ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ MINH
THƠ DƯƠNG THUẤN DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS LÊ VĂN LÂN
Hà Nội – 2012
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Lịch sử vấn đề 3
3.2 Biểu tượng văn hóa trong thơ Dương Thuấn 61
3.2.1 Bản Hon 62
3.2.2 Núi 64
3.2.3 Sông 67
3.2.4 Nước 70
3.2.5 Trăng 73
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT TRONG THƠ
DƯƠNG THUẤN 78
4.1 Ngôn ngữ 78
4.1.1 Mối quan hệ ngôn ngữ - văn hóa 78
4.1.2 Ngôn ngữ trong thơ Dương Thuấn 80
4.2 Giọng điệu 88
4.2.1 Giới thiệu về giọng điệu 88
4.2.2 Giọng điệu trong thơ Dương Thuấn 90
KẾT LUẬN 100
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn học là sản phẩm của một quá trình văn hóa, nó phản ánh đời sống
xã hội, cải tạo cuộc sống con người và lưu giữ, lưu truyền văn hóa ngàn đời.
Đất nước Việt Nam bao gồm 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc có một bản sắc
văn hóa riêng được cấu thành từ hàng ngàn, hàng vạn thành tố văn hóa đặc
trưng cho dân tộc mình như: lịch sử, ngôn ngữ, hoạt động kinh tế, các phong
tục tập quán, trang phục, quan hệ cộng đồng…Vì thế một sản phẩm tinh thần
do cả dân tộc hoặc cá nhân thuộc dân tộc đó sáng tạo nên đều ít nhiều thể hiện
bản sắc văn hóa của chính dân tộc mình. Mặt khác, bản sắc văn hóa dân tộc
ấy còn được thấm đẫm trong văn học hơn khi chính người nghệ sĩ sáng tác tự
nguyện trở thành sứ giả văn hóa cho dân tộc mình: “Một dân tộc có nền văn
hóa phát triển thì phải có những đại diện văn hóa. Chính những đại diện văn
của cá nhân tác giả và đời sống của quê hương xứ Tày. Sinh ra ở bản Hon, đi
khắp trăm nơi nhưng dù đi đâu, về đâu thì Dương Thuấn vẫn đau đáu về bản
Hon quê mình, vẫn nhớ những mái nhà, nhớ cái bậc cầu thang, rặng đá Mèo,
đèo mây phủ, những tên núi tên sông và những con người xứ Mây. Xin mượn
lời tác giả Uông Thái Biểu để khẳng định tính dân tộc bền bỉ trong thơ Dương
Thuấn: “Dù hạ sơn về phố đã hàng chục năm, Thuấn vẫn là con người “của
đồng bào mình”. Nếu xét chữ “tha hóa” theo nghĩa hẹp thì Dương Thuấn là
con người không dễ gì đánh rơi cái cốt, cái lõi trong tâm hồn mình”[44].
Và như vậy chúng tôi chọn khảo sát thơ Dương Thuấn dưới góc nhìn
văn hóa nhằm làm rõ hơn bản sắc văn hóa Tày trong phong cách thơ ông. Từ
đó góp phần khẳng định những đóng góp đặc sắc của nhà thơ vào tiến trình
thơ ca dân tộc Việt Nam hiện đại.
3
2. Lịch sử vấn đề
Mặc dù là nhà thơ thuộc thế hệ thứ ba nhưng các công trình, bài nghiên
cứu, bình luận về thơ Dương Thuấn đã xuất hiện nhiều trên các tạp chí nghiên
cứu văn học và các ấn phẩm văn hóa văn nghệ. Nhìn chung có thể chia các
bài viết đó thành hai loại sau:
Thứ nhất là các bài cảm nhận, bình thơ về một số bài thơ đơn lẻ tiêu
biểu của Dương Thuấn. Chúng tôi xin liệt kê một số bài viết mà trong quá
trình thực hiện đề tài chúng tôi có tra cứu, tham khảo: cảm nhận về bài thơ Đi
tìm bóng núi có bài của các tác giả như: Nguyễn Trọng Tạo, Bùi Việt Phương,
Lê Lanh, Đoàn Thục Nhi; cảm nhận về bài thơ Kìa thảo nguyên đẹp thế của
Thi Nguyễn, Gửi thơ mường Dôn của Đào Vĩnh, Ăn theo nước của Bế Kiến
Quốc, Cái lý đáng yêu của chàng trai Mông đi tìm vợ của Lê Nhật Ký, Bài
hát tỏ tình của Lê Quốc Hán, Nhớ chị Thìn – một bài thơ độc đáo của Hồ
Thủy Giang, Về bản – một cái nhìn triết học của Đỗ Thu Huyền, Cực tình của
Lò Ngân Sủn, Đọc Chia trứng công của Phùng Ngọc Diễn.
