ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----oOo-----
VÕ NỮ HẠNH TRANG
ĐỊA DANH TÂY NAM BỘ
DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC
Chuyên ngành: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 62.31.70.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2019
Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn – ĐHQG-HCM.
Cán bộ hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. LÊ TRUNG HOA
Phản biện độc lập:
1.
2.
Phản biện:
1.
2.
3.
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở đào
1. Tính cấp thiết của đề tài
Địa danh - cách con người dùng để gọi tên địa hình thiên nhiên, công trình
xây dựng hay đơn vị hành chính, vùng lãnh thổ nào đó - là sản phẩm của con người,
do con người tạo ra nhằm phục vụ cho đời sống của mình. Nghiên cứu địa danh sẽ
giúp làm rõ văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ... của vùng đất ấy.
Hiện nay, cùng với sự phát triển chung của xã hội, TNB cũng chuyển mình
để hội nhập. Quá trình hội nhập đã đem lại những đổi thay tích cực cho đời sống
văn hóa của người dân. Bên cạnh những thuận lợi cũng không tránh khỏi các thách
thức, đặc biệt về mặt văn hóa. Thách thức lớn nhất từ góc nhìn địa danh là sự biến
mất, thay đổi của rất nhiều địa danh, nơi ẩn tàng những đặc trưng về cả lịch sử,
phong tục tập quán, tâm lý... của cư dân trong suốt tiến trình lịch sử. Sự thay đổi đó
ít nhiều mang tính tất yếu nhưng rất đáng lo ngại. Việc nghiên cứu để chỉ ra những
dấu ấn văn hóa của các tộc người sinh sống trên vùng đất thông qua địa danh sẽ
đem đến hai giá trị thiết thực. Thứ nhất, trở thành cứ liệu giúp thế hệ trẻ có thêm cơ
sở hiểu về văn hóa của ông cha, nhất là những địa danh hiện đã không còn tồn tại
hoặc tồn tại nhưng khó có thể hiểu nguồn gốc ra đời. Từ đó sẽ góp phần khơi dậy ý
thức tự hào, gìn giữ các yếu tố tốt đẹp, xóa bỏ những yếu tố tiêu cực vẫn ít nhiều
tồn tại trong địa danh ở TNB. Thứ hai, trong bối cảnh những nghiên cứu tiếp cận về
địa danh TNB còn rất hạn chế, luận án sẽ là một tài liệu hữu ích giúp các nhà
nghiên cứu, hoạch định chính sách, cơ quan quản lý có thể tham khảo để đề xuất
các biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của rất nhiều địa danh đặc biệt, có
ý nghĩa ở vùng đất TNB.
Thực hiện đề tài Địa danh Tây Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa học chính
là cách để chúng tôi hoàn thiện hơn khả năng nghiên cứu nhằm có những đóng
góp nhất định cho công tác giảng dạy. Cao hơn, hi vọng đề tài sẽ là tài liệu tham
khảo cho những ai quan tâm đến văn hóa qua địa danh nói chung và văn hóa qua
địa danh TNB nói riêng.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến địa danh ở Việt Nam
Một số bài viết, công trình tiêu biểu như: Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô
Chuyên sâu hơn, giai đoạn gần đây có khá nhiều luận văn, luận án nghiên
cứu văn hóa, ngôn ngữ qua địa danh ở các tỉnh TNB. Cụ thể: Khía cạnh văn hóa
của địa danh ở tỉnh Đồng Tháp (2008) của Nguyễn Thị Ngọc Bích, Những đặc
điểm chính của địa danh ở Vĩnh Long (2008) của Nguyễn Tấn Anh, Khía cạnh
văn hóa của địa danh ở tỉnh Tiền Giang (2010) của Nguyễn Văn Diệp, Nghiên
cứu địa danh ở tỉnh Bến Tre (2009) của Nguyễn Thị Kim Phượng, Những đặc điểm
chính của địa danh An Giang (2011) của Nguyễn Thị Thái Trân, Địa danh tỉnh
Vĩnh Long qua góc nhìn văn hóa dân gian (2017) của Ngô Thị Thanh…
2.4. Đánh giá chung tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Ba nhóm công trình nêu trên đều có ý nghĩa tham khảo quan trọng ở hai
khía cạnh lý luận và thực tiễn. Với nhóm đầu tiên, trên cơ sở hiểu biết chung về
nghiên cứu địa danh ở Việt Nam cùng cơ sở lý luận đã được các nhà nghiên cứu
đi trước xác lập, chúng tôi có “điểm tựa” để triển khai luận án để những lý giải
dưới góc độ văn hóa sẽ có tính khoa học hơn. Đối với những địa danh không còn
tồn tại ở TNB, những tài liệu đi trước cũng là một kênh quan trọng giúp chúng tôi
so sánh, đối chiếu và làm rõ những đặc trưng văn hóa qua địa danh. Với nhóm thứ
hai và thứ ba, các công trình giúp người nghiên cứu có nguồn tài liệu tham khảo
quan trọng và giá trị phục vụ đề tài. Như vậy, những công trình đó cung cấp nền
tảng cơ sở lý luận cũng như cơ sở thực tiễn cho luận án. Tác giả luận án mong
muốn được tiếp bước những nhà nghiên cứu đi trước bổ sung dưới phương diện
văn hóa học vấn đề này với hi vọng có thể đem đến góc nhìn toàn diện, hệ thống
nhất.
3. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện luận án, chúng tôi hướng đến làm rõ các vấn đề sau:
6
- Hệ thống các công trình nghiên cứu đi trước một cái nhìn khái quát
nhưng cụ thể đối với vấn đề nghiên cứu để có phương pháp triển khai đề tài
phù hợp.
