HÔN NHÂN VIỆT – ĐÀI Ở MIỀN TÂY NAM BỘ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA - Pdf 33

ĐHQG TP.HỐ HỒ CHÍ MINH - TRƯỜNG ĐH KHXH&NV
KHOA VĂN HÓA HỌC

VĂN HÓA SO SÁNH
TIỂU LUẬN

HÔN NHÂN VIỆT – ĐÀI Ở MIỀN TÂY NAM
BỘ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA


GVPT: NGUYỄN NGỌC THƠ


DANH SÁCH THÀNH VIÊN :








NGUYỄN THỊ QUỲNH NHƯ – 1056140031
ĐỔ NGỌC PHƯƠNG QUỲNH – 1056140035
NGUYỄN KHIẾT TƯỜNG – 1056140057
PHẠM NGỌC KHÁNH VI – 1056140061
ĐẶNG THẾ HIỂN - 1056140072
HOÀNG KHÁNH HIỀN – 1056140073
NGUYỄN LÊ KIM PHƯỢNG - 1056140080



13.863

1996

3.351

2001

12.417

1997

4.827

2002

13.743

1998

5.035

2003

11.358

1999

8.482


cường quan hệ hợp tác giữa hai bên. Bài viết xin được tập trung vào hôn nhân Việt –Đài ở miền
Tây Nam Bộ như một trường hợp điển hình.

1. Cơ sở lý luận và thực tiễn:

Miền Tây Nam Bộ là vùng đồng bằng sông Cửu Long bao gồm 12 tỉnh ( An Giang, Bến Tre,
Bạc Liêu, Cà Mau, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà
Vinh, Vĩnh Long ) và 1 thành phố trực thuộc trung ương ( Thành phố Cần Thơ). Theo thống kê
đến 89% trong số phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan là từ miền Tây Nam Bộ và hiên tượng
này cũng đang dần nổi lên ở phía Bắc.
Sau năm 1997, số lượng các cô gái Việt Nam lấy chồng Đài Loan đột ngột gia tăng ở một vài địa
phương thuộc đồng bằng Nam bộ như: Tây Ninh, Cần Thơ, Đồng Tháp…Một số tỉnh đã rộ lên
“cơn sốt” lấy chồng ngoại. Lấy ví dụ ở tỉnh Tây Ninh (một tỉnh giáp với Cămpuchia, khá xa


TP.Hồ Chí Minh), theo thống kê của Hội phụ nữ tỉnh và Sở Tư pháp, năm 1995 mới chỉ có 78 vụ
kết hôn giữa cô dâu Việt và chú rể Đài Loan. Sau đó, con số này cứ tăng dần, tăng dần… Một số
xã, phường của tỉnh Cần Thơ có số người “lấy chồng ngoại”nhiều hơn chồng nội, như chẳng hạn
xã Tân Lập thuộc huyện Thốt Nốt còn được người dân gọi là “đảo Đài Loan”.
Xem hôn nhân Việt- Đài ở miền Tây Nam Bộ như một tiểu văn hóa , chúng tôi phân tích, lý giải
các thành tố văn hóa của hiện tượng và quan hệ giữa chúng. Văn hóa nhận thức về hôn nhân
xuyên quốc gia là nền tẳng chi phối, quyết định văn hóa tổ chức cũng như văn hóa ứng xử trong
hôn nhân xuyên quốc gia. Trong giới hạn phạm vi đề tài chúng tôi xin tập trung trước hết vào hai
thành tố- văn hóa nhận thức và văn hóa tổ chức.
Trường hợp nghiên cứu được đặt trong phối cảnh so sánh. So sánh nội văn hóa ( giữa Nam Bộ và
Bắc Bộ, giữa miền Tây Nam Bộ và miền Đông Nam Bộ) và so sánh xuyên văn hóa ( giữa Việt
Nam và Đài Loan, giữa Đài Loan và Hàn Quốc ) không chỉ giúp lý giải hôn nhân Việt- Đài ở
miền Tây Nam Bộ mà còn góp phần soi sáng những quy luật chung với hôn nhân Việt- Hàn ỏ
đây, đồng thời dự báo được xu hướng hình thành, phát triển của hôn nhân xuyên quốc gia ở Bắc
Bộ.

