Địa danh ở ninh thuận và bình thuận dưới góc nhìn văn hóa học - Pdf 50

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------

Nguyễn Thị Thu Thủy

ĐỊA DANH Ở NINH THUẬN VÀ BÌNH THUẬN
DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 62317001

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2018


Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học:
TS. Lý Tùng Hiếu
TS. Đinh Thị Dung

Phản biện độc lập 1:
Phản biện độc lập 2:

Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:

ISSN 868 – 331X, trang 66.
7. “Đặc trưng văn hóa trong ca dao địa danh ở Ninh Thuận – Bình
Thuận”, Tạp chí Văn hóa & Nguồn lực số 6 (2)/2016 (ISSN 23530907), Trường Đại học Văn hóa TP.HCM, trang 63-67.
8. “Địa danh chỉ nghề nghiệp: một đặc trưng văn hóa của người Việt ở
Bình Thuận”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học sư phạm TP.HCM
số 14(5)/ 2017, ISSN 1859-3100, trang 93-102.
9. “Đặc trưng văn hóa trong các địa danh gắn với nghề nghiệp của
người Việt ở Bình Thuận”, Tạp chí Nghiên cứu văn hóa ĐH Văn hóa
Hà Nội số 21 tháng 9/2017, ISSN 0866 – 7667, trang 39-45.
10.“Địa danh phản ảnh tín ngưỡng của cư dân ở Ninh Thuận, Bình
Thuận”, Tạp chí Văn hóa & Nguồn lực số 11 (3)/2017 (ISSN 23530907), Trường Đại học Văn hóa TP.HCM, trang 25-30.
1.


1
DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài
Ninh Thuận và Bình Thuận là vùng đất tập trung sinh sống của tộc
người Chăm từ lâu đời cùng với tộc người Việt, K’ho, Raglai, và Hoa... Với
những đặc điểm phong phú về địa hình vừa có núi đồi, đồng bằng và biển
đảo, NTBT còn có truyền thống lịch sử lâu đời, từ cư dân Chăm nối tiếp cư
dân Việt, đã tạo nên một diện mạo văn hóa đặc sắc độc đáo in dấu trong rất
nhiều địa danh, thu hút nhiều nhà nghiên cứu, nhiều du khách trong và
ngoài nước đến tham quan, tìm hiểu. Nghiên cứu địa danh ở NTBT từ góc
nhìn văn hóa học sẽ góp phần làm sáng rõ các đặc trưng văn hóa, nhân sinh
quan, thế giới quan, cách thức tri nhận, ứng xử, cải biến môi trường tự
nhiên và xã hội trong quá trình sinh tồn của các tộc người trên mảnh đất
này. Việc nghiên cứu giá trị, ý nghĩa của địa danh NTBT còn có tác dụng
lưu giữ, trao truyền, giáo dục cho các thế hệ trẻ tri thức lịch sử, truyền
thống dân tộc để thêm yêu quý, tự hào về quê hương mình.

thần của những người tạo ra nó; có mối liên hệ với văn hóa vật chất… Tất
cả được bảo quản trong nền tảng cơ sở của tên riêng và trong các phương
thức cấu tạo địa danh.
Đây là những công trình tổng hợp, trình bày toàn diện kết quả nghiên
cứu địa danh, cập nhật những kết quả nghiên cứu mới, có giá trị lớn trong
việc đẩy nhanh sự phát triển của địa danh học, xác lập cơ sở lý luận: đối
tượng nghiên cứ, phương pháp phân loại, phương pháp nghiên cứu…
Các nhà địa danh học Anh, Mỹ đã ít nhiều tiếp cận địa danh từ góc độ
văn hóa khi cho rằng cách đặt địa danh phổ biến nhất là dựa vào hình dạng
của đối tượng, đặc trưng quan trọng nhất của đối tượng, theo tên những
người nổi tiếng hay được cả cộng đồng tôn trọng, ngưỡng mộ, có khi tên
gọi tưởng nhớ đến một sự kiện, một truyền thuyết hay một câu chuyện liên
quan đến vùng đất đó.
Paul Woodman trong The Great Toponymic divide Reflections on the
definition and usage of endonyms and exonyms lấy tiêu chí tri nhận luận
của chủ thể đặt địa danh, góp cho ngành địa danh học một hướng phân loại
mới, đó là Nội danh (Endonym) và Ngoại danh (Exonym).
Tamara V. Khvesko (2014) trong “Interdisciplinary Approach to British
Place-Names Studies” nghiên cứu địa danh nước Anh từ cách tiếp cận liên
ngành bằng cách sử dụng dữ liệu của văn hóa, lịch sử và địa lý.
Nhìn chung, các học giả Anh, Mỹ khi nghiên cứu về địa danh học đều
tập trung phân tích lớp tên riêng của địa danh thông qua từ nguyên dân
gian, đặc trưng địa lý, lịch sử, cung cấp cái nhìn sâu sắc có giá trị về địa lý
lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa của một vùng đất.
2.2. Tình hình nghiên cứu địa danh trong nước
Trong di sản văn hoá Việt Nam đã có nhiều tài liệu địa chí viết về các
địa danh khắp cả nước. Tuy nhiên, việc nghiên cứu chuyên biệt về địa danh
thì ra đời khá muộn. Trong các tài liệu được công bố gần đây, Mối liên hệ
về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông của Hoàng Thị
Châu (1966) đã khai mở hướng nghiên cứu địa danh từ góc độ ngôn ngữ