Luận án sử dụng cách tiếp cận liên ngành (văn hóa, lịch sử, địa lý, tâm lý...)
kết hợp với những phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp thống kê, phân
loại, phương pháp điền dã, phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp nghiên
cứu so sánh, phương pháp khảo sát bản đồ, phương pháp lập bản đồ địa danh,
phương pháp quy nhóm địa danh, phương pháp tổng hợp hóa và số học hóa địa
danh. Ngoài ra, chúng tôi cũng sẽ vận dụng các phương pháp nghiên cứu khác
như nghiên cứu hệ thống cấu trúc, định tính, tiếp cận liên ngành... khi cần thiết để
đem lại hiệu quả khoa học cho luận án.
7
6. Câu hỏi nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu: Để giải quyết mục tiêu của luận án, chúng tôi đặt ra
một số câu hỏi như sau:
- Cách định danh của cư dân ở các tỉnh vùng TNB xuất phát từ những cơ
sở nào? Có mối liên hệ nào giữa đặc điểm vùng đất và cách định danh không?
- TNB được biết đến là một vùng sông nước đặc trưng, những đặc trưng
tự nhiên của vùng sông nước này có được phản ánh qua địa danh? Mức độ phản
ánh như thế nào?
- Địa danh có mối quan hệ chặt chẽ với văn hóa, là sự phản ánh của văn
hóa. Với riêng TNB, văn hóa vật chất cũng như văn hóa tinh thần có được phản
ánh cụ thể trong địa danh không? Những nội dung nào thường được tập trung
phản ánh?
- TNB là vùng đất cư trú của người Việt, Hoa, Khmer, Chăm. Liệu rằng có
sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc ấy không? Nếu có, dấu ấn sự giao lưu tiếp
biến ấy thể hiện qua địa danh như thế nào?
Giả thiết nghiên cứu: Nhằm định hướng cho quá trình thực hiện luận án,
chúng tôi tập trung vào một số giả thuyết nghiên cứu như sau:
- Địa danh là sản phẩm của con người, địa danh thường nhằm mục đích gọi
tên. Cách định danh sẽ có mối liên hệ mật thiết với những đặc trưng về tự nhiên,
danh và các tài liệu địa chí có thêm một tài liệu tham khảo hữu ích.
8. Bố cục luận án
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung
chính của luận án sẽ được triển khai thành các chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn, bao gồm những khái niệm công cụ
nghiên cứu, đồng thời khái quát về cộng đồng cư dân ở Tây Nam Bộ.
Chương 2: Đặc trưng tự nhiên TNB qua địa danh, làm rõ đặc trưng tự
nhiên của vùng đất Tây Nam Bộ được thể hiện thông qua địa danh. Các nội dung
được khảo sát làm rõ là địa danh phản ánh đặc trưng địa hình, thủy văn, động thực
vật, không gian, thời gian ở TNB. Cách đặt địa danh thể hiện đặc điểm về sự nhận
thức và tri thức của cư dân TNB khi lựa chọn những yếu tố tự nhiên gần gũi với
con người để làm tên gọi.
Chương 3: Văn hóa vật chất ở TNB qua địa danh, tìm hiểu các địa danh
phản ánh bộ máy tổ chức nhà nước cùng những con người tiêu biểu đến địa danh
phản ánh các hoạt động giao thông, giáo dục, chính trị, quân sự đều được nghiên
cứu rõ trong chương này.
Chương 4: Văn hóa tinh thần ở TNB qua địa danh, trong chương 4 tìm
hiểu tâm lý, tư tưởng, tâm linh của con người ở TNB qua địa danh. Những địa
danh phản ánh đặc trưng về giao lưu, tiếp biến trong quá trình giao lưu văn hóa
giữa các tộc người được thể hiện qua ngôn ngữ đặt địa danh. Đồng thời, những
địa danh được ghi dấu trong kho tàng văn học dân gian cũng được làm rõ ở
chương này nhằm giúp đem lại cái nhìn trọn vẹn hơn cho văn hóa tinh thần cư
dân TNB.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
- Văn hóa: Theo Trần Ngọc Thêm, văn hóa thực hiện bốn chức năng chính
là tổ chức xã hội, điều chỉnh xã hội, giao tiếp và giáo dục. Các chức năng này
được định hình dựa trên các đặc trưng cơ bản của văn hóa là tính hệ thống, tính
của Lê Trung Hoa: “Phải am hiểu lịch sử, văn hóa của địa bàn mình nghiên cứu;
phải am hiểu địa hình, diện mạo, địa lý đặc thù của địa bàn; phải tìm các hình
thức cổ của địa danh; phải nắm vững các đặc điểm về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp
của phương ngữ tại địa bàn; phải thận trọng trong việc vận dụng các phương pháp
ngôn ngữ học khi phân tích địa danh”. Năm nguyên tắc này chi phối cách thu
thập, chọn lọc, phân loại, phân tích, tổng hợp các địa danh ở các địa bàn nghiên
cứu của tác giả trong quá trình thực hiện luận án.
