ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ MINH
THƠ DƯƠNG THUẤN DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ MINH
THƠ DƯƠNG THUẤN DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS LÊ VĂN LÂN
Hà Nội – 2012
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................1
CHƯƠNG 3: BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA TRONG THƠ DƯƠNG THUẤN . 59
3.1 Thế nào là biểu tượng văn hóa ..................................................................59
3.2 Biểu tượng văn hóa trong thơ Dương Thuấn.............................................61
3.2.1 Bản Hon ................................................................................................62
3.2.2 Núi ........................................................................................................64
3.2.3 Sông ......................................................................................................67
3.2.4 Nước .....................................................................................................70
3.2.5 Trăng .....................................................................................................73
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT TRONG THƠ
DƯƠNG THUẤN .........................................................................................78
4.1 Ngôn ngữ .................................................................................................78
4.1.1 Mối quan hệ ngôn ngữ - văn hóa ...........................................................78
4.1.2 Ngôn ngữ trong thơ Dương Thuấn .........................................................80
4.2 Giọng điệu ................................................................................................88
4.2.1 Giới thiệu về giọng điệu ........................................................................88
4.2.2 Giọng điệu trong thơ Dương Thuấn .......................................................90
KẾT LUẬN ................................................................................................. 100
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Văn học là sản phẩm của một quá trình văn hóa, nó phản ánh đời sống
xã hội, cải tạo cuộc sống con người và lưu giữ, lưu truyền văn hóa ngàn đời.
Đất nước Việt Nam bao gồm 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc có một bản sắc
văn hóa riêng được cấu thành từ hàng ngàn, hàng vạn thành tố văn hóa đặc
trưng cho dân tộc mình như: lịch sử, ngôn ngữ, hoạt động kinh tế, các phong
tục tập quán, trang phục, quan hệ cộng đồng…Vì thế một sản phẩm tinh thần
sáng tác văn nghệ của dân tộc Tày thì có lẽ Dương Thuấn là cây bút sung sức
hơn cả. Có thể nói Dương Thuấn đã thể hiện rất tích cực vai trò sứ giả văn
hóa cho dân tộc mình. Con đường thơ của Dương Thuấn gắn liền với cái nôi
văn hóa vùng Việt Bắc và dân tộc Tày. Quê hương, bản làng, xứ núi đã tạo
cho nhà thơ một mối giao cảm sâu sắc. Phía sau những vần thơ ấy là đời sống
của cá nhân tác giả và đời sống của quê hương xứ Tày. Sinh ra ở bản Hon, đi
khắp trăm nơi nhưng dù đi đâu, về đâu thì Dương Thuấn vẫn đau đáu về bản
Hon quê mình, vẫn nhớ những mái nhà, nhớ cái bậc cầu thang, rặng đá Mèo,
đèo mây phủ, những tên núi tên sông và những con người xứ Mây. Xin mượn
lời tác giả Uông Thái Biểu để khẳng định tính dân tộc bền bỉ trong thơ Dương
Thuấn: “Dù hạ sơn về phố đã hàng chục năm, Thuấn vẫn là con người “của
đồng bào mình”. Nếu xét chữ “tha hóa” theo nghĩa hẹp thì Dương Thuấn là
con người không dễ gì đánh rơi cái cốt, cái lõi trong tâm hồn mình”[44].
Và như vậy chúng tôi chọn khảo sát thơ Dương Thuấn dưới góc nhìn
văn hóa nhằm làm rõ hơn bản sắc văn hóa Tày trong phong cách thơ ông. Từ
đó góp phần khẳng định những đóng góp đặc sắc của nhà thơ vào tiến trình
thơ ca dân tộc Việt Nam hiện đại.
2
2.