danh cũng như chỉ ra được một số đặc trưng văn hóa thể hiện qua địa danh
của mỗi địa bàn như đặc trưng về địa văn hóa, về ngôn ngữ tộc người, về
sự tồn tại của di sản vật thể và phi vật thể trong địa danh.
Gần đây, một số luận văn cao học đã bắt đầu tiếp cận địa danh từ góc độ
văn hóa. Nhìn chung, các tác giả đã thống kê, phân loại và tìm hiểu những
giá trị văn hóa qua địa danh trên địa bàn mình nghiên cứu dưới góc nhìn
thời gian, không gian, chủ thể văn hóa và hoạt động của chủ thể văn hóa.
Ngoài ra, nhiều từ điển địa danh được tập hợp theo tiêu chí văn hóa, du
lịch, thắng cảnh, hành chính, từ nguyên... Đây là những tác phẩm đồ sộ, tập
hợp rất nhiều thông tin về địa danh trên khắp cả nước, có giá trị tham khảo
lớn với những ai yêu thích tìm hiểu lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ. Các công
trình này góp thêm cho luận án phương diện lý luận nghiên cứu địa danh.
2.3. Các công trình nghiên cứu liên quan đến địa danh ở Ninh
Thuận và Bình Thuận
Các công trình nghiên cứu lịch sử, ngôn ngữ, dân tộc và văn hóa vùng
đất NTBT nói chung và dân tộc Chăm nói riêng, nhìn chung, đã tập hợp địa
danh vùng NTBT và lý giải dưới một vài góc độ khác nhau. Tuy còn tản


4
mác, nhưng các công trình này đã giúp cho luận án về phương diện lý luận,
bổ cứu tư liệu, phương pháp nghiên cứu. Tài liệu thuộc nhóm này gồm:
Lê Quang Định trong Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Nguyễn Đình
Đầu trong Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn – Bình Thuận, Nguyễn Đình Tư
với Non nước Ninh, Lâm Quang Hiền trong Bản sắc truyền thống Bình
Thuận qua các địa danh hành chính - lịch sử - cách mạng - kháng chiến dân gian trên địa bàn thành phố Phan Thiết (2005), Địa chí Bình Thuận
(2006), Nghiên cứu địa danh tỉnh Bình Thuận của Nguyễn Văn Phụng, Địa
danh tỉnh Ninh Thuận – Xưa và nay do Đình Hy chủ biên (2016)… đã cung
cấp tri thức, tư liệu, số liệu cũng như cách tiếp cận cho luận án.
Một số bài báo khoa học gần đây tập trung bàn thảo về nguồn gốc một

5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: mối tương quan giữa văn hoá với địa danh và
những nội dung văn hoá được tàng trữ trong tập hợp địa danh ở NTBT.
Phạm vi không gian: địa bàn hai đơn vị hành chính cấp tỉnh Ninh Thuận
và Bình Thuận nằm ở cực Nam Trung Bộ.
Phạm vi thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu tư liệu trong phạm vi
thời gian từ năm 1693 trở về sau vì theo sử sách, năm 1693, vùng đất cuối
cùng của Champa ở NTBT được nhập vào lãnh thổ Đàng Trong, đặt làm
trấn Thuận Thành. Từ đó, người Chăm đã trở thành một bộ phận trong cộng
đồng cư dân Đại Việt. Sự hiện diện của cư dân Việt đến khai cơ lập nghiệp
đã làm cho địa danh vùng này thay đổi một cách mạnh mẽ.
5. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu
Tập hợp địa danh ở NTBT gồm có những loại nào là địa danh chỉ đối
tượng địa lý tự nhiên và địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân tạo?
Văn hóa được thể hiện trong địa danh NTBT như thế nào? Những nội
dung nào trong văn hóa được các địa danh tập trung phản ánh, nội dung nào
ít hoặc không được địa danh phản ánh?
Một bức tranh văn hóa được vẽ nên bằng các địa danh NTBT sẽ có độ
tin cậy và phù hợp với thực tiễn đến đâu?
Giả thuyết nghiên cứu
Địa danh và văn hóa là một nên địa danh phản ánh toàn bộ nền văn hóa
của các tộc người, cái gì có trong văn hóa đều được địa danh phản ánh.
Địa danh và văn hóa là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau nên địa danh
không phản ánh văn hóa hoặc chỉ phản ánh một cách mờ nhạt.
Địa danh và văn hóa có quan hệ mật thiết với nhau, địa danh phản ánh
văn hóa trên một số phương diện nào đó mà không thể hiện toàn bộ nền văn
hóa của một tộc người.
Địa danh là sản phẩm của sự tương tác giữa con người với môi trường