Thứ hai là các bài nghiên cứu, phê bình đối với một tập thơ hoặc tuyển
tôi cho rằng đây là các tập thơ hội tụ những bài thơ tiêu biểu, đặc sắc nhất cho
phong cách thơ Dương Thuấn.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, người viết phác họa lại diện mạo thơ Dương Thuấn
nhưng đặc biệt nhấn mạnh vào sự ảnh hưởng của văn hóa vùng đến sáng tác
của ông. Cách thức tiến hành của chúng tôi không theo cách đi vào từng tác
phẩm cụ thể để nhận diện đặc điểm thơ Dương Thuấn mà sẽ thâu tóm những
tác phẩm cùng đề tài, chủ đề, tư tưởng để đưa ra kết luận nhằm phục vụ mục
đích nghiên cứu của luận văn. Trong khi thực hiện đề tài nghiên cứu này, tôi
đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu:
5
- Thống kê, nêu số liệu: số lượng các bài thơ cùng chủ đề, cảm hứng,
các hình ảnh được lặp đi lặp lại trong các bải thơ khác nhau.
- So sánh: so sánh nội dung, cảm hứng nghệ thuật, hình thức biểu hiện,
nhịp điệu, ngôn ngữ, hình ảnh thơ của Dương Thuấn với thơ của các tác giả
khác khi viết cùng về một đề tài.
- Phân tích: phân tích nội dung, hình thức của những dẫn chứng thơ.
Phân tích những lí luận về thơ để phục vụ cho các luận điểm của luận văn.
- Thi pháp học: nhằm nghiên cứu hình thức nghệ thuật, chỉ rõ đặc trưng cơ
bản tạo nên phong cách của tác giả.
- Văn hóa học: nhằm chỉ ra bản sắc văn hóa dân tộc trong các sáng tác của
tác giả.
- Liên phương pháp: có sự kết hợp của các phương pháp khi trình bày một
luận điểm như thống kê kết hợp nêu số liệu sau khi phân tích, so sánh. Sử dụng
phương pháp văn hóa học cùng phương pháp phân tích cấu trúc ngôn ngữ.
5. Mục đích, ý nghĩa, đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình khảo sát về thơ Dương Thuấn từ góc nhìn văn
hóa. Kết quả nghiên cứu của luận văn hy vọng sẽ đem lại một cái nhìn khái
quát, đầy đủ hơn về thơ Dương Thuấn, từ đó thấy được những tìm tòi, đổi
CHƯƠNG 1
THƠ DƯƠNG THUẤN TRONG MẠCH NGUỒN VĂN HÓA TÀY
1.1 Mối quan hệ văn hóa – văn học
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Ở Việt Nam và trên thế giới có nhiều cách định nghĩa khác nhau về
khái niệm văn hóa. Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc cho rằng: “Văn hóa
là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc
người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này
mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất
chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu
hiện thành một kiến thức lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các
kiểu lựa chọn của cá nhân hay các tộc người khác”[17, tr.17]. Giáo sư, Tiến
sĩ Trần Ngọc Thêm xác định cụ thể: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá
trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt
động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và
xã hội” [30, tr.10]. Nhà nhân loại học phương Tây E.B.Taylo lại định nghĩa:
“Văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo
đức, pháp luật, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có
được với tư cách là một thành viên của xã hội” [40, tr.8].