kết, gặp chùa cũng tu. Bên cạnh đó, Nam Bộ có cấu trúc mở, tính cách người Nam Bộ phóng
khoáng, nên vùng này dễ tiếp nhận những yếu tố ảnh hưởng từ bên ngoài, kể cả phong tục cưới
hỏi.
Thành phần dân cư ở Bắc Bộ chủ yếu là người Việt, trong khi đó ở Nam Bộ là sự chung sống
của nhiều dân tộc, chủ yếu là người Việt-Hoa-Chăm và Khmer.
Dân số
Việt
Khmer
Chăm
Hoa

Bắc Bộ
16.833.837
16.721.047
302
29
4.504

Tây Nam Bộ
16.130.675
14.884.515
1.025.861
13.766
199.778

Đông Nam Bộ
11.709.923
10.708.118
27.297
97.476

hướng hội nhập và giao lưu quốc tế mở rộng, người nước ngoài đến Việt Nam, trong đó có cả
Đài Loan ngày càng nhiều, vì vậy tình yêu giữa người Việt và người nước ngoài cũng không còn


là điều hi hữu. Vì vậy, hôn nhân giữa người Việt với Đài Loan cũng không nằm ngoài vòng này,
và ngày càng nhiều, được coi như là một chuyện bình thường, hiện tượng lấy chồng Đài Loan ở
Tây Nam Bộ khá phổ biến.
Bên cạnh đó không thể không nhắc đến hôn nhân với Việt kiều- dù cùng dân tộc nhưng ở chừng
mực nào đó Việt kiều cũng có liên quan đến nước ngoài như ăn, mặc, ở, lối sống…., gắn với
“giấc mộng Hoa Kỳ” - từ sau năm 1975, đã không ngừng là một dòng chảy mạnh mẽ, đồng hành
và chia sẻ khá nhiều điểm chung với làn sóng kết hôn với đài Loan, Hàn Quốc.
b. Đài Loan:
Đài Loan tuy cũng có sự đa dạng nhưng không mang tính đa văn hóa, đa chủng tộc như ở Nam
Bộ, mà ở Đài Loan lại có sự thuần nhất, thuần chủng cao. Điều này thể hiện rõ ở chỗ mọi dân tộc
sinh sống trên Đài Loan đều có cùng nguồn gốc từ Trung Hoa mà ra, cho nên họ cùng một nền
văn hóa với nhau, tuy rằng ở Đài Loan cũng có sự riêng biệt nhưng văn hóa chung vẫn là chủ
yếu.
Dù giữa thế kỉ XVII bị Tây Ban Nha, Bồ đào Nha nhòm ngó và trở thành thuộc địa của Hà Lan,
đến thế kỉ XIX thì bị Nhật chiếm đóng 50 năm, nhưng Đài Loan vẫn là một hòn đảo tương đối
biệt lập. Dân cư nơi đây đa số là người Hán, chủ yếu đến từ Khách Gia, Phúc Kiến, Hakka…
Nhìn chung, văn hóa Đài Loan ít có sự phóng khoáng, ít chịu tiếp nhận những cái bên ngoài, ít
dung hợp với tha nhân, tha tính hơn ở Nam Bộ Việt Nam. Về vấn đề hôn nhân với nước ngoài ở
Đài Loan chỉ mới có trong thời gian ngắn ngủi ( khoảng giữa thập niên 90 của thế kỉ XX đến nay
), tất nhiên vấn đề này vẫn còn rất mới lạ đối với người dân Đài Loan, họ vẫn chưa thể chấp nhận
mấy chuyện người nước ngoài về làm dâu trong họ, có sự khác biệt về ngôn ngữ, lối sống, phong
tục tập quán…., có lẽ vì thế mà người dân Đài Loan có một cái nhìn tiêu cực đối với hiện tượng
này, thậm chí bày tỏ thái độ phân biệt chủng tộc. Vì thế, không phải cô dâu Việt nào cũng sung
sướng và may mắn khi làm dâu nơi xứ người, đã có rất nhiều vấn nạn xảy đến với những cô dâu
Việt mà báo chí, phương tiện truyền thông đã đưa tin.
2.2. Cái nhìn của người trong cuộc về động cơ kinh tế gắn với chữ hiếu

