ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
==============
LÊ THỊ DIỆP
SÁNG TÁC CHO THIẾU NHI CỦA NGUYỄN NGỌC THUẦN
DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội - 2014
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
==============
LÊ THỊ DIỆP
SÁNG TÁC CHO THIẾU NHI CỦA NGUYỄN NGỌC THUẦN
DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21.
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Dục Tú
Hà Nội - 2014
2.1.1.1. Ứng xử với thiên nhiên...........................................................................37
2.1.1.2. Ứng xử trong các mối quan hệ xã hội. ...................................................43
2.1.2. Văn hóa gia đình - nền tảng nuôi dưỡng nhân cách con người. ...................50
3
2.1.2.1. Quan hệ giữa cha mẹ và con cái. ............................................................51
2.1.2.2. Quan hệ giữa anh (chị ) và em. ..............................................................59
2.1.2.3. Quan hệ giữa vợ và chồng. .....................................................................62
2.1.3. Thế giới tâm linh – cội nguồn những ý niệm văn hóa của con người. ........65
2.1.3.1. Ý niệm về “hồn” và “ma”. ....................................................................67
2.1.3.2. Ý niệm về niềm tin cổ tích. ...................................................................71
2.2. Không gian văn hóa – nơi lưu giữ những bản sắc văn hóa dân tộc. ...................76
2.2.1. Không gian làng quê. ....................................................................................77
2.2.2. Không gian miền biển. ..................................................................................83
Tiểu kết. .........................................................................................................................87
Chương 3 : NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG
SÁNG TÁC CHO THIẾU NHI CỦA NGUYỄN NGỌC THUẦN. .............................88
3.1. Ngôn ngữ. ............................................................................................................88
3.1.1. Ngôn ngữ Nam Trung Bộ. ............................................................................89
3.1.2. Ngôn ngữ dân gian........................................................................................92
3.2. Giọng điệu. ..........................................................................................................95
3.2.1. Giọng điệu trữ tình, trong trẻo. .....................................................................95
3.2.2. Giọng điệu suy tư, triết lý. ............................................................................99
3.3. Biểu tượng .........................................................................................................103
3.3.1. Biểu tượng khu vườn. .................................................................................104
3.3.2. Biểu tượng đôi mắt. ....................................................................................109
Tiểu kết ........................................................................................................................112
KẾT LUẬN .................................................................................................................113
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...........................................................................................116
phục nguyên lại không gian văn hóa của những tập tục truyền thống, những lối ứng
xử đậm đà hương vị Việt. Tuy nhiên, những vấn đề này chưa được tập trung nghiên
cứu một cách nghiêm túc và hệ thống với một góc nhìn riêng, một phương pháp
riêng. Nghiên cứu văn học bằng góc nhìn văn hóa có khả năng mở ra nhiều triển
5
vọng mới cho việc cắt nghĩa, lý giải những hệ tư tưởng trong sáng tác thiếu nhi của
Nguyễn Ngọc Thuần.
1.3 Trong hệ mạch những hướng nghiên cứu và tiếp cận văn học thì góc nhìn
văn hóa đang cho thấy là một hướng tiếp cận đem lại hiệu quả cao. Nó có khả năng
khai thác sâu giá trị nội tại của tác phẩm giúp chúng ta có thể thâu tóm một cách
toàn diện đời sống văn hóa con người của cả cộng đồng dân tộc. Với đề tài Sáng tác
cho thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Thuần dưới góc nhìn văn hóa, chúng tôi hi vọng sẽ
giải mã được các “mã văn hóa” mà nhà văn đã xác lập, để từ đó, tìm ra căn nguyên
những yếu tố đã chi phối, tác động đến tâm thức sáng tạo của nhà văn Nguyễn Ngọc
Thuần. Qua đề tài này, chúng tôi mong muốn góp một phần công sức trong việc gìn
giữ và phát triển những giá trị văn hóa trong thế giới tâm hồn trẻ thơ.