Văn hóa là sản phẩm của con người, là kết quả của sự tiến hóa nhân
loại. Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và
khác biệt so với những con vật khác trong thế giới động vật. Tuy nhiên để
hiểu về khái niệm “văn hóa” đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó
có những định nghĩa khác nhau về văn hóa. Ngay trong bản thân khái niệm
văn hoá cho đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi do đứng ở nhiều góc độ khoa
học khác nhau để nghiên cứu. Tựu chung, xét về mặt biểu hiện, văn hoá là
một hiện tượng xã hội mà không phải là hiện tượng tự nhiên và nó thuộc về
8
giá trị tinh thần. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa
triển. Tiếp thu những cái ngoài hệ thống đến một mức độ nào đó, yếu tố văn
học sẽ không còn phù hợp với hệ thống văn hóa nữa, nó chống lại hệ thống,
làm cho hệ thống phải thay đổi cùng nó. Ở nước ta không ít công trình nghiên
cứu văn học đi sâu vào tìm hiểu bản sắc dân tộc trong văn học Việt Nam, xem
bản sắc dân tộc như là phẩm chất của văn học, và cũng có không ít những
công trình nghiên cứu văn hoá xem trọng dẫn liệu văn học như những dấu
hiệu, những tiêu chí góp phần làm sáng tỏ đặc điểm văn hoá, bản sắc văn hoá
của dân tộc. Có thể kể tên những thành tựu mới mẻ, đầy triển vọng của một số
công trình nghiên cứu văn học theo hướng tiếp cận từ văn hóa học như công
trình nghiên cứu của Đỗ Thị Minh Thuý – Mối quan hệ giữa văn hoá và văn
học (1997), Trần Ngọc Vương – Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn
chung (1997), Đỗ Lai Thuý - Từ cái nhìn văn hoá (1999), Trần Nho Thìn –
Văn học trung đại Việt Nam dưới cái nhìn văn hoá (2007)…
Văn học với tư cách là một bộ phận của tổng thể văn hóa, một yếu tố
của hệ thống văn hóa thì không thể và không có quyền qua mặt hệ thống để
tiếp xúc thẳng hoặc tác động trực tiếp đến hệ thống xã hội mà phải gián tiếp
qua hệ thống văn hóa và chỉ “quan hệ” được với hệ thống xã hội thông qua
văn hóa. Như vậy, khung nghiên cứu văn học cũng phải là khung văn hóa.
Trong quan hệ với chuyên ngành nghiên cứu văn học, văn hoá học xem xét
văn học từ góc độ văn hoá học nghệ thuật có tính bao quát hơn là chỉ đi sâu
vào văn học. Trong mối quan hệ với văn hóa học, nghiên cứu văn học và văn
hoá học có nhiều điểm tương đồng về quan điểm phương pháp luận, nhưng
vẫn khác nhau về cơ bản như: tính giá trị, tính nhân sinh, tính lịch sử, tính dân
tộc… của đối tượng đều được hai ngành quan tâm xem xét. Nghiên cứu văn
hoá học và nghiên cứu văn học đều coi trọng quan điểm hệ thống trong tiếp
10
cận đối tượng, đều quan tâm đến tính thống nhất trong đa dạng của đối tượng.
Nếu như xem xét từ góc độ thời gian, văn hoá học có văn hoá sử, nghiên cứu
văn học có văn học sử. Nếu xem xét từ góc độ không gian, văn hoá học có
điểm về tính tương tác của các hệ thống văn hoá, về góc nhìn văn hoá trong
nghiên cứu đối tượng đặc thù. Lý luận về sự giao thoa giữa văn học và văn
hoá trong lý luận văn học thế giới được giới thiệu khá phong phú ở nước ta
cũng là một trong những cơ sở giúp nghiên cứu văn học ngày càng khám phá
những chiều kích văn hoá trong đời sống năng động của văn học nước nhà.
1.2 Vài nét về văn hóa vùng Việt Bắc và văn hóa dân tộc Tày
1.2.1 Văn hóa vùng Việt Bắc
Dân tộc Tày thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái sống chủ yếu ở các tỉnh
miền núi phía Bắc (vùng văn hóa Việt Bắc) như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc
Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang… Bản thân văn hóa Tày đã có
một bản sắc dân tộc riêng nhưng trước hết vì thuộc vùng văn hóa Việt Bắc
nên ít nhiều văn hóa Tày có sự ảnh hưởng của văn hóa vùng. Cư dân chủ yếu
của vùng Việt Bắc là người Tày và người Nùng, ngoài ra, còn một số dân tộc
ít người như: Dao, H’mông, Lô Lô, Sán Chay.
Đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Việt Bắc có những nét cơ bản
giống các khu vực khác. Về tín ngưỡng tôn giáo, tín ngưỡng dân gian của cư
dân Tày- Nùng hướng niềm tin của con người đến thần bản mệnh, trời đất, tổ
tiên. Họ thờ nhiều thần linh như thần sông, thần núi, thần đất. Ngoài ra, còn
có các ông vua, Giàng Then cũng được dân tộc nơi đây kính cẩn thờ phụng.
Diện mạo tôn giáo Việt Bắc cũng có những nét khác biệt. Các tôn giáo như
Khổng giáo, Phật giáo, Đạo giáo đều ảnh hưởng đến đời sống tâm linh của
người Việt Bắc. Tam giáo được cư dân Việt Bắc tiếp nhận gần giống người
Việt nhưng ở mức độ thấp hơn và kết hợp với tín ngưỡng vật linh vốn có
12
trong đời sống dân gian. Về chữ viết, vào giai đoạn cổ đại, cư dân ở đây
không có chữ viết; sang giai đoạn cận đại thì có chữ Nôm và giai đoạn hiện
đại thì chữ Nôm tồn tại song song với chữ Latinh. Cũng chính vì vậy, nét
đáng chú ý là cư dân Tày – Nùng ở Việt Bắc đã có những nhà văn viết bằng
chữ viết dân tộc khá sớm như Hoàng Đức Hậu, Nông Quốc Chấn, Bàn Tài
nghiệp này đã tạo nên những biểu tượng văn hóa trong tín ngưỡng dân tộc
Tày như tục thờ nước, thờ Mẹ Hoa, thờ thần lúa. Người dân thường ở chân
núi hay ven suối. Tên bản thường gọi theo tên đồi núi, đồng ruộng, khúc sông.
Họ sống thành bản làng đông đúc, mỗi bản có từ 15 đến 20 nóc nhà, nhiều
bản có tới hàng trăm nóc nhà. Dân tộc Tày còn có tên gọi là Thổ ở Việt Bắc,
hoặc Phén (tức là Phiên) ở Hải Ninh; nhưng tên “Tày” đúng hơn cả và được
nhân dân Tày xác nhận.
Gia đình người Tày thường quý con trai hơn và có quy định rõ ràng
trong quan hệ giữa các thành viên trong nhà. Vợ chồng yêu thương nhau, ít ly
hôn. Đã từ lâu dân tộc Tày không còn tục ở rể. Nam nữ được tự do yêu
đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng không lại tùy thuộc vào bố
mẹ hai bên và số mệnh của họ có hợp nhau không. Vì thế trong quá trình đi
tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá só của cô gái về so với lá số của con
mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày
sinh nở mới về hẳn bên nhà chồng.
Người Tày thường mặc quần áo vải bông nhuộm chàm. Cái độc đáo
đáng quan tâm của trang phục Tày không phải là lối dùng màu chàm phổ
biến, đồng nhất trên trang phục nam và nữ cũng như lối mặc áo lót trắng bên
trong áo ngoài màu chàm. Nhiều tộc người cũng dùng màu chàm nhưng còn
trang trí các màu khác trên trang phục, ở người Tày hầu như các màu ngũ sắc
được dùng trong hoa văn mặt chăn hoặc các tấm thổ cẩm. Và “áo chàm” đã
14
trở thành một hoán dụ phổ biến xuất hiện nhiều trong thơ văn để chỉ đồng bào
dân tộc Tày nói riêng hoặc các cư dân Việt Bắc nói chung.
Đồng bào Tày có một nền văn hóa tín ngưỡng sâu đậm ngay từ thời kỳ
khởi nguyên, và được tiếp tục phát triển theo những xu hướng linh động cho
đến hiện tại (có nhiều điểm tương đồng văn hóa tín ngưỡng vùng Việt Bắc –
đã trình bày ở trên). Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên, ngoài ra còn thờ
cúng thổ công, vua bếp, bà mụ, Mẹ Hoa, lúa. Hàng năm có nhiều lễ tết với
bản không vui, vì theo quan niệm của họ, phải có người tung còn trúng vòng
tròn làm rách giấy thì năm đó làm ăn mới thuận lợi, mưa thuận gió hoà. Trong
trò chơi này, nam nữ thanh niên thi tung còn cho nhau. Ngoài ra còn có các
hoạt động múa sư tử, múa võ, kéo co Ðặc biệt, đêm về, nam nữ thanh niên
thi hát lượn đối đáp suốt canh dài
Người Tày có một nền văn nghệ cổ truyền phong phú, đủ các thể loại
thơ ca, múa, nhạc…. Nhiều làn điệu dân ca nổi tiếng như lượn, phong slư,
phuối pác, phuối, rọi, vén eng… Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then,
lượn nàng ới… là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng.