người gái cũng đau đáu lo toan. Nhiều người con gái tạm gác tình duyên riêng mình để báo đền
cha mẹ, nuôi dưỡng bầy em {Ba má sinh em ra / Má em nhai cơm lừa đá, nhai cá lừa xương /
Anh ơi em lo đền, nghĩa em chưa trọn ỉ Anh biếu em kết nghĩa tào khương sao đành – Ân cha
nghia mẹ chưa đền ỉ Bậu mong ôm gối cuốn mền theo ai?}
Cô dâu Việt Nam là những người phụ nữ dịu dàng, nữ tính, ấm áp. Được biết, đa số các cô gái
Việt sang làm dâu tại Đài Loan đều còn rất trẻ, tuổi trung bình là 21, trình độ học vấn trung bình
là lớp 3.
Quan niệm lấy chồng nước ngoài để được xuất ngoại, được thay đổi hoàn cảnh sống, mong
muốn có cuộc sống sung túc hơn và có điều kiện giúp đỡ gia đình đã tác động vào tâm lý, trở
thành động lực thúc đẩy nhiều cô gái Việt Nam muốn được kết hôn với người Đài Loan, dẫn đến
sự gia tăng mạnh về số lượng và tạo nên "phong trào" lấy chồng Đài Loan của các cô gái ở các
tỉnh phía Nam, trở thành một hiện tượng xã hội thu hút sự quan tâm của nhiều cấp nhiều ngành.
Có một lý do rất đáng quan tâm là phần lớn những cô gái khi vẫn thường xuyên bị gia đình phía
Việt Nam thúc ép gửi tiền về để gia đình trang trải những khó khăn hàng ngày.
Phần lớn các cô gái Việt Nam kết hôn với người Đài Loan đều xuất thân từ gia đình có hoàn
cảnh khó khăn, trình độ học vấn thấp, không có nghề nghiệp ổn định; nhiều gia đình mắc nợ
không có khả năng chi trả nên luôn hy vọng vào một cuộc sống khác sau khi con gái họ lấy
chồng Đài Loan...
Có thể hiểu sự khó khăn, khổ tâm và hiểu được một phần nỗi khổ và những sai lầm mà những cô
gái còn quá trẻ phải xa quê, không những mưu cầu cuộc sống riêng mình nơi tha hương, mà còn
cả gánh nặng gia đình nơi cố quốc.


Đám cưới tập thể của các cô dâu Việt và chú rể Đài Loan
Một khía cạnh giúp các cô gái Việt Nam có ý định lấy chồng Đài Loan hiểu rõ những khó khăn,
trở ngại trong cuộc sống mà họ sẽ gặp phải khi làm dâu tại Đài Loan. Phần lớn các cô gái Việt
Nam kết hôn với người Đài Loan đều xuất thân từ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, trình độ học
vấn thấp, không có nghề nghiệp ổn định; nhiều gia đình mắc nợ không có khả năng chi trả nên
luôn hy vọng vào một cuộc sống khác sau khi con gái họ lấy chồng Đài Loan... Đa số các cô gái
Việt Nam lấy chồng Đài Loan có trình độ văn hóa thấp nên trình độ ngoại ngữ rất hạn chế,