Lịch sử vấn đề
Mặc dù là nhà thơ thuộc thế hệ thứ ba nhưng các công trình, bài nghiên
cứu, bình luận về thơ Dương Thuấn đã xuất hiện nhiều trên các tạp chí nghiên
cứu văn học và các ấn phẩm văn hóa văn nghệ. Nhìn chung có thể chia các
bài viết đó thành hai loại sau:
Thứ nhất là các bài cảm nhận, bình thơ về một số bài thơ đơn lẻ tiêu
phong cách thơ Dương Thuấn. Tuy thế với số lượng bài viết khá nhiều kể trên
đã phản chiếu sự ảnh hưởng của tiếng thơ Dương Thuấn đối với đông đảo bạn
đọc. Chọn đề tài Thơ Dương Thuấn dưới góc nhìn văn hóa, chúng tôi mong
muốn đưa ra cái nhìn toàn diện, hệ thống hơn về thơ Dương Thuấn xét trong
mạch nguồn văn hóa Tày để chứng minh rằng thơ Dương Thuấn đã kế thừa và
phát huy những giá trị văn học của dân tộc mình trong thơ như thế nào.
3.
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Do khuôn khổ của luận văn có hạn, chúng tôi chỉ tập trung tiến hành
khảo sát thơ Dương Thuấn trong ba tập thơ tập I: Bản Hon và những nơi
khác, tập II Thơ tình và tập III Thơ thiếu nhi thuộc Tuyển tập thơ Dương
Thuấn do Hội Nhà Văn xuất bản năm 2010. Lựa chọn ba tập thơ này vì chúng
tôi cho rằng đây là các tập thơ hội tụ những bài thơ tiêu biểu, đặc sắc nhất cho
phong cách thơ Dương Thuấn.
4.
Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, người viết phác họa lại diện mạo thơ Dương Thuấn
nhưng đặc biệt nhấn mạnh vào sự ảnh hưởng của văn hóa vùng đến sáng tác
của ông. Cách thức tiến hành của chúng tôi không theo cách đi vào từng tác
phẩm cụ thể để nhận diện đặc điểm thơ Dương Thuấn mà sẽ thâu tóm những
tác phẩm cùng đề tài, chủ đề, tư tưởng để đưa ra kết luận nhằm phục vụ mục
đích nghiên cứu của luận văn. Trong khi thực hiện đề tài nghiên cứu này, tôi
đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu:
4
5
học nhiều triển vọng đó là từ góc độ văn hóa - văn học, sự giao lưu, giao thoa
và ảnh hưởng qua lại để nhìn cho thấu đáo từ nhiều chiều kích, phương diện.
6.
Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4
chương:
Chương 1: Thơ Dương Thuấn trong mạch nguồn văn hóa dân tộc Tày
Chương 2: Cảm thức văn hóa trong thơ Dương Thuấn
Chương 3: Biểu tượng văn hóa trong thơ Dương Thuấn
Chương 4: Một số phương thức nghệ thuật trong thơ Dương Thuấn
6
CHƯƠNG 1
THƠ DƯƠNG THUẤN TRONG MẠCH NGUỒN VĂN HÓA TÀY
1.1
Mối quan hệ văn hóa – văn học
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Ở Việt Nam và trên thế giới có nhiều cách định nghĩa khác nhau về
khái niệm văn hóa. Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc cho rằng: “Văn hóa
là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc
người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này
1.1.2 Mối quan hệ văn hóa – văn học
Như chúng ta đã biết: văn học là một thành tố của văn hóa, nằm trong
văn hóa vì thế nó chịu sự chi phối của văn hóa như M. Bakhtin xác định:
“Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hoá. Không thể hiểu nó
ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hoá của một thời đại trong đó nó
tồn tại”[24]. Mỗi nhà văn khi sáng tạo tác phẩm của mình đều phải dựa trên
một nền tảng rộng lớn là văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại. Có thể coi văn
học là một tấm gương vừa phản chiếu, vừa thu nhỏ bộ mặt văn hóa của từng
thời đại vào trong đó. Đặc biệt văn học sẽ kết tinh toàn bộ các phương diện
của văn hóa vào trong thế giới nghệ thuật của mình.