1.1.4. Mối quan hệ giữa văn hóa và địa danh
Địa danh - tên gọi địa lý – hiện nay đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các
nhà khoa học trên nhiều phương diện như ngôn ngữ, lịch sử, văn hóa... bởi lẽ địa danh
chứa đựng nhiều thông tin về lịch sử và sinh thái của vùng đất, phản ánh tư duy con
người. Có thể thấy, văn hóa và địa danh có mối quan hệ gắn bó với nhau. Từ Thu
Mai (2004) nhận định:
Địa danh luôn phát triển trong không gian và thời gian. Đặc thù của nó là
gắn với tính liên tục của văn hóa. Mối liên hệ đặc biệt giữa các tên gọi địa lý với
các đối tượng mà nó gọi tên đều do con người và các nền văn hóa tạo ra. Trên một
vùng văn hóa có nhiều tộc người sinh sống thì có những biểu hiện đan xen của
các nền văn hóa khác nhau và sự khác nhau này sẽ được phản ánh vào địa danh
của vùng đó. (tr.138)
10
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Khái quát vùng đất TNB
- Điều kiện tự nhiên:
Vị trí địa lý: TNB là khu vực nằm ở cực nam của đất nước bao gồm 12
tỉnh (AG, BL, BT, CM, ĐT, HG, LA, KG, ST, TV, TG, VL) và 01 thành phố (CT).
Với tổng diện tích 40.553,1 km2, TNB phía Đông Bắc nằm tiếp giáp với các tỉnh
vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp giới với Campuchia, ba mặt Đông, Nam và
Tây có biển bao bọc. Đồng thời, TNB nằm trong khu vực có đường giao thông
https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_C%E1%BB%ADu_Long
2
https://nslide.com/bai-giang/me-kong-data.qeevtq.html
11
1.2.2. Con người TNB
- Hoạt động kinh tế: Nhờ hệ thống sông ngòi dày đặc và lượng phù sa bồi
đắp hàng năm vào mùa lũ nên người dân nơi đây chủ yếu phát triển nghề trồng
lúa nước. Bên cạnh trồng lúa, người dân TNB còn phát triển kinh tế bằng hình
thức trồng cây công nghiệp, cây ăn trái. Nghề chăn nuôi nhìn chung còn gắn với
nông nghiệp chủ yếu những đàn trâu, bò, vịt ... khá lớn. Các nghề thủ công truyền
thống như đan mây tre, đan đệm, dệt chiếu cũng khá phát triển. Sở hữu vùng sông
nước rộng và đường bờ biển dài nên TNB cũng là một ngư trường lớn. Việc giao
thương mang đặc thù sông nước. “Chợ nổi” cũng là đặc trưng trong hoạt động
kinh tế của vùng.
- Tổ chức xã hội: Dân cư người Việt của TNB chủ yếu là lưu dân đến từ
nhiều vùng miền nên cũng tổ chức quần cư thành làng ấp. Làng ở TNB trải dài
dọc theo các kinh rạch, đường lộ, quan hệ chính của cư dân trong làng là quan hệ
làng xóm láng giềng khiến tính dân chủ, bình đẳng lớn. Về tổ chức gia đình,
người Việt ở TNB theo chế độ gia đình phụ hệ, người đàn ông làm chủ gia đình
nhưng người phụ nữ vẫn có vai trò đáng kể. Còn người Khmer theo gia đình song
hệ và cũng đang trong xu hướng chuyển sang phụ hệ. Người Hoa theo chế độ gia
đình phụ hệ. Người Hoa TNB có hai hình thức tổ chức xã hội là làng xã (người
Minh Hương) và bang (người Đường). Chế độ gia đình của người Chăm TNB
thiên về phụ hệ. Điều này khác với người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận chủ
yếu theo chế độ mẫu hệ. Hình thức tổ chức xã hội cổ truyền là các palay. Hình
thức này hiện cũng đã chuyển thành các jammaah.
(thờ Bà Chúa Xứ; đạo Cao Đài; Hòa Hảo; Tứ Ân hiếu nghĩa; Tịnh độ cư sĩ Phật
hội...). Riêng người Khmer theo đạo Phật Tiểu thừa Theravada. Phật giáo có vai trò
rất quan trọng trong đời sống tinh thần của họ. Bên cạnh đó, người Khmer vẫn duy
trì tín ngưỡng thờ Neak Tà hay thờ Arăk. Người Hoa đa phần theo các tín ngưỡng
dân gian và thờ cúng tổ tiên. Các thần thánh được cư dân người Hoa thờ cúng khá
đa dạng từ Bà Thiên Hậu, Quan Thánh Đế Quân, Ngọc Hoàng, Khổng Tử đến Môn
Thần, Táo Quân, Ông Bổn, Tiền Hậu Địa Chủ Tài Thần, Quan Âm Bồ Tát, ....
Phong tục, lễ hội: Người Việt TNB về cơ bản giữ những phong tục tập
quán được mang theo từ Bắc Bộ, Trung Bộ về nghi lễ vòng đời, lễ tết.... Đồng
thời trong quá trình cộng cư với các dân tộc khác, người Việt đón nhận thêm
nhiều yếu tố trong phong tục của người Khmer, người Hoa, người Chăm.
Văn học, nghệ thuật: TNB là vùng đất có kho tàng văn học, văn nghệ dân
gian phong phú. Có thể kể đến các truyện dân gian phản ánh sự nghiệp khai phá
đất đai, gắn liền với những danh thắng, di tích và nhân vật lịch sử; kho tàng ca
dao và dân ca với các bài hát ru em, hát đồng dao, điệu hò, điệu lý, ... mang đậm
dấu ấn đất phương Nam nhưng vẫn chất chứa hồn cốt văn hóa Bắc và Trung Bộ.