Thợ may

2,60

Buôn bán

4,93

Chăn nuôi

0,98

Nông dân

2,63

Công nhân

0,32

Chủ xưởng

0,32

Nghề khác

1,00

Nghề khác

của dòng họ. Áp lực dòng họ rấy lớn{Trong họ ngoài làng- ba bề bổn bên hàng xóm láng giềng.
Sống vì danh vì tiếng không ai vì cả miếng ăn- Cọp chết đế da, người ta chết để tiếng…}.
Trường họp chấp nhận rể ngoại quốc để hổ trợ kinh tế cho gia đình, cha mẹ cô dâu sẽ bị dư luận
cũng như chính các cô dâu phê phán, trách móc là “gà bán con”{ Mẹ em tham thung xôi rền /
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng / Em đã bảo mẹ rằng đừng / Mẹ hẩm, mẹ tứ, mẹ bưng
ngay vào / bây giờ chồng thấp vợ cao / Như đôi đũa lệch, so sao cho bằng – mẹ em tham khúc cá
thu / gả em về biến mịt mù tăm tăm}.
Chính các cô dâu cũng chịu áp lực dư luận, đúng như Neil Ljamieson, một người Mỹ từng
nghiên cứu nhiều năm ở Việt Nam viết trong cuốn sách Understanding Vietnam rất nổi tiếng của
ông: khi một cô gái Việt lấy một người nước ngoài, cô gái ấy cảm thấy cho dù vị thế cô ta có ra
sao. Hành động lấy chồng Tây bị xem như một hành động mất gốc, hành động làm lạc của một
người đã hủy hoại nguồn cội của mình. Có thể thấy điều ấy được thể hiện rất rõ qua giọng điệu
châm biếm qua phóng sự Kỹ nghệ lấy Tây của Vũ Trọng Phụng nói về những phụ nữ lấy chồng
người phương Tây những năm 30 của thế kỷ XX (Những cuộc phối hợp của một số đông phụ nữ
nước nhà với những người Tây phương liệu có đáng là những cuộc hôn nhân hẳn hoi không?
Hay đó chì là…, chỉ như…, chỉ hao hao giống…, chỉ phảng phất…đáng gọi là một thứ kĩ nghệ?).
Ở vùng đất mới vùng đất Nam Bộ, phần nhiều thôn áp quy mô nhỏ rải rác theo những triền sông,
ven bờ kênh rạch, tổ chức cộng đồng thoáng mở hơn Bắc. “Rất nhiều làng không có hương ước,
cũng không có thần tích, thần phả(…)Dân làng nói chung không bị những quy ước những lệ làng
rằng buộc, câu thúc như ở Trung và Bắc Bộ”[Thạch Phương 1992:55]. “ Ở đây quan hệ cá nhân
là mạnh mẽ ”. “ Không như những người Việt tiền bối từ bắc vào trung bộ thường di dân theo
từng làng xóm, dòng họ, vào nơi đất mới chừng nào vẫn giữ truyền thống quê hương xưa, từ việc
đặt tên làng, tên xã đến các lề tục mang từ quê cha, đất tổ, những người tới Nam Bộ thường là đi
riêng lẽ từng cá nhân, ra đi là vứt bỏ những lề tục xưa cũ…”[ Ngô Đức Thịnh 2004: 267]. Áp lực
ở Nam Bộ nhìn chung không căng thẳng như ở Bắc Bộ.
Xử lý kết quả điều tra xã hội học từ đề tài nghiên cứu “thực trạng phụ nữ kết hôn với người Đài
Loan ở đồng bằng sông Cửu Long”(do vụ gia đình – viện dân số gia đình trẻ em và khoa xã hội
học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn phối hợp thực hiện tại tỉnh Cần Thơ, Đồng
Tháp, Tiền Giang, Hậu Giang,An Giang, Vĩnh Long –Tháng 3/2004), Phạm Thị Thúy Trang ghi
nhận: “nếu như cách đây 10 năm, việc lấy chồng Đài Loan bị phê phán thì giờ đây ở cộng đồng

tích qua hằng trăm bài báo ( trong đó đặc biệt nổi bật phóng viên Trang Hạ báo Thanh Niên)
hoặc được dựng thành phim (điển hình như phim truyện Những cuộc tình trắng đen) hầu như có
rất ít ảnh hưởng.
Siết chặt các quy định kết hôn với người nước ngoài, quy định chặt chẽ để bảo vệ cô dâu Việt,
tăng cường vai trò, trách nhiệm của các đoàn thể, tổ chức xã hội, vai trò của gia đình.
Ở Việt Nam, từ nhiều năm trước dư luận xã hội và báo chí cũng đã nhiều lần lên tiếng và cảnh
báo trước hiện tượng kết hôn với người nước ngoài ngày càng gia tăng. Từ năm 1995 đến nay,
hàng trăm bài báo ở Việt Nam đã điều tra các đường dây tuyển các thôn nữ đem về Tp. HCM
nuôi nhốt trong những phòng trọ, cho những người đàn ông lớn tuổi, tật nguyền từ Trung Quốc,
Đài Loan đến tuyển lựa. Chưa kể hàng trăm bài báo mô tả cảnh cô dâu Việt Nam ở Trung Quốc,
Đài Loan bị ngược đãi, làm vợ tập thể,...phải trốn về nước (Phụ nữ, 28.4.2006).
Có thể nói, qua báo chí đã cho thấy một sự biến đổi chuẩn mực xã hội, giá trị xã hội trong quan
niệm của các thôn nữ ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long về hôn nhân với người nước ngoài,
qua việc cải biên câu hát “Má ơi đừng gả con xa...” thành “Con xin má gả Đài Loan, tiền nhiều
bạc lắm hân hoan trong lòng”. Có ý kiến nhận xét về đặc điểm hôn nhân với người nước ngoài
hiện nay là “Xu hướng lấy chồng Đài Loan tăng lên, trẻ hoá cô dâu.
b. Đài Loan:


Dư luận Đài Loan có những cái nhìn tiêu cực đối với những cô dâu đến từ Việt Nam cũng như
đến từ các nước châu Á khác.

Biển môi giới hôn nhân với cô dâu Việt tràn lan ở Đài Loan
Nguyên nhân kinh tế, nguyên nhân gia đình là những lý do chính yếu khiến cô dâu Việt ở Đài
Loan chấp nhận đi đến giới hạn chịu đựng tối đa để có cuộc sống “dễ thở” hơn, ít nhất là về mặt
tiền bạc. Một bộ phận bị chủ nợ, chồng hờ, bị lừa v.v... ép bán dâm.
Quảng cáo xúc phạm:Việc quảng bá môi giới kết hôn với cô dâu Việt tại Đài Loan không chỉ còn
giới hạn trong các trung tâm môi giới hôn nhân hoặc các công ty du lịch, mà được phát triển tới
mức như một sản phẩm chào bán rộng rãi trên kênh truyền hình mua sắm ở Đài Loan. Kênh này
đã phát sóng rộng rãi hình ảnh các cô gái Việt e lệ trong bộ áo dài truyền thống khi đang học

Gần đây, truyền thông Đài Loan đã có những nỗ lực để cải thiện tình thế. Năm 2007, cuộc thi
viết tiếng Lòng của cô dâu di dân do Đảng Dân tiến và Hội phụ nữ Tân Cảnh Giới của Đài Loan
tổ chức, tạo cơ hội cho các cô dâu ngoại đươc nói lên tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của họ.
Cũng năm này, bán nguyệt sang Bốn phương (song ngữ Việt- Hoa) ra mắt, như một diễn đàn
giúp các cô dâu Việt hòa nhập văn hóa Đài Loan hiệu quả hơn. Năm 2008, chương trình cô dâu
Việt ở Đài Loan chính thức được phát sóng vào tối thứ bảy hàng tuần. Nói về ý nghĩa của


chương trình ,steve Wu, giám đốc Dịch vụ truyền hình Đài Loan nhấn mạnh: “chúng ta đã đạt
được sự thần kì về kinh tế, (…) giờ đây chúng ta bước vào thời kì mới, trở thành một xứ sở của
những người nhập cư. Chúng ta chào đoán các người nhập cư vào các gia đình, sự hiện diện của
họ sẽ giúp cho Đài Loan thêm phong phú. Chương trình này là nhằm thể hiện lòng yêu mến của
chúng ta với các cô dâu nhập cư”. Phụ nữ Việt Nam chiếm tỉ lệ lớn trong các cô dâu nhập cư, là
“những cô gái đáng yêu nhất châu Á” [Mai Trang 2007].
3. Hôn nhân Việt – Đài ở miền Tây Nam Bộ nhìn từ văn hóa tổ chức:
3.1 Vấn đề môi giới và thị trường hôn nhân :
Những cô gái trẻ VN, đặc biệt là ở những vùng quê nghèo khó, mong muốn được nhanh chóng
“đổi đời” bằng cách kết hôn với người Đài Loan. Nếu bỏ qua những hệ quả vĩ mô như tình trạng
“chảy máu chất xám” khi “chất lượng” phụ nữ VN kết hôn với nam Đài Loan, sự mất cân đối về
giới ở VN và Đài Loan, thì ở tầm vi mô chúng ta cũng có thể thấy được một thực trạng khá buồn
là hầu như tất cả các cô gái trẻ VN lấy chồng ĐL là vì lý do kinh tế.
Hơn 100 cô gái nhốn nháo tại ngã tư Tạ Uyên - Nguyễn Chí Thanh (phường 15, quận 5, TP
HCM), rồi lần lượt xếp hàng vào khách sạn Hoàng Hậu để vài chàng Đài Loan coi mắt. Và rồi
từng tốp 3-5 cô gái buồn bã trở ra, leo lên những chiếc xe máy lao đi. Đó là khung cảnh của chợ
môi giới lấy chồng Đài Loan.
Từ sau Tết Tân Tỵ, đàn ông Đài Loan sang Việt Nam lấy vợ thưa dần, trong khi số lượng các
thiếu nữ muốn lấy chồng ngoại không giảm. Vài ba ngày lại diễn ra một đợt coi mắt. 5, 6 người
Đài Loan tha hồ lựa chọn trong số hàng chục, hàng trăm “ứng cử viên”. Đợt ồn ào ở nhà hàng
Ngân Sương, công an phường 15, quận 5 đã vào cuộc nhưng cũng không thể tìm thấy dấu hiệu gì
của sự phạm pháp. Và tất nhiên không xử lý được. Chủ nhà hàng chỉ thừa nhận mình có “bán”