Những nhân tố như: ngôn ngữ, hoạt động kinh tế, lao động, sản xuất, ăn
mặc, ở, đi lại, sự phát triển của khoa học kĩ thuật… đều là điều kiện quan
trọng trong môi trường nảy sinh, hình thành những tác phẩm văn học. Những
thành tựu của văn hóa học ngày nay cho phép chúng ta có thể nhìn nhận văn
hóa như một tổng thể, một hệ thống gồm nhiều yếu tố như: ngôn ngữ, phong
tục tập quán, pháp luật, tín ngưỡng, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn,
văn học…
Trong hệ thống văn hóa, nhất là văn hóa Việt Nam, yếu tố chủ đạo
thường là văn học. Yếu tố chủ đạo này không phải là bất biến mà nó thường
8
xuyên thay đổi qua những thời đại văn hóa, tức là một hệ thống văn hóa. Là
một yếu tố mạnh, văn học luôn biết tiếp thu những gì ngoài hệ thống để phát
triển. Tiếp thu những cái ngoài hệ thống đến một mức độ nào đó, yếu tố văn
học sẽ không còn phù hợp với hệ thống văn hóa nữa, nó chống lại hệ thống,
làm cho hệ thống phải thay đổi cùng nó. Ở nước ta không ít công trình nghiên
cứu văn học đi sâu vào tìm hiểu bản sắc dân tộc trong văn học Việt Nam, xem
bản sắc dân tộc như là phẩm chất của văn học, và cũng có không ít những
công trình nghiên cứu văn hoá xem trọng dẫn liệu văn học như những dấu
nghiên cứu cụ thể của mình.
Đọc một tác phẩm văn học theo quan điểm văn hóa học là vận dụng
những tri thức về văn hóa để nhận diện và giải mã các yếu tố thi pháp của tác
phẩm. Một cách tổng quát, phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học từ góc
nhìn văn hóa ưu tiên cho việc phục nguyên không gian văn hóa. Trong đó tác
phẩm văn học đã ra đời, xác lập sự chi phối của các quan niệm triết học, tôn
giáo, đạo đức, chính trị, pháp luật, thẩm mỹ, quan niệm về con người cũng
như sự chi phối của các phương tiện khác nhau. Trong đời sống sinh hoạt xã
hội từng tồn tại trong một không gian văn hóa xác định đối với tác phẩm về
các mặt xây dựng nhân vật, kết cấi, mô-típ, hình tượng, cảm xúc, ngôn ngữ…
Phương pháp này có tính chất tổng hợp, trung gian giữa những phương pháp
đọc văn bản khác nhau nhưng vẫn có đặc trưng riêng. Nó thiên về nhiệm vụ
giải mã các hiện tượng nghệ thuật, tìm ra nền tảng văn hóa lịch sử của chúng
đồng thời cũng nhấn mạnh đến sự liên tục, đến tính chất mở của chúng trong
không gian và thời gian.
Tiếp cận văn hóa học không chủ trương miêu tả thế giới nghệ thuật của
tác phẩm như một vũ trụ khép kín, có giá trị tự thân mà đặt ra nhiệm vụ đối
chiếu, so sánh, truy nguyên các quan niệm văn hóa của thời đại nơi tác phẩm
được sản sinh để tìm nguồn gốc các dạng thức quan niệm về con người – thời
10
gian – không gian trong tác phẩm. Tiếp cận văn hóa học thực chất là tiếp cận
liên ngành trong nghiên cứu khoa học.
Nghiên cứu văn học ngày càng ý thức hơn về mối quan hệ giữa văn học
với văn hoá, đặc biệt là nghiên cứu văn học tiếp nhận ở văn hoá học quan
điểm về tính tương tác của các hệ thống văn hoá, về góc nhìn văn hoá trong
nghiên cứu đối tượng đặc thù. Lý luận về sự giao thoa giữa văn học và văn
hoá trong lý luận văn học thế giới được giới thiệu khá phong phú ở nước ta
cũng là một trong những cơ sở giúp nghiên cứu văn học ngày càng khám phá
tương, là những thể loại tiêu biểu được các thế hệ trẻ Tày – Nùng ưa chuộng.