Đặc biệt, người dân TNB rất yêu thích hát vọng cổ và hát tài tử. TNB còn kho
tàng văn học dân gian phong phú của người Khmer gồm nhiều thể loại như truyện
cổ tích, thần thoại, tục ngữ.... cùng với đó là các loại hình nghệ thuật rất độc đáo
như múa, âm nhạc, sân khấu (kịch hát Rôbam, kịch hát Yukê), kiến trúc, điêu
khắc, hội hoạ (qua hệ thống chùa chiền như chùa Âng, chùa Hang, chùa Kh'leang,
chùa Dơi).... Tương tự, người Hoa ở TNB có nền văn học nghệ thuật đa dạng từ
văn học, âm nhạc truyền thống, tân nhạc, ca kịch, hí kịch, múa hầu, múa lân - sư rồng đến tạp kỹ, kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, thư pháp, tranh kiếng. Đáng chú ý,
các hội quán, miếu, đình, đền, chùa, nhà thờ chứa đựng nhiều giá trị văn hóa vật thể
lẫn phi vật thể của người Hoa trên vùng đất TNB. Người Chăm được biết đến với
nhiều hoạt động như ca, múa, kịch nhưng thành tựu nổi bật về nghệ thuật không thể
không nhắc đến chính là các thánh đường lớn với lối kiến trúc và trang trí rất độc
đáo, đặc thù.
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã tập trung vào những nội dung chính sau :
co, lớn, nhỏ... như địa điểm Bưng Tức (Kế Sách – ST), rạch Thông Lưu (Long
Xuyên – AG), ngọn Hóc Đùng (Mỹ Tho – TG), sông Đầm Cùng (Phú Tân – CM);
địa danh chỉ sự vận động của dòng nước xoáy, ngoằn ngoèo... như địa điểm Bún
Đình (Châu Thành A – VL), rạch Cần Lố (Cao Lãnh – ĐT), rạch Sâu (Trà Ôn –
VL); địa danh chỉ mức độ và tính chất loại nước cạn, sâu, mặn, màu sắc như sông
Cửa Cạn (Phú Quốc – KG), sông Nước Trong, sông Nước Đục ở HG, Cà Mau
của thành phố, tỉnh (CM), vườn chim (Đầm Dơi – CM) xuất phát từ gốc Khmer
Tưk Khmâu “nước đen” (TVK,TVC). Nước ở khu vực này có màu đen vì lá mục
của các cây tràm, ráng, đước làm cho nước có màu vàng sậm.
2.2. Địa danh phản ánh động thực vật
2.2.1. Địa danh phản ánh động vật
Với điều kiện đất đai, khí hậu thủy văn đặc trưng, TNB trở thành địa bàn
sinh trưởng của nhiều loài, giống động vật. Do vậy mà địa danh ở đây cũng mang
tên các con vật rất phong phú từ những loài động vật trên cạn cho đến các loài
động vật dưới nước, động vật biết bay, cụ thể: bưng Sấu Hì ở giữa đồng Tháp
14
Mười (ĐT), cầu Cá Lóc (Trà Cú – TV), ấp Vú Nàng (BT), vàm Rạch Trư (KG),
lung Bàu Tượng (Tam Bình – VL), đảo Cao Cát thuộc quần đảo Thổ Châu (Phú
Quốc – KG), tên sông, thị trấn, quận, huyện (TV) đều mang tên Càng Long Càng
Long gốc Khmer An Loong, nghĩa là “con ong bầu” (NTA).
2.2.2. Địa danh phản ánh thực vật
Thực vật có vai trò rất quan trọng trong đời sống người Việt, từ cây gỗ
làm nhà ở đến cây lương thực, thực phẩm có mặt trong bữa ăn hàng ngày. Do vậy,
cây xanh đi vào tâm thức người dân và phản ánh vào địa danh một cách tự nhiên .
Trong luận án, chúng tôi thu thập được số lượng địa danh phản ánh thực vật ở
TNB nhiều nhất với trên 180 loại. Chúng tôi tạm chia địa danh mang tên cây
thành các nhóm sau: loại cây thân cỏ, loại rau củ quả, loại cây thân gỗ. Ví dụ:
kinh Bìm Bìm (Thanh Bình – ĐT) chỉ loại “dây cỏ hay leo rào, hột nó là hắc sửu,
15
2.3.3. Địa danh phản ánh các đặc trưng tự nhiên khác
Địa danh TNB thể hiện qua yếu tố cái là đặc trưng rất riêng so với các
vùng miền khác ở nước ta. Lê Trung Hoa dựa vào các văn bản cổ, kim để xác
định ý nghĩa của Cái và chứng minh cho rằng Cái có nghĩa là “dòng chảy” và
cách giải thích này phù hợp với khoảng 80% trên tổng số 160 địa danh mang yếu
tố Cái ở Nam Bộ. Theo thống kê của chúng tôi, số lượng địa danh mang yếu tố
cái trong toàn địa bàn Nam Bộ có tất cả là 220 đơn vị. Ở TNB số lượng địa danh
mang yếu tố cái ở TNB chiếm đại đa số với 212 đơn vị như sông Cái Bè (TG),
Cái Bát (CM), rạch Cái Cái (ĐT) ...
Địa danh gắn với nguyên vật liệu tự nhiên của vùng như ngôi chùa có kiến
trúc độc đáo ở Sóc Trăng (ST) có tên chữ là Bửu Lâm Tự (còn gọi là chùa Đất Sét)
được ông Ngô Kim Tây xây dựng vào đầu thế kỷ XX để tu tại gia. Chuyện kể vào
năm 1928, trong khi trùng tu chùa, ông Ngô Kim Tòng (cháu ông Tây) nằm mơ
thấy Đức Phật báo mộng cho ông đi về hướng Tây để lấy đất sét về xây đắp tượng
mà thờ. Tỉnh dậy ông thực hiện theo giấc mơ. Ông đã tạo nên 1901 bức tượng Phật,
trên 200 mẫu tượng thú, lư hương, bảo tháp... đều bằng đất sét trong suốt 42 năm.