truyền thống vốn là hình thức giúp cho cô dâu, chú rể và hai bên thông gia tương lai có điều kiện
hiểu biết nhau thì môi giới hôn nhân Việt – Đài giờ đây, trong nhiều trường hợp, mang rõ tính
chất buôn người, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ Việt Nam và tạo nên những tiền đề tệ hại, không
thể cứu chữa cho cuộc hôn nhân về sau.
Theo thống kê của Bộ Tư pháp, từ năm 1998- 31/12/2010 đã có 294.280 phụ nữ Việt Nam kết
hôn với người nước ngoài có quốc tịch trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nhiều nhất là với đàn
ông Trung Quốc, Hàn Quốc, Đức, Canada, Pháp, Hoa Kỳ…
Trong đó, Đồng bằng sông Cửu Long có số cô dâu Việt lấy chồng nước ngoài có tỷ lệ cao vượt
trội. Năm 2003, cả nước có 11.358 cô gái kết hôn với người Đài Loan thì ở các tỉnh ĐBSCL là
7.285 người. Trong đó, Cần Thơ, Đồng Tháp là những điểm nóng của tình trạng này, sau đó là
An Giang, Vĩnh Long.
Đặc biệt là xã Tân Lộc, huyện Thốt Nốt, Cần Thơ còn được gọi là "Đảo Đài Loan". Những cô
gái lấy chồng Đài Loan có độ tuổi trung bình từ 18- 48 tuổi. Trong đó người chồng Đài Loan có
độ tuổi từ 22-78 tuổi. Có những cô còn chấp nhận kết hôn với người đáng tuổi cha chú của mình.
Đa phần việc kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài chủ yếu xuất phát từ mục đích
kinh tế thông qua môi giới, vội vàng.
Những người đàn ông nước ngoài muốn lấy vợ Việt Nam phải trả phí khoảng 10.000 USD cho tổ
chức môi giới. Khi được chọn, cô dâu sẽ gửi một bộ hồ sơ sang quốc gia của chú rể. Cặp đôi này
được ĐKKH vắng mặt ở nước ngoài, sau đó chú rể mới sang Việt Nam gặp cô dâu và trải qua
một cuộc phỏng vấn với Sở Tư pháp để đủ điều kiện được cấp "Giấy ghi chú kết hôn" ở trong
nước.
Quá trình nhiều kẽ hở này đang bị lợi dụng, không ít cô dâu Việt đã rơi vào hoàn cảnh bi đát, bất
hạnh, chỉ một số ít cô may mắn tìm được hạnh phúc. Đã từng có rất nhiều cô dâu Việt bị sát hại,
tự tử hoặc
Theo số liệu tổng kết của TAND Tối cao năm 2010, cả nước có 88.591 vụ ly hôn, tăng đáng kể
so với năm 2009 79.769 trường hợp và 65.351 trường hợp vào năm 2008.