Với thời đại mở cửa hiện nay, khi mà có nhiều nền văn hóa ngoai lai du nhập,
thì vấn đề gìn giữ bản sắc văn hóa con người Việt là vô cùng quan trọng. Thiết nghĩ,
các nhà nghiên cứu, phê bình có sự quan tâm hơn nữa đến mảng sáng tác dành cho
thiếu nhi và hy vọng các nhà biên soạn sách giáo khoa có thêm dữ liệu cho việc lựa
chọn một số tác phẩm hay và có ý nghĩa để đưa vào chương trình Ngữ văn các bậc
THCS và THPT để có thể giáo dục và bồi đắp vốn văn hóa cho thế hệ tương lai của
đất nước.
2. Lịch sử vấn đề.
Ở nước ta, vào những năm đầu thế kỷ XX, giới nghiên cứu đã rất chú ý đến
cách tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hóa. Các tác giả như: Trần Đình Hượu,
Phan Ngọc, Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Nguyễn Văn Huyên, Trần
Đình Sử, Phạm Vĩnh Cư, Đỗ Đức Hiểu, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Văn Dân, Trần
Trước tiên, phải kể đến bài viết Nguyễn Ngọc Thuần – Người kể chuyện cổ
tích hiện đại của Nguyễn Thị Minh Thái trên báo điện tử Nxbtre.vn (ngày
11/04/2004). Trong bài viết, người nghiên cứu đã có cái nhìn khái quát về nội dung
và nghệ thuật trong sáng tác thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Thuần: “Mỗi truyện ngắn
nho nhỏ trong đó đã là một truyện tặng cho bạn đọc trẻ thơ, lại vừa là một truyện
dành cho người lớn. Bởi chúng nhiều tầng nghĩa, giàu chất thơ, và có lẽ, bởi cả tác
phẩm chính là kết quả cái nhìn độc đáo của một chủ thể thi sĩ viết văn xuôi, với
động thái đắm đuối nhị nguyên rất mới lạ” [46, tr.2]. Sau đó, tác giả bài viết đã giải
thích căn nguyên của những mảng hồn trong trẻo, tinh khôi đó chính là từ “nguồn
cội”, là tuổi thơ bên những gì thân thương nhất của gia đình, làng xóm, bè bạn, thầy
7
cô. Bằng những đoạn hội thoại nhân vật, Nguyễn Thị Minh Thái đã gián tiếp lý giải
cội nguồn văn hóa ứng xử của con người “Một đứa bé ra đời sẽ được học yêu
thương, học ăn, nói, gói, mở, bằng tình yêu của những người xung quanh, được hiểu
thế nào là người láng giềng, người nhà, thầy cô…” [46, tr.2]. Cùng đề cập đến vấn
đề văn hóa ứng xử, trên trang Vanhoahoc.vn (ngày 16/4/2004), nhà văn Hồ Anh
Thái trong bài viết Nguyễn Ngọc Thuần - nhà văn của trẻ em cũng đã có những
nhận xét rất tinh tế. Tác giả khẳng định nhân vật trong truyện Nguyễn Ngọc Thuần
có một lối ứng xử văn hóa mang đậm hơi thở Việt. Văn hóa ứng xử ấy được thể
hiện qua lời nói và hành động của nhận vật. Đó chính là khởi nguyên cho cái đẹp và
hướng đến giá trị nhân văn của tác phẩm.
Nhà nghiên cứu Trần Viết Nhi trong bài viết Triết lý về giá trị con người trong
truyện thiếu thi của Nguyễn Ngọc Thuần cũng đã có những lời bình phẩm sắc sảo về
văn hóa truyền thống, về cái đẹp của miền quê nghèo Bình Thuận ẩn chứa trong
từng tác phẩm của Nguyễn Ngọc Thuần. Người nghiên cứu phát hiện điểm nhìn
nghệ thuật của nhà văn được khúc xạ bằng điểm nhìn trẻ thơ, để từ đó khơi gợi
những mỹ tục thuở xưa trong tâm thức trẻ. Đặc biệt, ở bài viết này, Trần Viết Nhi
quan tâm đến giọng điệu trữ tình, triết lý mang hồn cốt dân tộc Việt trong mỗi ngôn
ngạc nhiên thơ trẻ” [26, tr.60].