góp phần xác định việc nghiên cứu địa danh có giá trị ứng dụng đến mức
độ nào trong nghiên cứu văn hóa tộc người, văn hóa địa phương và làm rõ
mối quan hệ, sự tác động qua lại giữa địa danh và văn hóa.
Về mặt thực tiễn: Luận án mô tả một bức tranh tổng thể về địa danh
NTBT từ một góc nhìn kết hợp giữa địa danh học với văn hóa học, giúp tìm
hiểu đặc trưng văn hóa đa tộc người qua cách thức định danh.
Số liệu thống kê và phân loại địa danh, kết quả nghiên cứu trong luận án
có thể được sử dụng như tài liệu tham khảo.
8. Bố cục luận án
Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án
gồm các chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Không gian văn hóa thể hiện trong địa danh ở NTBT
Chương 3: Lịch sử văn hóa thể hiện trong địa danh ở NTBT
Chương 4: Chủ thể văn hóa thể hiện trong địa danh ở NTBT
Chương 5: Hoạt động văn hóa thể hiện trong địa danh ở NTBT


7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1. Khung lý thuyết
-Địa danh học (toponymy)
Địa danh học nghiên cứu về lịch sử hình thành, sự biến đổi và chức
năng của địa danh từ hai góc độ tiếp cận: lịch đại và đồng đại. Địa danh là
đối tượng nghiên cứu lâu đời của địa danh học với những thành tựu nổi bật
trên thế giới được Lê Trung Hoa kế thừa và xác lập một số vấn đề mà người
nghiên cứu địa danh cần quan tâm: phân loại và định nghĩa địa danh,
nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu, các phương thức đặt địa danh, cấu

thành tố cũng hoàn toàn mang tính chủ quan, ước định và tương đối.
Dựa trên cơ sở dữ liệu đã thu thập và xử lý được, trên cơ sở kết hợp các
lý thuyết nghiên cứu nêu trên, chúng tôi vận dụng một mô hình hệ thống cấu trúc văn hóa thể hiện trong địa danh ở NTBT gồm: không gian văn hóa,
lịch sử văn hóa và giao lưu tiếp biến văn hóa, chủ thể văn hóa, các hoạt
động, sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể.
Bức tranh văn hóa trong địa danh không phải được vẽ lại bằng phép
cộng của các thao tác luận của từng góc nhìn đơn lẻ mà đó là thao tác luận
của sự đan cài (nest), tương hỗ, sự “vượt gộp” của vận dụng phương pháp
tư duy hệ thống và “thông qua các quy luật tương tác bên trong hệ thống
cũng như của hệ thống với môi trường bên ngoài mà phát hiện ra những
thuộc tính hợp trội (emergence) mang đặc trưng toàn thể chứ không phải là
tính tổng hợp (aggregation) do các phần tử gộp lại.
-Tương đối luận văn hóa (cultural relativism)
Tương đối luận văn hoá là một lý thuyết do Franz Boas (1858-1942)
khởi xướng cho rằng các niềm tin, giá trị và hành động của một nền văn
hóa phải được hiểu dựa trên chính nó chứ không phải được xét đoán dựa
theo tiêu chuẩn nền văn hóa khác. Lý thuyết mới này cung cấp một phương
pháp luận cần thiết, một công cụ hữu hiệu để nghiên cứu sự đa dạng của
các nền văn hóa, các vùng văn hóa. Vì vậy, vận dụng tương đối luận văn
hoá vào việc nghiên cứu văn hoá trong địa danh là cần thiết và phù hợp bởi
nó giúp minh định và chấp nhận cách giải thích ý nghĩa của địa danh kể cả
theo hướng từ nguyên học dân gian phù hợp nhất để tìm ra những nét văn
hóa riêng biệt, đặc thù tạo nên tính đa dạng phong phú của văn hóa vùng
đất NTBT nói riêng và của nền văn hóa Việt nói chung.
Nhìn từ góc độ văn hóa học là cái nhìn đa chiều và liên ngành.
Địa danh có thể là đối tượng nghiên cứu của bất kỳ ngành khoa học nào.
Nếu địa chí học chỉ quan tâm đến thông tin về địa danh, sử học chú trọng
yếu tố, sự kiện lịch sử trong địa danh, địa lý học xem xét môi trường địa lý
trong địa danh, dân tộc học tìm hiểu nguồn gốc tộc người qua địa danh, địa
danh học nghiên cứu địa danh theo hướng: tập hợp – thống kê – phân loại –