Nghiên cứu quốc gia về gia đình mới nhất cho thấy mâu thuẫn về lối sống là nguyên nhân hàng
đầu (27,7%) dẫn đến ly hôn. Các yếu tố tiếp theo là ngoại tình (25,9%), kinh tế (13%), bạo lực

như: trước khi lấy được chứng minh thư thì quyền lưu trú của các cô gái nước ngoài không được
đảm bảo, chỉ cần mảnh giấy nhỏ cũng có thể buộc họ quay về nước,…Tất cả những điều này làm
tăng trở ngại cho quá trình hoà nhập văn hoá, càng khó khăn cho việc xây dựng tình nghĩa vợ
chồng vốn thiếu nền tảng yêu đương,…Họ sẽ phải cố gắng chịu đựng để lấy được chứng minh
thư nhưng không hiếm trong số họ sẽ xem đó là thời điểm thanh lý hợp đồng đối với cuộc hồn
nhân mà họ không tìm thấy được hạnh phúc.
Quan hệ nghịch lý này khiến trong suốt một thời gian dài, kết hôn Việt – Đài tăng số lượng ào
ạt, nhưng mang sẵn những tiềm năng tiêu cực, kể cả tạo kẽ hở cho cuộc hôn nhân giả.
Theo số liệu thống kê của Bộ Nội chính và Cục Di dân Đài Loan, tính tới tháng 2.2011, số cô
dâu Việt ở vùng đô thị mới Đài Bắc là 14.209 người, ở TP.Cao Hùng: 9.860 người, ở TP.Đài
Bắc: 4.513 người, ở TP.Đài Trung: 8.642 người, ở TP.Đài Nam: 6.651 người.
b. Việt Nam
Theo số liệu của Cục Di dân, Bộ Nội chính Đài Loan, tính tới cuối tháng 10.2011, tổng số cô dâu
Việt Nam ở Đài Loan đã lên tới 85.990 người, chiếm 18,82% cô dâu nước ngoài ở Đài Loan
Theo nghiên cứu mới nhất, được tác giả Trần Hồng Vân công bố tại hội thảo Việt Nam học lần
thứ 2, "phong trào" lấy chồng Đài Loan trong phụ nữ các tỉnh phía Nam ngày càng "nóng". Chỉ
từ tháng 1/1995 đến tháng 10/2005 số đôi vợ chồng Việt - Đài được cấp phép nhập cảnh đã đạt
tới 72.411 cặp, đa số là chồng Đài già - vợ Việt trẻ.
Phụ nữ ở Đồng bằng sông Cửu Long lấy chồng là người nước ngoài có nhiều quốc tịch khác
nhau, nhưng chủ yếu vẫn là người Đài Loan. Tỷ lệ cô dâu Việt kết hôn với người Đài Loan ở các
tỉnh ĐBSCL cao vượt trội so với toàn quốc. Năm 2003, cả nước có 11.358 cô gái kết hôn với


người Đài Loan thì ở các tỉnh ĐBSCL là 7.285 (chiếm 64,14%). Trong đó, Cần Thơ, Đồng Tháp
là những điểm nóng của tình trạng này, sau đó là An Giang, Vĩnh Long.
Độ tuổi trung bình của cô dâu có chồng Đài Loan ở Đồng Tháp là 21 tuổi, còn tuổi trung bình
của chú rể là 36 tuổi. Trong đó, cô dâu cao tuổi nhất là 39 tuổi, thấp nhất là 18 tuổi. Chú rể cao
tuổi nhất là 80 tuổi, thấp nhất là 21 tuổi. Như vậy, cũng giống các tỉnh khác thuộc ĐBSCL, các
cặp kết hôn ở Đồng Tháp có sự chênh lệch tuổi rất lớn.
Về nghề nghiệp, những người tham gia vào hôn nhân Đài - Việt phần lớn thuộc về tầng lớp lao

kỳ hội nhập. Sự thay đổi về quan niệm này có ảnh hưởng không nhỏ đến tâm tư, tình cảm của cô
dâu, chú rể cũng như gia đình đôi bên. Nó từng bước xoá nhoà ranh giới xa gần về địa lý trong
suy nghĩ về tình yêu và hôn nhân giữa các đôi trai gái không cùng một vùng miền, một quốc tịch.