Tên gọi của các cây cầu khá đa dạng với các nguyên vật liệu có thể kể đến cầu
Sắt Vĩ (Cao Lãnh – ĐT), cống Đá (Tháp Mười – ĐT), cầu Tre (Gò Công Đông –
TG).
Phản ánh màu sắc, hương thơm cũng là một nét riêng trong địa danh TNB
như vùng Bãi Thơm (Phú Quốc – KG) xuất phát từ lý do tại đây có một loại thảo
mộc vào lúc bình minh thì tỏa ra một mùi thơm lan ra cả vùng, nhưng khi mặt trời
lên thì mùi thơm tan mất (NAĐ). Ngã ba có hình dáng như hai ống của một cái
quần ở Bến Tre nên được gọi tên là Ống Quần (NTKP). Ngoài ra còn có gãy Cờ
Đen (Tháp Mười - ĐT), cầu Đỏ (Mỹ Tho), địa điểm Bãi Kem (Phú Quốc – KG)...
2.4. Giá trị văn hóa của các địa danh phản ánh đặc trưng tự nhiên TNB
Giá trị phản ánh sự gắn bó mật thiết, sâu sắc của con người với tự nhiên.
Việc mượn các đặc điểm đó vừa đơn giản, dễ hiểu, dễ nhớ vừa là một cách cung
cấp hiểu biết, trao truyền kinh nghiệm, kiến thức cho thế hệ sau. Ví dụ: đầm
vùng đô thị rộng lớn gắn với sự kiến tạo của địa hình sông nước Nam Bộ thì địa
danh của Tây Nam Bộ cho thấy một hệ thống sông, ngòi, kênh, rạch chằng chịt
gồm cả tự nhiên và nhân tạo cùng những đặc trưng của miền sông nước.
Thứ hai, có thể nhận thấy hệ sinh thái thế giới động thực vật ở TNB rất
phong phú được thể hiện qua địa danh. Theo số lượng thống kê, ở TNB có trên
180 địa danh mang tên các loài thực vật cho thấy sự đa dạng của hệ thống thực
vật ở vùng đất này. Điều đó có thể nhận định cư dân TNB đã đem thế giới quen
thuộc xung quanh vào từng tên gọi để dễ nhớ, dễ hiểu nhưng cũng cho thấy sự
mộc mạc, đơn giản trong chính tư duy của người dân nơi đây.
Thứ ba, thông qua địa danh, các đặc điểm không gian, thời gian ở TNB
cũng được nhận diện. Nhìn chung, ngoài các địa danh thuần Việt, còn nhiều địa
danh chứa các yếu tố Hán Việt hoặc ngôn ngữ riêng của dân tộc nào đó Việt hóa.
Đây cũng là đặc trưng cho thấy sự giao lưu văn hóa trong quá trình cộng cư giữa
các tộc người trên vùng đất.
Thứ tư, các địa danh ở TNB phản ánh đặc trưng tự nhiên vùng đất không
chỉ giúp gọi tên mà còn chứa đựng những giá trị văn hóa độc đáo bởi nó được “ra
đời” từ tư duy, nhận thức của các chủ thể văn hóa trên vùng đất. Nó vừa có giá trị
như “công trình” ghi chép lại những đặc trưng về tự nhiên từ địa hình, động vật
thực vật đến không gian, thời gian vừa trở thành cứ liệu có ý nghĩa khi nghiên cứu
TNB trên nhiều phương diện, trong đó có văn hóa.
Chương 3
VĂN HÓA VẬT CHẤT Ở TÂY NAM BỘ QUA ĐỊA DANH
3.1. Địa danh phản ánh dấu ấn lịch sử ở TNB
3.1.1. Địa danh phản ánh tổ chức hành chính ở TNB
17
- Giai đoạn nhà Nguyễn (1698 – 1867). Những địa danh ở TNB hiện nay
còn phản ánh khá rõ dấu ấn của văn hóa tổ chức, cụ thể ở đây là bộ máy chính
quyền của nhà Nguyễn từng thiết lập ở vùng đất này. Rạch Bộ Pháo (Chợ Lách BT), chợ Giám Hạt (Chợ Gạo - TG), sông Ông Đốc (Thới Bình – CM), bến đò
thân” vào địa danh. Trước hết có thể kể đến rất nhiều địa danh mang tên những
người có công khẩn hoang đất, đào kênh phát triển kinh tế, xây dựng vùng đất,
hoạt động trong đời sống văn hóa, xã hội như sông Ông Tiều ở Mang Thít (VL),
kênh Tư Dân huyện Vũng Liêm (VL), phường Bùi Hữu Nghĩa (Bình Thủy - CT)
…
- Những nhân vật đặc biệt khác ở TNB. Với những người có công với đất
nước, việc sử dụng nhân danh để làm địa danh cũng là một cách để bày tỏ lòng
18
biết ơn, là nét đẹp trong văn hóa ứng xử của người Việt. Kênh, xã (Châu Đốc –
AG) cùng mang tên Vĩnh Tế. Vĩnh Tế vốn là tên bà Châu Thị Tế, vợ của Nguyễn
Văn Thoại, người có công giúp chồng đào con kênh này. Chữ Vĩnh thêm vào
trước tên bà vốn là tên đệm dòng họ của cha bà là Châu Vĩnh Huy. Ở hai tỉnh AG
và KG có con kênh Võ Văn Kiệt, dài 48 km. Việc chọn kênh Tuần Thống - T5 để
đặt tên Võ Văn Kiệt thể hiện sự ghi nhớ, biết ơn của nhân dân đối với công lao
của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã hết lòng chăm lo đời sống của nhân dân.