độc đáo. Thậm chí văn hóa của một tộc người trong các không gian văn hóa
khác nhau và trong các thời kỳ khác nhau, cũng mang những nội dung, sắc
thái riêng biệt.
1.1.3. Quan hệ giữa địa danh và văn hóa
Địa danh và văn hóa có những mối quan hệ mật thiết, khắng khít với
nhau. Chúng tôi tiếp cận mối quan hệ này từ hai chiều. Trong hướng quan
hệ giữa địa danh và văn hoá, địa danh đều ít nhiều chuyển tải nội dung
văn hóa. Ở chiều hướng ngược lại, chúng tôi cũng nhận thấy rằng quan hệ
giữa văn hoá với địa danh không phải là quan hệ “một đối một”, mà là
quan hệ đặc biệt, quan hệ lệch pha, quan hệ giữa toàn thể với bộ phận. Do
văn hoá quá rộng lớn, không phải cái gì có trong văn hoá cũng được phản
ánh trong các địa danh. Ngay cả những sưu tập địa danh đầy đủ nhất cũng
không nói lên được toàn bộ không gian văn hoá, sự thật lịch sử hay thực
tiễn văn hóa của một vùng đất, một dân tộc. Như vậy, văn hóa bao trùm lên
địa danh, nhưng địa danh không thể bao trùm lên văn hóa.
Khi nghiên cứu địa danh từ góc nhìn văn hóa, luận án tập trung làm
sáng tỏ những nội dung văn hóa được tàng chứa trong các địa danh chính là


10
những yếu tố của môi trường văn hóa và hệ thống văn hóa, được sàng lọc
qua cái nhìn của chủ thể văn hóa khác nhau, tạo nên những bức tranh địa
danh đa dạng về ngôn ngữ và văn hóa trên một địa bàn.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Không gian văn hoá vùng đất Ninh Thuận và Bình Thuận
Ninh Thuận và Bình Thuận hiện là hai đơn vị hành chính và là một
không gian văn hóa nằm ở cực nam của vùng duyên hải Nam Trung Bộ,
diện tích tự nhiên khoảng 11.188,56km2 và một vùng lãnh hải rộng hàng
chục nghìn cây số vuông. Đây là khu vực vừa có núi rừng, đồng bằng,
biển đảo, khí hậu nhiệt đới, nhiều nắng, gió, khô nóng với hai mùa mưa


11
Theo đó, bên cạnh người Chăm với bề dày truyền thống văn hóa lâu đời
của cư dân bản địa là người Việt. Người Việt có mặt trên vùng đất này
khoảng ba bốn thế kỷ nay và đã trở thành một tộc người đa số với truyền
thống văn hóa mạnh mẽ, lâu đời, đặc sắc. Trên mảnh đất này họ là nguồn
lực và động lực chủ yếu của tiến trình lịch sử, kinh tế, văn hóa.
1.2.4. Kết quả thu thập và phân loại địa danh ở Ninh Thuận và Bình
Thuận
Chúng tôi đã tổng hợp được 103 loại địa danh với 4557 tên gọi, gồm 43
loại địa danh chỉ đối tượng địa lý tự nhiên với 1379 tên gọi; 60 loại địa
danh chỉ đối tượng địa lý nhân tạo với 3178 tên gọi. Chúng tôi sử dụng
chương trình Ecxel 2013 để phân loại địa danh theo 2 tiêu chí: theo địa
danh học và theo văn hóa học dựa trên các phạm trù văn hóa địa danh phản
ánh kết hợp với tiêu chí ngôn ngữ. Để tiện theo dõi và thống nhất về cách
viết địa danh tiếng Chăm, Raglai chúng tôi dùng phiên âm của Viện Viễn
Đông Bác cổ (EFEO: École française d'Extrême).
Khi tiến hành phân loại theo tiêu chí văn hóa học, nhiều địa danh không
phân loại được vì ý nghĩa tản mác không tập trung hoặc do hạn chế về thời
gian và tư liệu nghiên cứu, chúng tôi chưa xác định được ý nghĩa. Kết quả
phân loại theo tiêu chí văn hóa học xử lý được 3936 trên tổng số 4557 địa
danh thu thập được chiếm tỷ lệ 86,4%.
1.3. Tiểu kết
Trong chương 1, các vấn đề về lý thuyết nghiên cứu, khái niệm, phân
loại địa danh, khái niệm văn hóa, mối quan hệ giữa địa danh và văn hóa đã
được minh định. Lý thuyết nghiên cứu chủ yếu của luận án là tiếp cận liên
ngành địa danh học và văn hóa học: gồm lý thuyết hệ thống, địa văn hóa và
tương đối luận văn hóa.
Dải đất cực Nam Trung Bộ là cửa ngõ giao thương, buôn bán, với cả hai
miền Nam, Bắc, lại có một đường biển thuận lợi để thông thương quốc tế từ