Ngoài ra, còn một số công trình luận văn nghiên cứu về sáng tác thiếu nhi của
Nguyễn Ngọc Thuần trên các phương diện khác nhau như : Đặc điểm truyện thiếu
nhi của Nguyễn Ngọc Thuần (2013) của Tạ Thị Liên (chuyên ngành LLVH - ĐH
KHXH&NV); Đặc sắc nghệ thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Ngọc
Thuần (2012) của Lê Thị Hằng (chuyên ngành VHVN – ĐH Vinh),…
Nhìn một cách tổng quan, gần như chưa có một công trình chuyên biệt nào
nghiên cứu về văn học thiếu nhi từ góc nhìn văn hóa. Riêng về hiện tượng Nguyễn
Ngọc Thuần những nhận xét của các nhà nghiên cứu về yếu tố văn hóa trong các tác
phẩm thiếu nhi của anh còn mang tính sơ khai, khái quát, chung chung. Hiểu được
tầm quan trọng của thực tiễn trong việc bảo tồn những giá trị văn hóa trong thế hệ
tương lai của đất nước, chúng tôi mong muốn nghiên cứu sâu về sáng tác thiếu nhi của
Nguyễn Ngọc Thuần để góp phần làm sáng tỏ những tư tưởng, triết lý về giá trị văn hóa
truyền thống mà tác giả thể hiện trong tác phẩm của mình.
9
3. Mục đích nghiên cứu
3.1
Luận văn dựa vào các phạm trù văn hóa, soi tỏ mối quan hệ giữa văn
hóa – văn học ở tầm khái quát và đi sâu vào sáng tác thiếu nhi của Nguyễn Ngọc
Thuần như một hiện tượng văn hóa cụ thể.
3.2
Luận văn chỉ ra những tầng giá trị ẩn sâu trong những sáng tác thiếu
nhi của Nguyễn Ngọc Thuần, từ đó, làm rõ căn nguyên tồn tại chất văn hóa trong
ngành văn hóa, lịch sử, triết học, tôn giáo, nhân học, ngôn ngữ học, tâm lý học, liên
văn bản nhằm cắt nghĩa văn học bằng truyền thống văn hóa, hoạt động văn hóa, góc
nhìn văn hóa.
5.2 . Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp này giúp chúng tôi cắt nghĩa, phát hiện các giá trị văn hóa kết
tinh trong sáng tác thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Thuần.
5.3 . Phương pháp hệ thống.
Phương pháp này giúp chúng tôi xác lập, móc xích các biểu tượng trên nền
tảng triết học – mỹ học nhằm làm nổi bật dấu ấn văn hóa dân tộc Việt in đậm trong
những sáng tác thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Thuần
5.4 . Phương pháp so sánh
Đây cũng là một phương pháp quan trọng giúp chúng tôi đối sánh văn nghiệp
của Nguyễn Ngọc Thuần với văn nghiệp các tác giả khác để tìm ra cá tính độc đáo
và sáng tạo của nhà văn trong mỗi tác phẩm thiếu nhi mà anh viết.
5.5 . Phương pháp tiếp cận văn hóa học
Phương pháp này thực chất đi giải mã các biểu tượng nghệ thuật, tìm ra dấu ấn
thời đại của tác phẩm, trên cơ sở tìm hiểu sự chi phối các quan niệm triết học, tôn
giáo, đạo đức, chính trị, thẩm mỹ, quan niệm về con người… từng tồn tại trong một
không gian văn hóa xác định đối với tác phẩm về mặt xây dựng nhân vật, mô típ,
hình tượng, ngôn ngữ…
6 . Cấu trúc luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có cấu trúc với 3 chương như sau:
Chương 1: Mối quan hệ giữa văn học – văn hóa và hành trình sáng tác của nhà
văn Nguyễn Ngọc Thuần
Chương 2: Các giá trị văn hóa trong sáng tác cho thiếu nhi của Nguyễn Ngọc
Thuần.
Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện những giá trị văn hóa trong sáng tác cho thiếu
nhi của Nguyễn Ngọc Thuần.
11
12
tr.35]. Các nhà văn hóa phương Tây đã có một bước tiến lớn trong nghiên cứu lịch
sử nhân văn khi KLem sử dụng tiến trình phát triển văn hóa, xã hội làm cơ sở để
khảo sát về lịch sử con người. Nhà nhân chủng học người Anh E.B.Tylor xứng đáng
được giới khoa học Anh Mỹ suy tôn là người sáng lập ra môn Nhân học văn hóa khi
đã cho xuất bản ở Luân Đôn cuốn Văn hóa nguyên thủy (1871), một cuốn sách đầu
tiên nhìn văn hóa như một tổng thể thành tựu cơ bản của con người.
Có rất nhiều những định nghĩa về văn hóa, chúng tôi xin trích một vài định
nghĩa được coi là tiêu biểu nhất:
Tại hội nghị Quổc tế UNESCO (1992) diễn ra ở Mexico, các nhà văn hóa đại
diện cho hơn 100 quốc gia đã đưa ra 200 định nghĩa về văn hóa, sau đó họ cùng nhau
trao đổi và thống nhất một khái niệm là: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay
có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm
quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao
gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người,
những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con
người khả năng soi xét về bản thân…”[64, tr.5]. Cuốn Từ điển triết học do
Staeman chủ biên đã thiết lập một hệ thống các nhóm định nghĩa về văn hóa:
1. Định nghĩa mang tính chất miêu tả
2. Định nghĩa mang tính chất lịch sử
3. Định nghĩa nhấn mạnh vào nếp sống xã hội
4. Định nghĩa nhấn mạnh vào phương thức ứng xử
5. Định nghĩa nhấn mạnh vào khía cạnh học tập, giáo dục
6. Định nghĩa nhấn mạnh vào khả năng thích ứng của con người với
thiên nhiên
7. Định nghĩa mang tính chất di truyền xã hội
8. Định nghĩa nhấn mạnh vào khía cạnh tư tưởng
9. Định nghĩa nhấn mạnh giá trị
tinh thần.” [11, tr.252]. Từ góc nhìn địa lý, Trần Quốc Vượng cho rằng: “Văn hóa
theo nghĩa rộng, là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người, bao hàm cả kỹ thuật
kinh tế... để từ đó hình thành một đời sống, một thế ứng xử, một thái độ tổng quát
của con người với vũ trụ, thiên nhiên và xã hội, là cái vai trò của con người trong
vũ trụ đó, với hệ thống các chuẩn mực, những giá trị, những quan niệm, tạo nên
phong cách diễn tả tri thức và nghệ thuật của con người” [64, tr.27]. Tuy văn hóa
14
có nội hàm rộng và nhiều cách hiểu khác nhau nhưng nó là một thể thống nhất nên
dễ dàng nhận thấy sự tương đồng trong các định nghĩa của những người nghiên
cứu. Như vậy, văn hóa là tổng hòa của tất cả các khía cạnh đời sống, tồn tại hữu
thức và vô thức, mang dấu ấn của con người. Ngay cả những hiện tượng vụn vặt
của cuộc sống cũng mang những tín hiệu về văn hóa.
Có thể thấy, khái niệm văn hóa đã được giới nghiên cứu tiếp nhận theo nhiều
góc nhìn, nhiều cách hiểu khác nhau. Trong mỗi một thời điểm lịch sử, khái niệm
văn hóa lại có những nét khác biệt, bản thân chúng không thể bao quát đầy đủ nội
hàm rộng lớn của văn hóa mà chỉ có thể tóm lược khía cạnh nào đó của văn hóa.
