên sự tình của mình. Ai làm cách cho? Ai làm luật cho?”[49].
Đời Minh có văn phái mệnh danh là “Đường Tống”, chuyên tôn sùng thơ văn
Đường Tống. Viên Mai nói: “Thơ không có cái gọi là Đường, Tống. Đường, Tống chỉ là
quốc hiệu của một thời, không liên quan gì đến thơ. Thơ là tính tình của mỗi người, không
liên quan gì với Đường, Tống. Nếu ai khư khư giữ lấy thì lòng anh chỉ mang cái quốc
hiệu đã mất, chứ không có được tính tình, do đó cũng mất đi cái hướng gốc của thơ
ca”[49].
Thuyết tính tình của Viên Mai chủ trương lấy tình làm gốc, phê phán mọi thứ
cách luật, khuôn khổ, sáo rỗng khiến tình không được “chân thực”. Nếu tính tình cần
chân thực thì cũng phải được biểu hiện một cách linh hoạt, không thể cứng đờ trên
trang giấy. Có thể nói, đó là một quan niệm tiến bộ về thơ ca đương thời, đề cao một
lối thơ tự do cốt để biểu hiện một cách thành thực nhất tâm tính của mỗi người.
Tư Không Đồ, một nhà thơ, nhà phê bình nổi tiếng ở Trung Quốc sau này đã
tiếp nối và phát triển quan niệm thơ của Viên Mai. Với Thi phẩm, ông cho rằng thơ ca
là sự mở đầu cho việc diễn đạt nội tâm và trạng thái tinh thần. Hai câu thơ đầu tiên:
Đại dụng ngoại bài
Chẩn thể nội sung

lâu. Vào khoảng thế kỉ thứ XVI, thơ tự do xuất hiện trong ngôn ngữ nhân vật kịch với
vai trò của Mác – lô ( 1564- 1593) và đặc biệt sau đó là Uyliam Sêxpia (1564 -1616) –
người được coi là “ thiên nga sông Êvơn”, là “người vung ngọn dáo” làm “ náo động
kịch trường” ở Anh thời kì Phục Hưng. Với thể thơ tự do, lời thoại của nhân vật trong
kịch trở nên phóng túng, thoải mái, nhân vật có thể bộc lộ mọi trạng thái cảm xúc: yêu
thương, thù hận đến giận dữ, chua xót, đắng cay Ngay trong lời giáo đầu của vở bi
kịch Rômêô và Juliet, ta đã bắt gặp thể thơ này:
Ngày xưa, ở thành Vêrôna tươi đẹp
Có hai nhà thuộc dòng thế phiệt trâm anh
Mối thù xưa bỗng gây cảnh bất bình
Máu lương thiện khiến tay người lành nhuộm đỏ
Số phận éo le, thâm thù hai họ
Lại khéo xui sinh hạ đôi tình nhân
Mối tình si thê thảm muôn phần
Chôn câu hận, chỉ còn đành một thác
Tình lứa đôi thảm thương tan nát
Trên xác con cha mẹ mới quên thù
Chuyện thương tâm trình diễn đôi giờ
Xin quý vị rán xem và chiếu cố
Sức mọn, tài hèn, chúng tôi xin gắng trổ
Cũng có khi thể thơ xuất hiện cuối vở kịch như một lời nhận định, bày tỏ thái độ
của người nghệ sĩ:
Xin bốn vị tướng quân
Hãy khiêng Hamlet như khiêng một người chiến sĩ
Đặt lên long sàng
Bởi chưng nếu lên ngôi trị vì
Người ắt chứng tỏ là một đấng quân vương cao quý nhất
Khi rước người đi
Nhạc binh và nghi thức dành cho người chiến sĩ
Sẽ tấu lên vì người khúc tráng sĩ ca