3.1.3. Địa danh phản ánh sự kiện lịch sử
- Các sự kiện gắn liền với lịch sử dân tộc. Ở Việt Nam, nhiều địa danh
được đặt gắn với các sự kiện lịch sử nào đó của dân tộc, địa phương. Ở tỉnh VL có
hai dòng kênh được đào năm 1979 và 1984 cùng mang tên Ba Tháng Hai (ngày 3
tháng 2 (3/2) năm 1930) là ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Những sự
kiện quan trọng khác cũng được chọn làm địa danh như cầu ở huyện Vũng Liêm
(VL) khánh thành năm 2012 được lấy tên là Dung Quất. Tên gọi này nhằm chỉ
khu kinh tế trọng điểm Dung Quất (Quảng Ngãi), cách đặt tên này còn nhằm kỷ
niệm ngày sinh của người ra quyết định xây dựng khu kinh tế Dung Quất là Thủ
tướng Võ Văn Kiệt (23/11/1922), người con của đất Vũng Liêm (VL), người có
công lớn trong công cuộc đổi mới đất nước.
- Các sự kiện gắn liền lịch sử TNB. Địa danh giúp biết được các sự kiện
lịch sử hay các biến cố xảy ra qua nhiều địa danh ở TNB. Có thể kể đến sự kiện Bãi
3.2. Địa danh phản ánh nghề nghiệp
3.2.1. Địa danh phản ánh nghề nghiệp liên quan đến sông nước
Với đặc trưng tự nhiên sông nước, có lẽ vì thế mà những địa danh phản
ánh nghề nghiệp liên quan đến sông nước khá nhiều như nghề đánh bắt cá, nghề
nghiệp trên sông nước, nghề nông, nghề làm muối được phản ánh qua các địa
danh sau: địa điểm Ba Nò ở Gò Công Tây (TG), xóm Chài (VL), xã Đại Điền
(Thạnh Phú - BT), ấp Lò Bom ở Kiên Lương (KG), ấp Diêm Điền và Long Điền
(Đông Hải - Bạc Liêu); sông Lái Tân ở Trà Ôn(VL), cầu Khạo Đỏ (Đầm Dơi CM)...
3.2.2. Địa danh phản ánh nghề nghiệp liên quan đến sản xuất, buôn
bán, xây dựng
Là vựa lúa đứng đầu cung cấp lương thực của cả nước, TNB còn phát
triển nhiều nghề thủ công tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và
trao đổi, buôn bán một loại nông sản hay sản phẩm đặc trưng tại một vùng nào đó.
Địa danh phản ánh dấu ấn các nghề thủ công như đường Lò Rèn (Vĩnh Long –
VL), cầu Lò Vôi (Tam Bình - VL); địa danh phản ánh thương nghiệp như chợ
Gạo (chợ bán nhiều gạo - Lê Quý Đôn), chợ Cà Lang (Châu Thành – KG) gốc
Khmer Pho-xa Tho-lang, nghĩa là “chợ bán đồ đất nung”(NAĐ). Bến Cù Là
(Châu Thành – KG) xuất phát từ câu chuyện ở nơi này trước đây thường có một
người Hoa ghé thuyền bán hàng mà món được ưa thích là dầu cù là (LTH).
3.2.3. Địa danh phản ánh các nghề nghiệp khác
Những nghề nghiệp phản ánh qua địa danh là minh chứng rõ nét cho văn
hóa vật chất trong quan hệ giữa con người với tự nhiên, mối quan hệ giữa con
người với con người, nói khác hơn là trong quan hệ xã hội, nhiều nghề nghiệp
cũng hình thành và giúp cho đời sống con người ổn định hơn. Những địa danh
phản ánh nghề bầu gánh hát, nghề thầy thuốc, nghề chăn nuôi .... được thể hiện
qua cách đặt địa danh như rạch Bà Bầu ở Bình Minh (VL), bưng Bầu Hầu (Trà
Ôn – VL), cầu Bà Mụ (Phú Khương – BT), rạch Thầy Quơn (Vĩnh Thuận - KG),
cầu Lò Heo (Mỹ Xuyên – ST), bãi biển, đảo nhỏ tên Hòn Heo (Kiên Lương –
KG).
3.3. Địa danh phản ánh hoạt động giao thông, giáo dục
Trải qua lịch sử có nhiều thăng trầm, nhất là giai đoạn nhà Nguyễn và
hai cuộc kháng chiến chống kẻ thù giành độc lập tự do, TNB có nhiều ký ức
gắn liền với nhân dân trong vùng. Địa danh liên quan đến hoạt động quân sự giai
đoạn trước thế kỷ XX có rạch Bà Hét (Châu Giang – BT) cũng gọi Bà Thét, cù
lao Bảo ở giữa sông Ba Lai và sông Cửa Đại (BT), địa điểm Trại Lâm bên sông
Cửa Cạn (KG). Xuất phát từ hoạt động quân sự như cầu Chiến Binh (Năm Căn –
CM), đường Dây Thép (Cai Lậy – TG), Chợ Mộ Bia (Rạch Giá – KG) ...
Tiểu kết chương 3
Chương 3 đi sâu tìm hiểu địa danh phản ánh đời sống văn hóa vật chất.