đầm, động, đồi, gò, hồ, hòn, láng, núi, mũi, ruộng, nước, aia (trong tiếng
Chăm có nghĩa là nước), suối, biển, địa hình của cát, đá...
- Địa vật, địa mạo: tiểu nhóm địa danh này khá phong phú về mặt số
lượng và đa dạng về các đặc điểm đặc trưng của địa vật cho thấy chủ nhân
của vùng đất này đã quan sát và đặc tả cảnh quan một cách chi tiết sinh
động nhưng vô cùng thực tế và độc đáo qua 103 tên gọi, như bãi Đá Bảy
Màu, gò Sạn, núi Đá Chồng, mũi Đá Vách…
- Thổ nhưỡng: 21 địa danh chủ yếu là thuần Việt chỉ thổ nhưỡng của
vùng đất NTBT là địa danh dân gian. Để đặc tả thổ nhưỡng vùng đất này,
dân gian chủ yếu sử dụng các động từ chỉ hoạt động của địa hình xảy ra
trong tầm quan sát và tri nhận của họ như nổi, bay, nhảy, bồi, lở, đổ, trầm...,
như bàu Nổi, làng Cát Bay, đồi Cát Bay, gò Bồi...
2.2. Khí hậu, thuỷ văn thể hiện trong địa danh
Thủy văn, khí hậu tác động không nhỏ đến cuộc sống của con người
được thể hiện rõ nét qua cả thành tố chung và riêng. Để chế ngự và khắc
phục bất lợi của tự nhiên, từ bao đời nay người Chăm đã xây dựng rất nhiều
đập nước (65 con đập), khai thông kênh mương (65 kênh, mương); người
Việt tiếp nối người Chăm xây và cải tạo thêm nhiều hồ nước để phục vụ
nông nghiệp. Chế độ thủy văn khô hạn thể hiện khá rõ qua 49 địa danh chỉ
đặc trưng của hiện tượng này như cạn, cụt, thiêu, khô, lội (qua được), như
sông Cạn, suối Cạn, hồ Cụt, suối Khô, khe Nóng…


13
2.3. Động thực vật thể hiện trong địa danh
- Động vật: là một yếu tố vô cùng quan trọng bởi chúng đóng vai trò
thiết yếu trong đời sống vật chất và tâm linh con người. 54 tên gọi chỉ động
vật được chia làm 2 tiểu nhóm chính gồm động vật dưới nước và động vật
trên cạn. Với hệ động vật trên cạn, người Việt, người Chăm, người Raglai
thường chọn những con vật gần gũi với cuộc sống con người qua địa danh

hồng, xanh: núi Đá Trắng, xóm Đất Đỏ, hòn, Đỏ, gành Son…
Các dân tộc ở phương Đông có sự tri nhận vị trí và phương hướng dựa
trên sự quan sát lấy chính mình làm trung tâm để định vị đối tượng khác.
Địa danh ở NTBT cũng góp phần phản ánh cách thức tri nhận đó của các


14
tộc người qua 67 tên gọi chỉ vị trí (19) và phương hướng (48), chủ yếu là
tên gọi thuần Việt và Hán Việt: hòn Giữa, hòn Trước, hòn Sau, hòn Trong,
hòn Ngoài, huyện Hàm Thuận Bắc, huyện Hàm Thuận Nam…
Số lượng là đặc điểm tính chất vốn có của không gian văn hóa. Việc đặt
địa danh bằng các con số là một cách định danh khá đơn giản, tiện lợi, dễ
nhớ, như núi Hòn một, đảo Chín Làng, phố 30 Căn...
2.6. Tiểu kết
Địa danh phản ánh không gian văn hóa ở NTBT chiếm một tỷ lệ khá lớn
24%. Đó là các lớp địa danh chỉ đặc trưng địa hình, địa chất, địa bàn vừa có
rừng núi, đồng bằng và biển đảo qua các thành tố chung.
Ở lớp thành tố riêng mang giá trị khu biệt của địa danh, trường nghĩa chỉ
đặc trưng của địa hình khá đa dạng, phong phú; địa chất được kiến tạo chi
tiết, cụ thể, địa vật, địa mạo mang những nét riêng biệt với hình dáng và
kích thước độc đáo. Lớp địa danh này cũng cho biết đây là vùng đất khô
hạn, cằn cỗi vì thiếu nước tuy vẫn có hệ sinh thái động vật, thực vật tiêu
biểu của miền duyên hải Nam Trung Bộ.
Khi quan sát các đối tượng để định danh, chủ thể đặt tên gọi đã liên
tưởng đến hình dạng, kích thức quen thuộc gần gũi, màu sắc tươi sáng,
xác thực thể hiện lối tư duy trực quan, sinh động, lấy mình làm trung tâm
định vị.
Tóm lại, địa danh một mặt phác thảo khá sắc nét về không gian văn hóa
với những đặc trưng tiêu biểu, mặt khác phản ánh chủ thể đặt tên qua ngôn
từ sử dụng, qua tri nhận và lựa chọn các yếu tố độc đáo của môi trường tự