Sang đến thế kỉ XX, các nhà thơ hiện đại chủ trương kêu gọi một thứ thơ tự do,
dân chủ, phát huy cao độ cá tính sáng tạo của nhà thơ. Ở Mỹ, W. Whitman là “người
tiên khu” của thơ hiện đại với tinh thần dân chủ, thể thơ tự do. Tập thơ “Lá cỏ” của
ông ngay từ khi mới ra đời đã gây “sốc” cho dư luận bởi tính “tự do” từ nội dung đến
hình thức của nó. Nhà thơ Tiệp Khắc Vitexlap Nedoval (1900 – 1958) cũng có một
quan niệm thơ hoàn toàn tự do: “Không có sai lầm nào tệ hại hơn là vạch ra những
phương án nghệ thuật áp dụng cho các nhà thơ. Mỗi người trong họ có một thứ nhạc
cụ riêng với những vang hưởng riêng và tâm trạng riêng không giống với những người
khác”. Bởi mỗi nhà thơ là một bản thể, một cá tính sáng tạo không lặp lại nên không
thể có một sơ đồ nghệ thuật áp dụng chung cho họ. A.Robbe.Grillet đã phát biểu ý
kiến: “Hình thức nghệ thuật là sáng tạo chứ không phải là công thức”. Sự sáng tạo ấy
phải thật đặc sắc, phong phú, muôn hình vạn trạng, do đó không thể có một khuôn mẫu
cố định. Hình thức thơ tự do sẽ giúp các nhà thơ thực hiện mọi ý tưởng nghệ thuật độc
đáo của mình, theo sát những biến chuyển của thời đại. Pablô Nêruda (1904 – 1973)
một nhà thơ Chi Lê nổi tiếng về thơ tự do, thể hiện quan điểm : “Tôi ủng hộ mọi thể
nghiệm trong thơ: Cần giúp cho những người đi sau chúng ta có thể thử thách trong
các lĩnh vực của thơ. Mỗi thể loại trong nghệ thuật cần luôn luôn được đổi mới về mặt
hình thức. Nền văn học mỗi thế kỉ cần biết vượt qua những thế kỉ trước. Nó không thể
mặc mãi chiếc áo sườn rách. Trong những yếu tố làm nên kinh nghiệm nghệ thuật, có
những yếu tố mất đi nhưng cũng có những yếu tố còn mãi. Cả trời lẫn quỷ dữ đều
không thể đưa ra một công thức nên viết thơ thế nào”. Theo Nêruda, đổi mới về mặt
hình thức là điều kiện để phát triển thi pháp thơ qua các thời đại. Do đó, thơ cần có
những tìm tòi, thể nghiệm, luôn luôn đổi mới, luôn luôn sáng tạo. Thơ tự do là một
trong những thể nghiệm của các nhà thơ hiện đại phương Tây và đã đưa họ đến thành
công. Apollinaire (1880-1918), nhà thơ Pháp gốc Ba Lan, người khởi xướng chủ nghĩa
siêu thực, rất yêu chuộng thể thơ tự do, vì “thơ tự do không vần, cho tha hồ buông
phóng tâm tình”. Bài thơ Nhạc sĩ của nhà thờ Thánh Merry là một trong những bài thơ
nổi tiếng của ông, nổi tiếng vì sự kỳ bí, nổi tiếng về những thể nghiệm táo bạo, trong
đó, ông chủ trương xoá nhòa ranh giới giữa thơ và văn xuôi, giải phóng câu thơ khỏi
những dấu chấm, dấu phẩy. Trong một bức thư gửi Henry Martineau, Apollinaire

Ở Việt Nam, vào khoảng thế kỉ XVI – khi bắt đầu xuất hiện thể thơ tự do trên thế
giới thì nền văn học của chúng ta đang ở thời kì trung đại với các thể thơ hầu hết được
vay mượn từ Trung Quốc như: ngũ ngôn tứ tuyệt, thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú,
ngũ ngôn cổ phong Ngoài ra, các nhà thơ cũng sáng tác theo thể thơ lục bát hoặc
song thất lục bát, là những thể thơ của dân tộc, lắng đọng tiếng nói và tâm hồn Việt
Nam. Nhưng tất cả các thể thơ này đều phải tuân theo những quy tắc tổ chức ngôn từ
cố định, lặp đi lặp lại trong các tác phẩm. Hay nói cách khác, đây đều là những thể thơ
cách luật. Thời kì văn học trung đại với những thể thơ “ khuôn vàng thước ngọc” như
thế ở Việt Nam kéo dài từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XIX, tạo nên một thời kì dài nhất
trong lịch sử văn học dân tộc. Trong văn học Việt Nam giai đoạn này, hầu như chúng
ta không thể tìm ra được một bài thơ phá cách. Đây đó có những câu thơ đi tìm hình
thức biểu hiện khác biệt nhưng cũng không thể xem đó là sự xuất hiện của thể thơ tự
do. Chẳng hạn vào thế kỉ XV, chúng ta bắt gặp những câu thơ lục ngôn xen thất ngôn
trong thơ Nôm Nguyễn Trãi. Có bài câu lục ngôn chiếm số lượng ít hơn câu thất ngôn:
Thân nhàn dầu tới dầu lui, (6)
Thua được bằng cờ ai kẻ đôi (7)
Bạn cũ thiếu đâu đèn liễn sách, (7)
Tính quen chăng kiếm trúc cùng mai (7)
Cày chống tuyết ngâm đòi cảnh, (6)
Cuốc chơi xuân khắp mọi đồi (6)
Con cháu mựa hiền nô bộc tiện (7)
Nghìn đầu cam quýt ấy là tôi (7)
( Ngôn chí – Bài 12)
Nhưng cũng có bài câu lục ngôn chiếm số lượng chủ yếu:
Đủng đỉnh chiều hôm dắt tay, (6)
Trông thế giới phút chim bay (6)
Non cao, non thấp, mây thuộc, (6)
Cây cứng, cây mềm, gió hay (6)

Trích đoạn thức nghệ thuật của người cầm bút CÁC KHUYNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THƠ TỰ DO 1975 – 2000 Khuynh hướng tiếp nối thơ tự do truyền thống Cấu trúc hình thức bài thơ Cấu trúc hình thức câu thơ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status