Đồng bào Tày thường lượn trong Hội Lồng Tồng, trong đám cưới, mừng nhà
mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương
có múa rối bằng gỗ khá độc đáo. Tục ngữ, ca dao chiếm một khối lượng đáng
kể. Các điệu dân ca phổ biến nhất là hát lượn, hát đám cưới, ru con.
Bên cạnh những nét văn hóa trên, nền văn học dân gian Tày còn là kho
tàng về các loại thần thoại, truyện cổ, truyện thơ, dân ca… tiêu biểu là truyện
Quả bầu, Thạch Sanh, Cẩu Khây, Phú Lương Quân, Báo Luông – Sao Cải,
Khảm hải (Vượt biển) …
Từ những điều vừa tìm hiểu về đặc điểm văn hóa của dân tộc Tày như
trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng: mỗi một dân tộc đều mang trong mình
16
những dấu ấn văn hóa tạo nên đặc sắc của dân tộc đó. Bản sắc văn hóa hay
truyền thống dân tộc là quá trình chọn lọc, tích lũy qua nhiều thế hệ. Nếu
một dân tộc không có bản sắc, không tiếp thu truyền thống thì văn hóa dân
tộc đó chỉ là hư vô. Do đó việc phát hiện, gìn giữ và phát huy truyền thống
văn hóa của từng dân tộc theo hướng ngày càng hiện đại nhưng vẫn giữ
được dấu ấn riêng là vấn đề ý nghĩa, mang tính thời sự, cập nhật. Trên đây là
một số đặc trưng văn hóa nổi bật của cư dân vùng Việt Bắc và dân tộc Tày.
Những đặc trưng văn hóa này sẽ là tiền đề hữu ích giúp chúng tôi triển khai
đề tài Thơ Dương Thuấn dưới góc nhìn văn hóa có cơ sở thực tế và sức
gả trong hôn nhân, thể hiện quyền khao khát thay đổi số phận của người
nghèo khổ.
Về thể loại dân ca, có thể nói dân ca gắn liền trong đời sống sinh
hoạt, tín ngưỡng của người Tày nhiều và quan trọng nhất so với các thể
loại văn học khác. Dân ca Tày có ba dòng đặc trưng: dân ca giao duyên,
dân ca nghi lễ và dân ca tín ngưỡng. Dân ca giao duyên phong phú về thể
loại như phong slư, lượn, phuối pác (hát đối đáp)…thường được các đôi
trai gái sử dụng khi tìm hiểu nhau, do đó làn điệu thường ngân nga nhấn
nhá vang xa trong không gian thể hiện tâm trạng, tình cảm, nỗi nhớ nhung.
Phong slư là những bức thư tình, một thể thơ hết sức đặc sắc của trai gái
Tày. Bức thư này viết bằng chữ Nôm Tày trên nền vải sa tanh đỏ. Phong
slư nói về cung bậc tình cảm của những người đang yêu. Khi là tiếng nói
thủ thỉ tâm tình. Lúc hóa thành dòng thác nhớ nhung tha thiết. Tình yêu
nam, nữ thể hiện trong phong slư thường là tình yêu trong xa cách, trắc trở,
tan vỡ. Bởi vậy tiếng hát, giai điệu phong slư thường buồn da diết. Tuy
nhiên nó không hề bi lụy kêu than mà vẫn luôn sáng lên những ước mơ
lãng mạn, nhân văn.