Đồng thời, sự đa dạng và phong phú của các khái niệm và quan điểm văn hóa
cũng phản ánh những hướng tiếp cận khác nhau. Nghiên cứu một tác phẩm văn
học dưới hệ soi chiếu của văn hóa cũng vậy, mỗi một nhà nghiên cứu sẽ lựa chọn
cho mình một góc tiếp cận riêng biệt. Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, chúng
tôi chỉ đi sâu khai thác những giá trị văn hóa tinh thần của con người và đặc biệt,
nhấn mạnh văn hóa ứng xử, văn hóa gia đình và văn hóa tâm linh như một khuôn
thước dạy dỗ thế hệ mầm non của đất nước.
1.2. Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học.
Giữa cơ cấu đa dạng của văn hóa luôn có những sợi dây liên kết bất di bất dịch
để hòa trộn những ảnh hưởng của thiên nhiên, khí hậu, dân cư, thần linh trong tâm
thức con người thành một khối thống nhất cố định mà trí tính có thể nhận diện nó
một cách hoàn hảo nhất. Đồng thời, văn học có thể xem như một bức tranh “dân
ngược” trở lại giữa cái riêng với cái chung, nhỏ bé với vĩ đại, và mục đích cuối
cùng của mối quan hệ đó là lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc.
Văn hóa Việt Nam trải qua thăng trầm của thời gian và ghi dấu vào tâm thức
mỗi con người tạo thành bản sắc văn hóa Việt Nam, và tất cả những điều ấy đều
được hiện hình rõ nét thông qua văn học. Những nhà nghiên cứu văn hóa Việt
Nam thường tìm đến văn học Việt Nam như một “điều kiện cần và đủ” để giải mã
văn hóa. Nói cách khác, văn học là hiện thân, là tấm gương phản chiếu văn hóa.
Với vai trò đắc địa của ngôn từ, văn chương hoàn toàn có thể mô tả lí trí cũng như
khơi gợi cảm xúc con người. Nó chiếm giữ vai trò trọng yếu trong hệ hình giá trị
tinh thần và bản sắc văn hóa dân tộc Việt. Nhà nghiên cứu Đỗ Thị Ngọc Chi đã có
những nhận xét cụ thể về vấn đề bản sắc dân tộc “Việt Nam không có nền văn hóa
lộ thiên đồ sộ như thánh địa, đền đài, chùa Vàng, chùa Bạc, những Ăng kor,...,
16
không có triết thuyết nhập thế, vô vi, âm dương ngũ hành, cũng không có triết lý
âm dương huyền bí... như nhiều quốc gia trong khu vực nhưng chúng ta lại có bề
dày văn hóa của người Việt Nam với những đức tính cao đẹp như yêu nước, cần
cù, tinh thần đoàn kết, giàu lòng yêu thương” [5, tr.47]. Văn học góp phần làm lộ
diện bản sắc văn hóa. Vì vậy, bản sắc văn hóa của một dân tộc phải mang những
nét rất riêng biệt độc đáo. Nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành trong cuốn Bản sắc
Việt Nam qua giao lưu văn học cũng nói rất rõ về điều này “Nhiều dân tộc có văn
hóa nhưng không phải nền văn hóa nào cũng có bản sắc. Những nền văn hóa có
bản sắc là những nền văn hóa tiêu biểu”[45, tr.40].