trình di dân diễn ra từ thế kỷ XVII, XVIII kéo dài đến đầu thế kỷ XX từ các
tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên.
- Sự thay đổi chính quyền: Chế độ chính trị là nguyên nhân dẫn đến sự
hình thành và biến đổi địa danh mạnh mẽ nhất. Đây cũng là nét chung của
tất cả địa danh trên lãnh thổ Việt Nam. Thời đại nào cũng vậy, khi mới lên
cầm quyền, chính quyền mới thường có xu hướng thay đổi một số địa danh
do ý muốn chủ quan muốn thể hiện quyền lực, vai trò và tầm nhìn của họ.
Từ khi sáp nhập vào Đại Việt năm 1693 đến nay, vùng đất này trải qua 4
giai đoạn thay đổi địa danh hành chính nhiều nhất:
- Giai đoạn chúa Nguyễn và nhà Nguyễn (1693-1883)
- Giai đoạn Pháp thuộc (1883 - 1945)
- Giai đoạn kháng chiến (1945 - 1975)
- Giai đoạn đất nước thống nhất
Có thể hình dung, giai đoạn chúa Nguyễn và nhà Nguyễn vùng đất
NTBT có sự thay đổi lớn về chia tách, sáp nhập, thay đổi tên gọi chủ yếu là
là tên đơn vị hành chính các cấp theo hướng Hán Việt hóa địa danh Chăm.
Giai đoạn Pháp thuộc để lại dấu ấn qua nhiều địa danh chỉ các công trình
xây dựng như đường, đèo, nhà ga ra đời, các khu thị tứ được thành lập, một
số địa danh Pháp được đặt mới hoặc thay cho địa danh Việt. Giai đoạn
kháng chiến có sự đan xen về tên gọi giữa hai chế độ quản lý là chính
quyền cách mạng và chế độ Mỹ ngụy tạo ra những lớp địa danh hành chính
khá phúc tạp trên cùng một vùng đất. Sau hòa bình thống nhất đất nước, địa
danh hành chính vẫn có sự xáo trộn lớn về việc tách nhập các tỉnh, huyện…
để phục vụ nhu cầu quản lý và phát triển.
Điều này thể hiện ranh giới cấp vùng ở Việt Nam không được coi trọng
nên tính ổn định của địa danh hành chính rất thấp.


16
- Sự di dân: Theo xu hướng nam tiến, hiện tượng di dân của người lao

- Hiện tượng mượn âm, lược âm: 26 địa danh
Kết quả của chúng là làm cho nhiều địa danh xuất hiện trong thời gian
gần đây là địa danh có nguồn gốc Chăm, Raglai, K’ho: thác Đa Mi, đồi cát/
phường Mũi Né, thôn Ya Hoa… Một số địa danh xuất hiện cho thấy có hiện
tượng ghép nối một âm tiết gốc Chăm như Hàm hay Phan với một yếu tố
Hán Việt khá thú vị.
- Biểu hiện đa tồn của địa danh


17
100 địa danh chủ yếu có nguồn gốc tiếng Chăm không có bất cứ quan
hệ gì về mặt âm hay nghĩa với địa danh Việt. Tuy nhiên, chúng vẫn có quan
hệ về mặt văn hóa, đó chính là hiện tượng “đa tồn” mà chủ yếu là “song
tồn”. Điều này chứng tỏ hiện tượng “đa tồn” của địa danh là tất yếu, phổ
biến trong quá trình cộng cư, giao lưu tiếp xúc ngôn ngữ - văn hóa của các
tộc người. Hiện tượng này diễn ra khi mỗi địa danh Chăm sẽ đi kèm với
một hoặc hai địa danh Việt, chủ yếu là địa danh Hán Việt và rơi vào trường
hợp tên palei nhiều nhất và một số tên gọi của đập, núi, mương, sông… Địa
danh Chăm do cộng đồng Chăm sử dụng vì chúng gắn với truyền thống,
đặc trưng của quê hương, với quan niệm và đời sống của họ, địa danh Hán
Việt, thuần Việt tồn tại trên các văn bản hành chính của nhà nước để thống
nhất quản lý hoặc để người Việt sử dụng.
3.3. Tiểu kết
Lớp nghĩa địa danh phản ánh các sự kiện trong tiến trình lịch sử của dân
tộc theo cả hai chiều kích: địa danh hành chính chiếm số lượng lớn nhắc
lại những chiến công hiển hách, mốc son chói ngời; địa danh dân gian
chiếm một con số rất khiêm tốn ghi lại sự “đau buồn”, mất mát tang thương
trong chiến tranh.
Các chức danh xưa trong lịch sử, các danh từ chỉ tổ chức nghề nghiệp
xưa nay không còn được sử dụng nhưng chúng góp phần vẽ lại một bức