Lễ hội của cư dân Tày – Nùng rất phong phú. Ngày hội của toàn cộng đồng là
Hội Lồng Tồng (hội xuống đồng), diễn ra hai phần: Lễ và hội. Nghi lễ chính
là rước thần đình và thần nông ra nơi mở hội ở ngoài đồng. Phần hội căn bản
là các trò chơi như đánh quay, đánh yến, tung còn, ảo thuật… Như vậy, về
bản chất, Hội Lồng Tồng là một sinh hoạt văn hóa.
Nói đến sinh hoạt văn hóa của cư dân vùng Việt Bắc, không thể không
nói đến sinh hoạt hội chợ ở đây là nơi để trao đổi hàng hóa, nhưng lại cũng là
nơi để nam nữ thanh niên trao duyên, tỏ tình. Người ta đã từng nói đến một
loại sinh hoạt văn hóa hội chợ ở vùng này, và có thể coi như một sinh hoạt
văn hóa đặc thù của vùng Việt Bắc. Tóm lại, Việt Bắc là một vùng văn hóa có
nhiều đặc thù. Tộc người chủ thể: Tày - Nùng với lịch sử và văn hóa của họ
tạo ra nét đặc thù này. Tuy nhiên, những đặc thù này không phá vỡ tính thống
nhất của văn hóa Việt Bắc và văn hoá cả nước.
1.2.2 Văn hóa dân tộc Tày
Nằm trong cái nôi văn hóa vùng Việt Bắc, ngoài những ảnh hưởng của
văn hóa vùng, dân tộc Tày còn có riêng một bản sắc văn hóa, cụ thể là:
Người Tày có một nền nông nghiệp cổ truyền phát triển với đủ loại cây
trồng như lúa, ngô, khoai… Họ có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã
12
biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thủy lợi như đào mương,
bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Ngoài lúa nước, người Tày
còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả… Chăn nuôi phát triển với nhiều loại
gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn phổ biến. Các
nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với
nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Đặc điểm kinh tế mà đặc biệt về mặc nông
nghiệp này đã tạo nên những biểu tượng văn hóa trong tín ngưỡng dân tộc
Tày như tục thờ nước, thờ Mẹ Hoa, thờ thần lúa. Người dân thường ở chân
đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ
chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm
lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết
rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.
Chữ viết của người Tày xuất hiện khá sớm, chữ Nôm Tày xây dựng trên
mẫu tự tượng hình, gần giống chữ Nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được
dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng… Chữ Tày - Nùng dựa trên cơ
sở chữ cái Latinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa những năm 80, được
dùng trong các trường phổ thông cấp 1, vùng có người Tày – Nùng cư trú.
Đối với cư dân Tày, lễ hội là là sinh hoạt văn hóa quan trọng bậc nhất
trong đó đặc biệt là Hội Lồng Tồng (Hội xuống đồng) trở thành “đặc sản” sinh
hoạt văn hóa cộng đồng của cư dân vùng Việt Bắc cũng như văn hóa Tày. Lễ
hội mang đậm những nét văn hóa truyền thống của dân tộc Tày, thường được
tổ chức ở những đám ruộng to rộng. Trước ngày hội, các gia đình đều quét
dọn nhà cửa, xóm bản sạch sẽ, chuẩn bị lương thực để đón khách. Khách đến
đây, dù quen dù lạ đều được đồng bào mời về nhà ăn nghỉ qua đêm chờ dự
hội. Trong ngày diễn ra lễ hội, phần lễ và phần hội đều diễn ra trang trọng, vui
tươi. Phần lễ là hoạt động tín ngưỡng cầu trời cho mưa thuận gió hoà, cây cối
tốt tươi, mùa màng bội thu, đời sống ấm no. Ðể chuẩn bị lễ ở ngoài đồng, mỗi
14
gia đình chuẩn bị một mâm cỗ theo khả năng, có nhiều nhà làm từ vài chục
đến một trăm món. Phần hội quan trọng nhất là hội xuống đồng. Một nông
dân cày giỏi được giao trọng trách mắc cày vào con trâu mộng, to khỏe để
vạch luống cày đầu tiên cho mùa vụ mới. Thầy cúng đi trước làm lễ, luống
cày theo sau như nở hoa trên đất hứa hẹn với bà con nông dân một mùa vụ
suôn sẻ, bội thu.