Có thể thấy, văn học Việt Nam là một hiện tượng văn hóa xã hội có giá trị
cao. Nếu gạt bỏ nhân tố văn học ra khỏi di sản văn hóa dân tộc thì nền văn hóa
Việt chỉ là sự trống rỗng vô giá trị. Trong lịch sử văn học dân tộc, việc trân trọng
Truyện Kiều như “quốc hồn, quốc túy” của dân tộc, ngợi ca tư tưởng nhân nghĩa
của Nguyễn Trãi và chủ nghĩa nhân văn của Hồ Chí Minh đã góp tiếng nói khẳng
định nhân cách văn hóa con người Việt. Khi danh hiệu danh nhân văn hóa thế giới
của văn hóa, là hệ quy chiếu đánh giá sự văn minh nhân loại. Dưới cái nhìn tổng
quan, giá trị giống như một biểu hình, mà ở đó từng nét vẽ như kiến tạo nên bộ
mặt riêng biệt độc đáo của từng con người, dân tộc, thời đại. Giá trị và giá trị văn
hóa chính là hình thái của đời sống tinh thần con người, nó phản ánh và kết tinh
trong mọi khía cạnh cuộc sống con người. Nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh trong
cuốn Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa đã đưa ra định nghĩa về giá trị là “những đánh
giá mang tính chủ quan của con người về tự nhiên, xã hội và tư duy theo những gì là
cần, là tốt, là hay, là đẹp. Nói cách khác, đó chính là những cái được cho là Chân,
Thiện, Mỹ, giúp khẳng định và nâng cao bản chất con người” [49, tr.38]. Có thể
nói, giá trị văn hóa chính là giá trị xã hội và văn học là nơi thể hiện các hệ giá trị
ấy. Mặt khác, giá trị còn là một phạm trù tinh thần được con người tri giác, cảm
hóa và hun đúc từ những trải nghiệm thực tại. Bằng cảm thức về văn hóa riêng
biệt, con người tiếp cận giá trị với bộ lọc tinh vi để “phân loại” chúng. Những
dạng nào là phù hợp, quy chuẩn, tốt đẹp thì gìn giữ, bảo lưu, bảo tồn qua nhiều thế
hệ, góp phần làm giàu thêm cho bản sắc văn hóa của dân tộc. Ngược lại, những
dạng thức là “phản giá trị”, “phi giá trị” tất yếu sẽ bị “rũ bỏ”, đào thải như một
quy luật hiển nhiên.
18
Nếu âm nhạc “thu gom” những giá trị văn hóa thông qua tiết tấu, giai điệu;
kiến trúc biểu đạt văn hóa qua những cấu hình, bài trí, bố cục thì văn học lại có
khả năng kết tinh giá trị văn hóa theo cách riêng của mình thông qua ngôn ngữ và
biểu tượng. Bằng ngôn ngữ và biểu tương, văn học luôn luôn chủ động định hình
và lựa chọn những hệ giá trị tốt đẹp nhất cho con người. Văn học như một sự kết
tinh các giá trị văn hóa bằng những vai trò, chức năng riêng biệt của mình.
Thứ nhất, văn học gìn giữ và bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống
sống mãi với thời gian, với con người. Trải theo thời gian, sự va đập giữa mỹ tục
văn hóa truyền thống với cái xấu, cái ác của văn hóa ngoại lai thời hiện đại đã diễn
nhân loại thì ngôn ngữ càng trở nên phong phú, tinh diệu hơn. Bản thân nghệ thuật
ngôn từ đổi mới và phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của văn hóa. Do đó, chăm lo
cho văn học tức là chăm lo cho văn hóa, tạo điều kiện cho văn học phát triển là
bước đột phá cho sự phát triển của đời sống văn hóa. Trong lời Phi Lộ đăng trên
tạp chí Văn học số 1(5/1932), học giả Đinh Gia Trinh đã khẳng khái nhận xét rằng
“Muốn giữ cho cái quốc hồn của mình đừng siêu lạc, cái quốc túy của mình khỏi
tán thất, cái quốc hoa của mình ngày một thêm rực rỡ tốt tươi, thì thế nào cũng
phải trao lời trải chuốt, sửa sang, sắp đặt, gom góp thứ tiếng nói ấy cho thành văn
thành vẻ, thành riêng hẳn, là đặc sắc của dân tộc mình mới được”[63, tr.47]. Trên
hành trình phát triển, ngôn ngữ văn học luôn đóng một vai trò quan trọng trong
việc lưu giữ và sáng tạo các giá trị văn hóa dân tộc. Những giá trị ngôn ngữ truyền
thống, đặc biệt ngôn ngữ dân gian trở thành những tài sản vô cùng quý giá trong
suốt những chặng đường phát triển của lịch sử dân tộc từ xưa đến nay.