18
Hãy tu thân chờ nhau bên ấy
Dẫu là không lấy được cũng cam
Yêu nhau để khắp mường được thấy
Tiếng thơm sẽ trọn vẹn mai sau
Tới trăm năm khi về âm phủ
Ta rủ nhau về chốn mường hơn
Lượn là một bộ phận thuộc loại hình nghệ thuật dân ca sinh hoạt của
người Tày. Lượn có nhiều tiểu loại, ngoài hai loại cơ bản là lượn cọi và lượn
slương, người Tày còn có lượn Then, lượn nàng Hai, lượn khắp,… Trong cái
nhìn đối sánh với văn hóa dân tộc Kinh, lượn là lối hát giao duyên có thể
tương tự như lối hát quan họ ở Bắc Ninh, loại dân ca này có giai điệu vang xa
học dân gian của người Tày. Sự đa dạng về thể loại, đề tài và nội dung phản
ánh thể hiện đời sống tinh thần phong phú của đồng bào. Đây cũng là một
trong những giá trị văn hóa dân tộc cần được giữ gìn và phát huy qua các thế
hệ. Nó sẽ là bản sắc dân tộc, là nền tảng văn hóa, văn học vững chãi cho các
nhà văn nhà thơ sau này kế thừa và tiếp nối.
1.3.2 Văn học viết Tày
Do hệ thống chữ Nôm Tày xuất hiện khá sớm so với các dân tộc khác
(thế kỷ XV) nên nền văn học viết của người Tày đã sớm phát triển. Mỗi giai
đoạn đều có những thành tựu chung, đều ghi dấu ấn độc đáo của từng gương
mặt như các tác giả thời trung đại Lê Thế Khanh (1389-1460), Nông Quỳnh
Vân (1565-1640), Bế Hữu Cung (1757-1820), Hoàng Ích Viêng (1890-1945)
đến các tác giả thời hiện đại như Hoàng Văn Thụ (1906-1944), Nông Quốc
Chấn (1923-2002), Nông Minh Châu (1924-1979), Triều Ân, Vi Thị Kim
Bình, Ma Trường Nguyên, Y Phương, Mai Liễu, Triệu Lam Châu, Đoàn
Ngọc Minh, Triệu Thị Mai, Đoàn Lư, Dương Thuấn, Vi Thùy Linh…
20
Thời kì trước Cách mạng tháng Tám 1945, văn học dân tộc thiểu số nói
chung cũng như văn học Tày nói riêng thường tồn tại dưới loại hình văn học
dân gian. Phải đến sau Cách mạng, văn học các dân tộc thiểu số nói chung
mới bắt đầu phát triển với dấu ấn của cá nhân. Đội ngũ sáng tác văn học
người Tày được hình thành và phát triển trong số đó có một số tác giả đã trở
thành đại thụ hay hiện tượng trong nền văn học Việt Nam. Đầu tiên phải kể
đến lớp nhà văn nhà thơ trưởng thành từ kháng chiến chống Pháp, là những
người đặt nền móng đầu tiên cho văn học Tày hiện đại như: Nông Quốc Chấn,
Nông Minh Châu, Nông Viết Toại, Hoàng Triều Ân.
Trước hết về tác giả Nông Quốc Chấn – người anh cả của nền thơ ca
dân tộc thiểu số nói chung và thơ ca dân tộc Tày nói riêng. Ông được xem là
người dân tộc thiểu số đầu tiên: “mang hơi thở của núi rừng Việt Bắc vào thi
ca” là “cánh chim đầu đàn của những người làm văn học cách mạng của các
với Triều Ân,1963), tiểu thuyết Muối lên rừng (1964), tập truyện và ký Tiếng
chim gô (1979), trường ca tiếng Tày Cưa khửn đông (1967), Tuyển tập Nông
Minh Châu (2003), Thơ Nông Minh Châu tuyển chọn (2005). Nhưng, theo
đánh giá của nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam thì Nông
Minh Châu là một trong những người viết trường ca sớm nhất trong lịch sử
văn học ông còn là một trong những người đặt viên gạch đầu tiên cho văn
xuôi dân tộc thiểu số.
Văn xuôi thời kỳ Cách mạng của văn học Tày còn ghi dấu cây đại thụ
Hoàng Triều Ân. Ông tham gia hoạt động Cách mạng từ năm 1943 và là
người lãnh đạo Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng trong nhiều năm. Thông
thường một người trời phú cho giỏi làm thơ nhưng khó thành công trong sáng
tác truyện nhưng Hoàng Triều Ân lại thành công cả trong hai lĩnh vực. Vào