Hoạt động vui nhất, thu hút nhiều người tham gia nhất trong lễ hội là
hội tung còn. Nếu ở lễ hội này không có ai tung còn trúng vòng tròn thì dân
đề tài Thơ Dương Thuấn dưới góc nhìn văn hóa có cơ sở thực tế và sức
thuyết phục hơn.
1.3
Khát quát về văn học Tày
1.3.1 Văn học dân gian Tày
Văn học dân tộc thiểu số ở nước ta tuy hình thành và phát triển muộn
nhưng có nhiều đóng góp đáng kể làm phong phú cho kho tàng văn học Việt
Nam. Hệ thống văn học dân gian Tày đặc biệt sinh động bởi sự góp mặt của
nhiều thể loại như: truyền thuyết, truyện thơ, dân ca, tục ngữ, ca dao. Nội
dung truyện cổ Tày thường tập trung giải thích các hiện tượng tự nhiên,
những mâu thuẫn trong đời sống con người, cuộc chiến giữa thiện và ác.
Truyện ngụ ngôn có rất nhiều tình tiết ly kỳ, chết đi sống lại hoá thân thành
con vật, cỏ cây, hoa lá hoặc có cuộc sống sung sướng, thậm chí làm vua,
quan… thể hiện khát vọng sống của con nguời. Tục ngữ ca dao đó là những
câu phản ánh tâm tư tình cảm, tâm trạng hoặc được đúc kết thành kinh
nghiệm, triết lý trong cuộc sống, kinh nghiệm trong sản xuất, đối nhân xử thế,
trong dấu tranh xã hội cũng như trong tự nhiên. Đáng chú ý nhất trong văn
học dân gian Tày là thể loại truyện thơ và dân ca.
Về thể loại truyện thơ, những tác phẩm truyện thơ nổi tiếng của dân tộc
Tày như: Thị Ðan, Quảng Tân - Ngọc Lương, Nàng Kim, Chim sáo, Chiêu
16
Ðức, Vượt biển... Đây là những truyện được mọi người biết đến và yêu thích
nhiều, có ý nghĩa khá quan trọng trong nền văn học dân gian truyền thống và
trong đời sống tinh thần của đồng bào. Những tác phẩm này ban đầu đều được
lưu truyền bằng phương thức truyền miệng do các nghệ nhân kể trong những
dịp lễ, tết hay vào lúc nông nhàn. Có thể cốt truyện nguyên sơ còn rất lỏng
Ta rủ nhau về chốn mường hơn
Lượn là một bộ phận thuộc loại hình nghệ thuật dân ca sinh hoạt của
người Tày. Lượn có nhiều tiểu loại, ngoài hai loại cơ bản là lượn cọi và lượn
slương, người Tày còn có lượn Then, lượn nàng Hai, lượn khắp,… Trong cái
nhìn đối sánh với văn hóa dân tộc Kinh, lượn là lối hát giao duyên có thể
tương tự như lối hát quan họ ở Bắc Ninh, loại dân ca này có giai điệu vang xa
tha thiết, lay động lòng người, gợi cảm giác bâng khuâng, thương nhớ. Có thể
nói lượn đã trở thành một thực thể trong đời sống tinh thần, một thành phần
có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu bộc lộ tình cảm
của những người dân Tày yêu thích ca hát. Thông qua lượn mà tiếng hát, lời
ca ngân lên mọi lúc, mọi nơi, trong bản ngoài mường, trở thành một phần
không thể thiếu được trong đời sống tinh thần người Tày.