Ở một góc độ khác, văn học bảo vệ, gìn giữ và hun đúc lên một hệ giá trị độc
đáo, đó chính là nhân phẩm con người. Nói cách khác, văn học với những khả năng
tiềm ẩn bên trong đã tạo lập quá trình xây dựng và phát triển nhân cách con người,
nhân cách văn hóa. Văn học có thể giải mã tất cả những ẩn số bên trong mỗi con
người thông qua ngoại hình, hành động. Nếu như khoa học khai hóa tri thức về tự
nhiên, xã hội, con người nói chung thì văn học có thể xuyên thấu vào từng hiện
tượng trái tim và tâm hồn con người mà phản chiếu nó một cách riêng biệt nhất. Khi
đời sống tâm hồn và tâm lý con người ngày càng trở nên phức tạp thì văn học nghệ
thuật càng có cơ hội để thể hiện vai trò của mình - soi thấu để định hình sự tự thức.
Một tác phẩm văn học thành công khi bản thân nó chứa đựng vô số những mảng đời
thực, nghĩa là người đọc thấy mình ở trong đó, và hiệu ứng “giáo dục nhân cách”
20
được tiếp giao hiệu quả nhất. Văn học có khả năng tác động tới sự tự ý thức của con
người. Con người tự nhận ra những mặt mạnh, những mặt yếu, những tiềm lực lớn
lao của bản thân, qua đó giúp họ thanh lọc, phát triển và hoàn thiện nhân cách chính
quen, tâm thức dân tộc, tâm lý cộng đồng. Điều đặc biệt, biểu hình giá trị không
“trình diễn” như hiện thực cuộc sống phơi bày ra trước mắt mà nhiều khi nó ngấm
ngầm trong chiều sâu của tâm thức, cho nên nó đòi hỏi người tiếp nhận phải tự tìm
tòi, tự chiêm nghiệm như một sự tự thức.
1.2.3. Văn học như một ứng xử văn hóa.
Văn hóa là tổng hòa các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và
được lưu giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong vĩ mạch đó, những nguyên tắc
ứng xử với thế giới tự nhiên, môi trường xã hội và bản thân con người chính là biểu
hiện căn bản của văn hóa. Vì thế có thể tóm lược ứng xử (behavior) là thái độ, hành
vi giao tiếp của con người nhằm bày tỏ quan niệm, quan điểm nào đó trước một
hiện thực khách quan, đặc biệt là sự tự tích lũy các hệ giá trị văn hóa phù hợp với
nguyên tắc chung của cộng đồng người. Văn học lúc này kiêm nhiệm cả hai chức
năng, vừa xác lập nguyên tắc ứng xử cộng đồng quy định lại vừa mang đến cái mới
mẻ của những nguyên tắc được cho là phù hợp hơn. Hay nói cách khác, văn học vừa
bảo lưu những nguyên tắc đã được coi là truyền thống, bất di bất dịch vừa khai
thông những nguyên tắc mới sao cho phù hợp với thời đại và con người mới.
Dường như lâu nay, người ta thường xem xét vấn đề giao tiếp hoặc xem xét
các mối quan hệ trong nội tại gia đình, họ hàng thân thiết, mọi người trong cùng
cộng đồng như một nội dung cơ bản nhất của văn hóa ứng xử. Cách hiểu con người
như một thực thể sống đơn thuần trong giao tiếp cộng đồng như vậy chưa đầy đủ.
Nếu xét con người ở cả khía cạnh vật chất và tinh thần thì những ứng xử của họ
cũng phải được hiểu ở sự toàn diện. Và văn học luôn nhìn con người trên mọi
phương diện và phạm trù ứng xử trong văn học luôn có một nội dung rộng lớn vì
nó hiện hữu trong cái nhìn thông thoáng, nhiều chiều, nhiều mối quan hệ. Ẩn sau
các mối quan hệ ứng xử, người ta nhận biết rõ hơn về bản chất xã hội, văn hóa
truyền thống dân tộc, tâm lý dân tộc, tiếng nói của cái thiêng, cao hơn còn mang cả
sự chi phối của tầng nền ý thức, sự vọng về từ quá khứ, từ cõi sâu thẳm của vô thức.