TNB là một bộ phận trong hệ thống địa danh chung ở địa phương, phản ánh
khách quan, cụ thể các dấu ấn văn hóa vật chất của vùng đất. Vì thế, địa danh
ngoài việc giúp hiểu rõ đặc trưng văn hóa vùng miền còn giúp hiểu tư tưởng, tình
cảm, nhận thức... của con người TNB thông qua cách định danh. Qua đó chúng tôi
rút ra một số kết luận sau:
21
Địa danh TNB phản ánh dấu ấn lịch sử. Dấu ấn lịch sử ở đây biểu hiện cụ
thể qua địa điểm, con người, chức vụ được con người “mang chứa”. Và vì thế,
giúp “tái hiện” các hoạt động của cư dân TNB trong các giai đoạn lịch sử một
cách rõ nét. Trước hết, thông qua các địa danh liên quan đến chức vụ, tên người
có thể nhận ra cơ cấu bộ máy tổ chức của Việt Nam nói chung, TNB nói riêng khá
đầy đủ. Bên cạnh đó là những địa danh “ghi dấu” các nhân vật liên quan đến
chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội (Mương Tịnh, Đốc Binh Kiều, Chủ Chọt, Chủ
Khanh, Ông Hóng, Tân Công Chí...) hay những địa danh gắn với các nhân vật có
mối liên hệ đặc biệt khác (Thầy Cầu, Tư Bầu, Ông Cò).
Địa danh TNB phản ánh hoạt động nghề nghiệp. Là vùng đồng bằng sông
nước đặc trưng, nghề nghiệp gắn liền với sông nước đã được địa danh “ghi lại”
một cách chân thực (Bãi Nò, Xóm Chài, Cầu Câu, Đầm Chít). Nghề nghiệp liên
quan đến sản xuất, mua bán trao đổi hàng hoá cũng được nhận diện cụ thể qua địa
- Địa danh phản ánh lòng biết ơn, tư tưởng“uống nước nhớ nguồn: Sự
yêu quý, biết ơn đối với những người đã giúp đỡ con người hay có sự đóng góp
nào đó cho cộng đồng trở thành một đặc trưng tâm lý không thể thiếu của người
dân TNB trong ứng xử. Những địa danh thể hiện sự nhớ ơn những người có công
là người địa phương, những người có công với đất nước như đầm Bà Tường
(CM), ngã ba Ông Trạch (Phước Long - BL), rạch Bà Phủ (Tháp Mười – ĐT),
đường Trương Định (Mỹ Tho – TG), đường Trần Hưng Đạo (Mỹ Tho - TG),
đường Hai Bà Trưng (Ninh Kiều- CT), đường Nguyễn Du (Long Xuyên - AG)...
- Sự thoáng mở trong giao lưu văn hóa: Trong suốt quá trình chung sống,
cư dân các dân tộc ở TNB (Việt, Khmer, Hoa, Chăm) luôn “mở lòng” tiếp nhận
những khác biệt về văn hóa. Sự tiếp nhận ấy thể hiện qua cách định danh, từ các
yếu tố ngôn ngữ Khmer, Chăm đến Hoa đều được sử dụng. Thậm chí, để dễ gọi
tên, nhiều địa danh được Việt hóa nhưng lại dựa trên chính ngôn ngữ của dân tộc
gốc chứ không phải dịch ra theo tiếng Việt. Một số địa danh như: cầu Chệt Xúi
(Cao Lãnh – ĐT), “chệt” chính là yếu tố chỉ người Hoa. Chợ Sóc Sãi (Châu Thành
– BT) do tiếng Khmer srôk (sóc) và sãi chỉ người đàn ông đi tu trong chùa. Cầu
Kinh Xáng (Châu Thành – TG) xuất phát từ tiếng Pháp chaland. Bên cạnh đó còn
nhiều địa danh có ngữ âm lạ lẫm với người Việt nhưng vẫn tồn tại và được sử
dụng bền bỉ theo thời gian như Gò Quao (KG), Bảy Háp (CM), Lấp Vò (ĐT), Ba
Rẹt (ST), Trèm Trẹm (KG), Già Giách (VL), Xoài Mút (TG)...
4.1.3. Tâm lý kiêng kỵ và thích dùng số thứ tự
Kiêng gọi tên một số con vật. Việc kiêng kỵ giúp cho người TNB tin rằng
sẽ tránh khỏi những rủi ro, nguy hiểm khi đối diện với thiên nhiên hoang dã. Đặc
biệt là cọp. Những địa danh như: rạch Thầy Hội (Ngọc Hiển - CM), ấp ở huyện
Vĩnh Lợi (BL) và cầu trên tỉnh lộ 937B (ST) là Nàng Rền.
Kiêng gọi tên trực tiếp những người thuộc hoàng tộc, quan lại (còn gọi
kỵ húy, húy kỵ, tị húy). Tục kiêng húy ảnh hưởng tới những từ thường dùng trong
ngôn ngữ hàng ngày, kể cả việc đặt tên con cái, đến các địa danh,… Ví dụ:
núi Hoa Thê bị nói chếch thành Ba Thê do kiêng húy bà Hồ Thị Hoa (mẹ vua
Thiệu Trị), cầu Hàm Long đổi thành Hàm Luông (BT), cầu Thành Đức (VL)
mương ở Châu Phú – AG có tên gọi là Chùa Ông xuất phát từ tín ngưỡng thờ Ông
Bổn, bởi: Chùa Ông là chùa thờ Trịnh Hòa, người có công mở đường cho việc giao
thông trên biển, luôn phù hộ cho việc buôn bán của họ (LTH).