Phuối pác, phuối rọi là những lời nói có vần, có điệu của nam nữ thanh
niên Tày, Nùng thường dùng hàng ngày. Đây là lối nói tự do, dịch nôm là
“nói chuỗi” thường được diễn ra khi gặp nhau trên đường, ở chợ hay trong lễ
hội… Đó cũng là một hình thức thể hiện tình cảm, nó là những lời ướm hỏi
trêu ghẹo tình tứ thể hiện những sắc thái tình cảm trong tình yêu. Được thời
gian gọt giũa những lời phuối pác, phuối rọi ngày càng cô đọng bóng bẩy và
mềm mại một chất thơ lãng mạn. Phuối pác là nơi thể hiện tình yêu trai gái.
Nội dung chính của các bài hát này là lòng yêu lao động, tình yêu trai gái, tùy
tài năng và cảm xúc của người hát mà làn điệu bài bản các thể hát đó được
biến hoá, sáng tạo không ngừng. Phuối pác là thể dân ca hát đối đáp, có làn
18
điệu nhưng không ngân nga như lượn, thường được dùng nhiều nhất trong hai
trường hợp: khi mới gặp nhau và lúc tạm biệt nhau:
- Chàng ơi, nón cọ hay nón bạc
Nón chàng đội hai người được không
Đội được em xin đi cùng đường
thành đại thụ hay hiện tượng trong nền văn học Việt Nam. Đầu tiên phải kể
đến lớp nhà văn nhà thơ trưởng thành từ kháng chiến chống Pháp, là những
người đặt nền móng đầu tiên cho văn học Tày hiện đại như: Nông Quốc Chấn,
Nông Minh Châu, Nông Viết Toại, Hoàng Triều Ân.
Trước hết về tác giả Nông Quốc Chấn – người anh cả của nền thơ ca
dân tộc thiểu số nói chung và thơ ca dân tộc Tày nói riêng. Ông được xem là
người dân tộc thiểu số đầu tiên: “mang hơi thở của núi rừng Việt Bắc vào thi
ca” là “cánh chim đầu đàn của những người làm văn học cách mạng của các
dân tộc thiểu số” (Tô Hoài). Đọc Nông Quốc Chấn ta thấy toát lên chất trữ
tình đằm thắm, ông viết mộc mạc, giản dị vừa sâu sắc, nhẹ nhàng vừa sôi nổi
như giáo sư Vũ Khiên đã từng nhận xét: “Tâm hồn anh từ nhỏ được nuôi
dưỡng từ chất thơ của tình người, trong giọng hát lượn then, trong âm thanh
đàn tính... thơ anh nhiều lúc hoang sơ như cây rừng, gập ghềnh như sườn
núi”. Bên cạnh việc giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc, Nông Quốc Chấn
luôn tìm tòi và học theo những đổi mới thơ miền xuôi. Ông say mê nghiên
cứu, luôn trăn trở với vấn đề sáng tác của văn học dân tộc thiểu số. Từ
những năm 60 trở đi, thơ Nông Quốc Chấn có nhiều thay đổi nhưng điều
quan trọng là ông ý thức rất rõ rằng bản sắc dân tộc không mâu thuẫn với
việc mở rộng đề tài, chủ đề, thủ pháp diễn đạt... Và thực sự Nông Quốc
Chấn không chỉ là nhà thơ của đồng bào Tày, Việt Bắc mà thơ ông còn được
cả nước đã biết đến và yêu mến.
20
Còn nhà văn nhà thơ Nông Viết Toại thì ngay từ những năm đầu kháng
chiến chống Pháp đã thổi bùng lòng yêu nước vào trong thơ văn mình qua
một số bài ca Cách mạng như: Nhớ chiến khu, Nhớ đàn chim Việt. Ðọc những
sáng tác của Nông Viết Toại càng thêm yêu mến làng bản, núi rừng quê
hương Việt Bắc với những hình ảnh rừng núi bạt ngàn nắng gió, những mái