Dưới sự phản ánh của văn học về diện mạo đa chiều của văn hóa ứng xử,
người ta nhận thấy ở đây có cả văn hóa ứng xử vật chất và văn hóa ứng xử tinh
thần. Văn hóa ứng xử vật chất chính là những phản ánh trong một quá trình trải
văn nào lại thẳng thừng bộc lộ “hỉ, nộ, ái, ố” mà chỉ thể hiện thông qua những hình
ảnh, biểu tượng, cốt truyện,… Thậm chí nhiều nhà văn còn dùng nghệ thuật tương
phản để truyền tải thái độ, người ta có thể dùng giọt nước mắt để nói những niềm
23
vui, dùng tiền để nói đến nghèo đói, dùng động vật để phê phán con người,..v.v.
Điều đó càng chứng tỏ khả năng tri nhận của độc giả cần phải phát triển ở một tầng
cao mới. Từ những giá trị được mã hóa kì công đó, người đọc phải dùng trực quan
và cảm xúc của mình để nhìn ra thái độ của nhà văn, thụ hưởng những thông điệp
mà họ gửi gắm nếu nó phù hợp với bảng màu giá trị và được cộng đồng chấp nhận.
Đồng thời, những gì đi ngược lại so với chuẩn mực thì sẽ bị độc giả xóa bỏ, cộng
đồng đào thải, lên án, coi thường. Như vậy, mỗi nhà văn chính là người trực tiếp
bộc lộ ứng xử văn hóa bằng tác phẩm của mình
Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, chúng tôi xin xét những sáng tác thiếu
nhi của Nguyễn Ngọc Thuần dưới góc nhìn văn hóa ứng xử tinh thần và coi đó là
nội dung cơ bản làm nên những hệ giá trị tư tưởng phong phú của nhà văn.
1.3. Phương pháp tiếp cận văn hóa học trong nghiên cứu văn học.
1.3.1 . Sự đa dạng của các phương pháp trong nghiên cứu văn học.
Văn học với tư cách là một loại hình nghệ thuật, một bộ phận quan trọng trong
hình thái ý thức xã hội, đã trải qua một cuộc hành trình phát triển “gian khó” trong
lịch sử nhân loại. Việc nghiên cứu bản chất, quy luật vận động, cấu trúc nội tại, sự
phát sinh, phát triển của văn học cũng trải qua những khó khăn nhất định. Và để quá
trình đó đạt hiệu quả cao nhất thì việc khái quát lý thuyết sâu sắc, có phương pháp
tiếp cận đúng đắn là những nhiệm vụ hàng đầu.
Cùng với lý luận văn học, phương pháp luận nghiên cứu văn học ra đời như
một quy luật tất yếu, đáp ứng yêu cầu “tiêu hóa” (Đoàn Đức Phương) thế giới văn
học của con người. Và để “tiêu hóa” một sản phẩm đa hệ giá trị như vậy thì sự tự
phân hóa những loại hình nghiên cứu khác nhau là một điều dễ hiểu. Viện sĩ M.B
Khrapchenco khẳng định rằng “Sự đa dạng của các loại hình và hình thức văn học,
pháp, hướng nghiên cứu để tiếp cận và khám phá một tác phẩm văn học. Văn học
luôn được quan tâm ở nhiều góc độ khác nhau. Trong thời đại giao lưu hội nhập
ngày nay, việc nghiên cứu văn học như một khối hình đa diện là điều nên làm. Vì
thế, khi chúng tôi nghiên cứu sáng tác cho thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Thuần từ góc
nhìn văn hóa thì lẽ đương nhiên là cần phải “tranh thủ” những thế mạnh của những
góc nhìn, phương pháp khác như một sự bổ trợ cho việc nghiên cứu. Bởi thực chất,
hành trình phát triển của văn học là sự tiếp nối, kế thừa những nguyên lý, thành tựu
lý luận văn học, những tinh hoa của văn hóa nhân loại góp phần làm giàu cho bản
sắc văn hóa tinh thần của dân tộc. Đồng thời, việc bổ sung những công cụ nghiên
25