phương là địa danh do chính quyền phong kiến, chính quyền thực dân
Pháp, chính quyền Việt Nam Cộng hoà, chính quyền cách mạng đặt để
phân chia và quản lý. Theo đó, địa danh dân gian chủ yếu là địa danh thuần
Việt, địa danh Chăm, K’ho, Raglai; địa danh hành chính - quan phương chủ
yếu là địa danh Hán Việt.
4.2. Nhân danh thể hiện trong địa danh
Ở tiểu nhóm địa danh chỉ tên người, chúng tôi thu thập được 347 địa
danh, gồm địa danh thuần Việt, Hán Việt, Chăm, Pháp, K’ho và Raglai. Xét
về mặt ý nghĩa nhân danh được chọn đặt địa danh có 3 lớp cơ bản:
- Tên các vị vua chúa: là những người có nhiều công trạng với đất
nước, có 23 tên gọi
- Tên danh nhân: những người có nhiều đóng đóng góp cho dân tộc, quốc
gia hay nhân loại trên nhiều lĩnh vực, tên anh hùng liệt sĩ, có 196 tên gọi
- Tên người bình dân: gồm tên các tộc người và những người gắn bó,
góp phần xây dựng làng xóm, quê hương, có 128 tên gọi
4.3. Tâm lý dân cư thể hiện trong địa danh
Tâm lý dân cư là nhóm ý nghĩa thể hiện trong địa danh ở NTBT khá rõ
nét với 1355/1696 tên gọi chỉ đơn vị hành chính và cư trú, chiếm tỷ lệ
khoảng 80%. Trong số đó, địa danh Hán Việt có 909 tên gọi chiếm tỷ lệ
khoảng 67%. Nhóm này gồm các tiểu nhóm sau:
- Khát vọng của con người: gồm 864 địa danh, trong đó có 796 địa
danh Hán Việt, chiếm tỷ lệ khoảng 94%. Đó là các địa danh có các từ Phú,
Phước, Long, Lạc, Tài, Lộc... thể hiện ước vọng giàu có, thịnh vượng, điềm
lành; các từ An, Bình, Hòa gửi gắm mong ước về cuộc sống yên ổn, thuận
lợi; các từ Mỹ, Tú, Văn, Xuân, Tân chuyển tải mong ước về một cuộc sống
mới tươi đẹp, trường tồn. Các yếu tố này có thể đứng đầu hoặc đứng sau
các địa danh đa tiết giúp người sáng tạo địa danh gửi gắm mong ước của
mình vào tên đất.
- Ý chí của con người: chủ yếu xuất hiện trong cuộc kháng chiến chống
Pháp và chống Mỹ, là những tấm bia khẳng định tinh thần, ý chí quật

phẩm chất. Nhóm địa danh này đã phản ánh khá trung thực, sinh động về
chủ nhân vùng đất NTBT, thể hiện quan niệm xã hội, nhân văn thể hiện
khát vọng, mong muốn những điều tốt lành nhất của người dân địa phương
và rộng hơn là của cả dân tộc về thế giới xung quanh.
Phạm trù này cũng cho thấy sự đan xen của địa danh thuần Việt và Hán
Việt; địa danh Việt và địa danh Chăm, nhất là ở lớp nghĩa tưởng nhớ về
nguồn cội và quê hương bản quán. Người Việt thường lấy nguyên tên quê
hương bản quán để đặt tên làng quê mới nơi họ chọn sinh cơ lập nghiệp,
trong khi người Chăm lại đặt địa danh để tri ân cội nguồn, tưởng nhớ thời
kỳ vàng son trong ký ức.
CHƯƠNG 5