Trước khi dẫn đến hôn nhân, lẽ thường tình là cô dâu chú rể tương lai cùng gia đình hai bên đều
muốn tìm hiểu về đối tượng của mình. Trong vấn đề hôn nhân quốc tế, ngoài bản thân đối tượng
sắp hôn nhân ra, phong tục tập quán, đất nước, con người xứ lạ cũng là điều các đối tượng hôn
nhân quan tâm. Tuy văn hoá Việt Nam - Đài Loan có nhiều nét tương đồng, những cũng không ít
dị biệt. Vấn đề giới thiệu và phổ biến văn hoá Việt Nam và Đài Loan ở hai bên, đặc biệt là phong
tục tập quán, trong đó có phong tục hôn nhân chưa làm được bao nhiêu, nếu không nói là quá ít.
Bởi vậy, những cuốn sách mỏng giới thiệu đại cương so sánh văn hoá hai bên cần gấp rút ra mắt
bạn đọc, không chỉ so sánh nét tương đồng mà còn nêu cả nét khác biệt.
Khó khăn lớn nhất của các cô dâu Việt Nam là bất đồng ngôn ngữ, vốn sống ít, học vấn và đời
sống trước kết hôn thấp, lại không nghề nghiệp và chưa hiểu biết pháp luật, phong tục tập quán
Đài Loan. Chưa kể, nhiều cô không biết cách liên lạc hoặc không quen "kêu cứu" với cơ quan
chức năng..., dù trước khi về nhà chồng đã được Văn phòng kinh tế Đài Bắc tại Hà Nội và TP
HCM phát Sổ tay hướng dẫn về an toàn bản thân phụ nữ và các số điện thoại cứu giúp khẩn cấp
bằng tiếng Việt. Nhiều cô đã không thể tự bảo vệ khi bị ngược đãi, mất quyền phân chia tài sản
và nuôi con khi ly hôn.
Để giảm số cô dâu Việt Nam bất hạnh, bảo vệ quyền lợi và giúp họ sống bình đẳng như phụ nữ
bản xứ, Chính phủ Đài Loan đã đầu tư khoảng 300 triệu USD cho các hoạt động trợ giúp, như
dạy "làm dâu", dạy nghề và tiếng, mở chương trình phát thanh tiếng Việt cho cộng đồng các cô
dâu Việt. Ở Đài Loan hiện có 3 tổ chức lớn có thể giúp đỡ, bênh vực các cô dâu nước ngoài là
Sở Tư pháp, Sở Xã hội và Sở Dân chính (chưa kể nhiều tổ chức phi chính phủ hỗ trợ cho các cô
dâu nước ngoài nói chung, Việt Nam nói riêng).
Rất cần thiết những khoá học ngôn ngữ cũng như về văn hoá cho cá cô dâu Việt Nam trước cũng
như sau khi sang Đài Loan. Bản thân các cô dâu cần được giảng giải để hiểu biết được tầm
quan trọng của khoá học. Nội dung các khoá học, một mặt cần thiết thực, một mặt cần sử dụng
những thành tựu nghiên cứu , đặc biệt là những nghiên cứu so sánh sâu sắc của các học giả Việt

bật lên trong đó vẫn là yếu tố so sánh với cái nhìn đa diện, nhiều chiều đã góp phần làm rõ hơn
vấn đề hôn nhân xuyên quốc gia ở miền Tây Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa.
Ngày nay, hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan hiện nay đã không còn là một vấn
đề thời sự nóng bỏng nhưng vẫn cần những nghiên cứu và biện pháp đúng đắn để nâng cao chất
lượng những cuộc hôn nhân với người Đài Loan nói riêng và người nước ngoài nói chung, đưa
những cuộc hôn nhân này trở về đúng ý nghĩa mà nó cần có.



Tài liệu tham khảo:
1. Trần Mạnh Cát, “Hôn nhân giữa phụ nữ Việt Nam và người Đài Loan”, Đề tài cấp Viện năm
2006, tr.31.
2. Lý Xuân Chung – Đinh Thị Dung, “Vấn đề Cô dâu Việt Nam và chú rễ Đài Loan từ góc nhìn
văn hóa”, năm 2007.
3. Phan Thị Thu Hiền, “Hôn nhân Việt – Đài miền Tây Nam Bộ dưới góc nhìn văn hoá, đề tài
Hội thảo So sánh nhân văn Việt – Đài”, năm 2010.
4. Đinh Văn Quảng, “Thực trạng phụ nữ kết hôn với người nước ngoài, các giải pháp và đề xuất
phối hợp giải quyết”.
5.Gs. Vương Hồng Nhân, “Học giả Đài Loan sang VN bàn về cô dâu Việt”




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status