- Tín ngưỡng người Chăm: Nổi bật trong tín ngưỡng thờ mẫu ở TNB là
hiện tượng tôn thờ bà Chúa Xứ. Tín ngưỡng thờ Mẫu được phản ánh qua địa danh
như hang ở Hà Tiên (KG) có tên gọi Bà Chúa Xứ. Chùa Bà hay còn gọi chùa Bà
Chúa Xứ, là nữ thần được thờ ở Châu Đốc (An Giang), hằng năm vào tháng tư âm
lịch được nhân dân đi viếng rất đông để cúng Bà, xin Bà ban lộc, cầu cho được
nhiều may mắn, bình an. Ngoài ra còn có rạch Miễu Cậu (Cái Bè – TG), huyện
Tháp Mười (ĐT), kinh Tắc Cậu ở Châu Thành (KG).
4.2.2. Tôn giáo
- Phật giáo: Ở Tây Nam Bộ, dấu ấn rõ nét của Phật giáo trong địa danh,
trước hết là qua các địa danh phản ánh tên gọi của tôn giáo. Bởi lẽ cùng với người
Việt, “cả ba dân tộc Khmer, Chăm, Hoa đều có truyền thống văn hóa khác nhau,
nhưng giữa họ cũng có những điểm chung. Điểm chung lớn nhất là cả ba dân tộc
đều theo hoặc đã từng theo Phật giáo” [1, tr. 188]. Thống kê sơ bộ, chúng tôi nhận
thấy khá nhiều dấu ấn của Phật giáo trong địa danh như cầu Phật Đá (Châu Thành
– TG), địa điểm Gò Phật (Hòn Đất – KG), cầu Sư Son (BL), giồng Sư Cụm (Cầu
Ngang – TV), núi Chùa Vàng (Hà Tiên – KG), lộ Chùa Miên (Vũng Liêm – VL) ...
24
- Công giáo: Một tôn giáo có thời gian du nhập không dài nhưng lại để rất
nhiều dấu ấn trong đời sống văn hóa cũng như trong địa danh TNB chính là đạo
Công giáo. Tìm hiểu các địa danh gắn với Công giáo sẽ giúp thấy rõ hơn sự gắn
bó mật thiết của tôn giáo này với đời sống người dân TNB. Những địa danh mang
tên chợ (Chợ Mới – AG), kênh Ông Cha (Châu Thành – BT), kênh Dì Phước
(Vũng Liêm - VL), kênh Phao Lồ (Mang Thít – VL), rạch Thuộc Đạo (Châu Thành
– BT).
- Các tôn giáo khác: Đặc trưng của Cao Đài là tính dung hợp, bình đẳng,
tạo ra cách đọc hoàn toàn khác so với âm gốc nhưng cơ sở lại là nghĩa của các từ
trong âm gốc tạo thành. Ví dụ: Địa danh Cái Tàu Thượng khởi nguồn từ tiếng
25
Khmer Păm Prê Sampou Lơ (Vàm, rạch, chiếc tàu, trên), Koh Phlơn (cù lao, lửa)
là gốc địa danh cù lao Dao Lửa.
Địa danh “Việt hóa” tiếng Pháp. Có hai cách: Một là, đọc chệch âm để
dễ gọi theo kiểu phát âm của người Việt. Ví dụ: địa danh có từ “Bắc”, bắc ở đây
không nhằm chỉ phương hướng mà là một cách để chỉ chiếc đò ngang dùng để di
chuyển trên sông nước (le bac), có thể kể tên một số địa danh như Bắc Cao Lãnh,
Bắc Mỹ Thuận,....Hai là, dịch nghĩa từ tiếng Pháp để gọi, dùng ngôn ngữ của họ
để đặt địa danh đúng như âm gốc. Ví dụ: đường Yersin (Mỹ Tho – TG), kênh
Salicette và kênh Champeaux (Gò Công Đông – TG).
4.3.2. Ở phương diện văn học
- Địa danh phản ánh qua các thể loại tự sự dân gian: Để giải thích nguồn
gốc tên gọi của núi, sông, ao, hồ, làng, kênh, rạch... con người đã tìm đến các thể
loại tự sự dân gian như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích ... Điều đó giúp ta miêu
tả hoặc xác định vị trí, nguồn gốc hình thành nguồn gốc, lai lịch của nhân vật có
liên quan đến địa danh. Đồng thời kể về công tích đóng góp của nhân vật. Ví dụ:
Sự tích Vàm Hổ Cứ (Đồng Tháp), Sự tích sông Xá Hương và miếu ông Bần Quỳ
(Long An)... Kể về diễn biến sự kiện lịch sử, công trạng của nhân vật có liên quan
đến địa danh có Sự tích tên gọi Rạch Gầm (Tiền Giang), Sự tích Cánh đồng Nọc
Nạn (Bạc Liêu), Sự tích Mả Hộc (Long An). Ngoài ra là những địa danh gắn với
các câu chuyện liên quan đến đời sống sinh hoạt của cư dân TNB như rạch Trâu
Trắng (Cao Lãnh – ĐT), Bưng Sấu Hì (Tháp Mười – ĐT)...
- Địa danh phản ánh qua các thể loại văn vần dân gian: Địa danh trở
thành một trong các nguồn cảm hứng cho nhiều bài ca dao, dân ca, hò, vè, tục
ngữ..... Mỗi địa danh “thông báo” giúp xác định giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể
tiêu biểu của TNB. Có thể kể đến rất nhiều câu ca dao nói về tình cảm, tình yêu