20
HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA THỂ HIỆN TRONG ĐỊA DANH
Ở NINH THUẬN VÀ BÌNH THUẬN
5.1. Văn hóa mưu sinh thể hiện trong địa danh
Nhóm địa danh mang ý nghĩa văn hóa mưu sinh có 136 tên gọi gồm
địa danh thuần Việt, Hán Việt, Chăm, Raglai, Pháp... Nhóm này chủ yếu
là địa danh dân gian (gần 88%), có nhiều địa danh nay không còn được sử
dụng nữa. Xét về ý nghĩa tên gọi, địa danh chỉ văn hóa mưu sinh có 3 lớp
cơ bản:
- Kinh tế biển: là tiểu nhóm chiếm tỷ lệ khá nổi bật 41% với 56/136 tên
gọi. Khi tiếp tục phân loại nhóm ngữ nghĩa này, chúng tôi nhận thấy các
lớp nghĩa nhỏ hơn được cấu trúc theo 3 yếu tố mang tính hệ thống: 1) lớp
nghĩa chỉ hình thức khai thác; 2) lớp nghĩa chỉ công cụ/ phương tiện hỗ trợ
cho việc khai thác; 3) lớp nghĩa chỉ sản phẩm khai thác được hay chế biến
ra từ nguồn lợi của ngư trường.
- Nông nghiệp: tiểu nhóm địa danh này mô tả một cách đa dạng phong phú
các loại cây trồng của một vùng đất trên một đất nước thuần nông. Nhiều

5.3. Văn hóa tôn giáo thể hiện trong địa danh
- Các tôn giáo nguyên thuỷ và tôn giáo dân tộc: có 69 tên gọi, trong
đó phần lớn là địa danh dân gian của người Chăm và người Việt cho thấy
sự tương đồng trong tôn giáo nguyên thủy đa thần và sự giao thoa trong tôn
giáo thờ Mẫu.
Các tôn giáo thế giới: Cư dân NTBT cũng theo các tôn giáo thế giới
như Phật giáo Bắc Tông, Thiên Chúa giáo, Tin Lành đối với người Việt,
người Hoa, và Hồi giáo Islam đối với người Chăm. Tuy vậy, trong 24 địa
danh phản ánh các tôn giáo thế giới ở NTBT chỉ có 2 tôn giáo chiếm số
lượng địa danh nhiều nhất là Thiên Chúa giáo và Phật giáo như xóm Nhà
Thờ, hang Ông Phật, ngã tư Chùa Cổ Thạch, núi Chùa…
5.4. Văn hóa nghệ thuật thể hiện trong địa danh
Văn hóa nghệ thuật là những bộ phận của văn hóa mà dấu ấn của nó còn
tồn tại mãi với thời gian, không gian và trong đời sống tinh thần của cư dân
trên địa bàn. NTBT là một vùng đất xinh đẹp nhưng có khí hậu khắc nghiệt,
cũng là vùng đất có sự đan xen những nét văn hóa của người Việt, người
Chăm, người Raglai, K’ho và những tộc người khác. Trong quá trình cộng
cư, quá trình mở mang bờ cõi về phương nam, họ đã sáng tạo ra rất nhiều
chuyện tích, truyền thuyết, huyền thoại, ca dao, hò vè…
- Truyền thuyết, cổ tích: có 30 địa danh gắn với các tích chuyện, truyền
thuyết và huyền thoại của các tộc người Việt, Chăm, K’ho và Raglai giải
thích nguồn gốc, ý nghĩa của địa danh.
- Thơ ca dân gian: trên mảnh đất NTBT chúng tôi sưu tầm được các
thể loại tục ngữ, thành ngữ, vè, câu đố và ca dao có chứa chất liệu địa danh,
trong đó thể loại ca dao và vè chứa địa danh nhiều nhất, đặc biệt là ca dao
có 42 câu. Ca dao, hò, vè, câu đố là những sáng tạo văn học phản ánh một
cách sinh động về cuộc sống, sinh hoạt, lao động, chiến đấu… của cư dân
NTBT.
- Các loại hình nghệ thuật: địa danh phản ánh các loại hình nghệ thuật
không nhiều, một số địa danh dân gian gắn với những sinh hoạt văn nghệ,

rằng khi người Việt di cư vào Nam để tìm nguồn sinh kế mới đã bỏ qua
Ninh Thuận vì khí hậu khắc nghiệt nhiều nắng lắm gió, người Chăm lúc
bấy giờ còn đông và khai thác kinh tế không thuận lợi.
Tóm lại, địa danh là một mặt của thực tại xã hội về tình cảm, đời sống
của một vùng đất, một dân tộc. Địa danh có thể chưa phản ánh hết toàn bộ
hoạt động văn hóa trên một vùng đất, mà chỉ là những nét đặc trưng cơ bản,
chọn lọc để “nhặt lấy” cái gì là đặc sắc nhất, chân thực nhất, gần gũi về
những hoạt động văn hóa cơ bản phục vụ mục đích mưu sinh theo cách
nhìn nhận đánh giá chủ quan của chủ thể văn hóa.
KẾT LUẬN
Qua những nội dung đã trình bày, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
1. Về cơ sở lý thuyết, chúng tôi đã minh định khái niệm địa danh,
phân loại địa danh theo quan điểm của văn hóa học. Mối quan hệ giữa
địa danh và văn hóa, đặc trưng văn hóa thể hiện trong địa danh được
làm rõ cùng với khung lý thuyết nghiên cứu. Bên cạnh đó, luận án giới



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status