Ca Dao Nam Bộ Từ Góc Nhìn Văn Hóa Phong Tục - Pdf 70

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngơ Bích Phượng

CA DAO NAM BỘ
TỪ GĨC NHÌN VĂN HĨA PHONG TỤC

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƠN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HĨA VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh – 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngơ Bích Phượng

CA DAO NAM BỘ
TỪ GĨC NHÌN VĂN HĨA PHONG TỤC
Chun ngành : Văn học Việt Nam
Mã ngành

: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP


Ngơ Bích Phượng


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt, ký hiệu
Danh mục các bảng
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
Chương 1. CA DAO NAM BỘ TỪ GÓC NHÌN VĂN HĨA
PHONG TỤC – NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ........................ 11
1.1. Sơ lược về đất và người Nam Bộ ............................................................. 11
1.2. Khái lược về văn hóa phong tục ............................................................... 18
1.3. Vài nét về ca dao Nam Bộ ........................................................................ 20
1.4. Tình hình nguồn tư liệu tác phẩm được khảo sát ..................................... 25
Tiểu kết chương 1 .......................................................................................... 31
Chương 2. CA DAO NAM BỘ TỪ GĨC NHÌN PHONG TỤC
GẮN VỚI VỊNG ĐỜI CON NGƯỜI ..................................... 32
2.1. Phong tục hôn nhân .................................................................................. 32
2.1.1. Lễ dạm ngõ ........................................................................................ 33
2.1.2. Lễ hỏi ................................................................................................. 41
2.1.3. Lễ cưới ............................................................................................... 53
2.2. Phong tục tang ma .................................................................................... 59
2.2.1. An táng .............................................................................................. 61
2.2.2. Tang chế ............................................................................................ 65
Tiểu kết chương 2 .......................................................................................... 70
Chương 3. CA DAO NAM BỘ TỪ GĨC NHÌN


Phụ lục

tr

Trang

VHDG

Văn học dân gian


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Thống kê nguồn tư liệu về ca dao dân gian Nam Bộ ...................... 28
Bảng 1.2. Thống kê ca dao dân gian Nam Bộ theo phong tục ........................ 30


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Khám phá vẻ đẹp của văn chương khơng chỉ là q trình đi tìm cái hay
của ngơn từ mà cịn là khơi dậy sức sống của cả một nền văn hóa dân tộc. Văn
học nói chung và văn học dân gian nói riêng là “kho báu” chứa đựng những
giá trị tinh thần tốt đẹp của cả cộng đồng, biểu hiện qua những lối sống,
phong tục, tập qn, nếp nhà... Từ góc nhìn văn hóa phong tục, chúng tơi soi
vào tác phẩm văn học dân gian để đi tìm tính cách, tâm hồn của ơng cha thuở
trước. Hành trình khám phá văn hóa phong tục trong văn học là một hành
trình thưởng lãm “cái ngon ngoài cả vị ngon, cái đẹp ngoài cả sắc đẹp” (Dẫn
theo SGK Ngữ văn 10, 2018).

VH – TT Đồng Tháp; Kiên Giang qua ca dao (Giang Minh Đoán), xuất bản
năm 1997, Nxb. Tp.HCM; Văn học dân gian Đồng Bằng sông Cửu Long
(trường Đại học Cần Thơ), xuất bản năm 1997, Nxb. Giáo dục; Ca dao – Dân
ca Nam kỳ lục tỉnh (Huỳnh Ngọc Trảng), xuất bản năm 1998, Nxb Đồng Nai;
Văn học dân gian Bạc Liêu (Chu Xuân Diên), xuất bản năm 2011, Nxb. Đại
học Quốc gia Hà Nội; Văn học dân gian Sóc Trăng (Chu Xn Diên), xuất
bản năm 2011, Nxb. Văn hóa – Thơng tin; Văn học dân gian Bến Tre
(Nguyễn Ngọc Quang), xuất bản năm 2015, Nxb. Giáo dục; Văn học dân gian
An Giang (tập 3) (Nguyễn Ngọc Quang), xuất bản năm 2015, Nxb. Giáo dục.
Đây là những cơng trình sưu tầm có đóng góp lớn đến việc lưu giữ “kho báu”
tinh thần của dân gian. Nguồn tư liệu điền dã phong phú này đã được tác giả
sắp hệ thống theo chủ đề: tình u q hương, đất nước; tình u đơi lứa; tình
cảm gia đình; các mối quan hệ xã hội khác. Đây là cơ sở ngữ liệu quan trọng
để chúng tôi chọn lọc những bài ca dao có phản ánh văn hóa phong tục phục
vụ cho mục đích nghiên cứu.


3
2.2. Những cơng trình nghiên cứu ca dao Nam Bộ
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi không chỉ nghiên cứu những cơng
trình về ca dao nói chung mà cịn đi vào tìm hiểu cơng trình nghiên cứu ca
dao của từng địa phương vùng Nam Bộ.
Ca dao dân ca Nam Bộ do Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần
Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn, xuất bản 1984, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.
Cơng trình này gồm hai phần: phần đầu tác giả khái quát những nét chính về
nội dung và nghệ thuật của ca dao Nam Bộ, phần sau là cơng trình sưu tầm ca
dao Nam Bộ. Đây là cơng trình vừa có ý nghĩa phương pháp luận cho việc
nghiên cứu tổng thể về ca dao Nam Bộ vừa là thành quả của sự lao động
nghiêm túc trong quá trình sưu tầm điền dã, tổng hợp ca dao Nam Bộ. Cơng
trình của tập thể tác giả này là nguồn tài liệu chính để chúng tơi kế thừa triển

2.3. Những cơng trình nghiên cứu ca dao Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa
Đào Văn Hội trong Phong tục miền Nam qua mấy vần ca dao đã phân
chia ca dao thành sáu mục: tả cảnh, tu thân, tình gia tộc, phong tục thơn q,
ngồi xã hội và những câu hát vặt. Đây là cơng trình đầu tiên nghiên cứu
phong tục miền Nam trong ca dao. Tác giả cho rằng ca dao là “tấm gương
trong sáng phản ánh cả phong tục của giống nòi”, “là tiếng gọi của dân q,
linh hồn của dân tộc, khơng có thứ văn chương nào hơn được” (Đào Văn
Hội, 1961).
Năm 2004, Lê Anh Dũng trong bài viết “Văn hóa dân gian phản ánh
tín

ngưỡng

tổng

hợp

của

người

Việt”

đăng

trên

trang

web

tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 360 tháng 6 năm 2014, tác giả Nguyễn Thị
Kim Ngân đã khẳng định ca dao phản ánh một cõi thiêng liêng, là nơi tín
ngưỡng dân gian tồn tại và thể hiện bộ mặt sinh hoạt văn hóa của người Việt.
Tác giả cho rằng hình ảnh ơng Trời trong ca dao là một đấng thiêng liêng mà
người dân tơn kính và cầu xin và khẳng định rằng: “Ca dao khơng phải chỉ là
giá trị văn hóa trực tiếp nảy sinh từ những nghi thức tín ngưỡng mà khúc hát
tình gắn với đời sống sản xuất và sinh hoạt của người nông dân”.


6
Nguyễn Thanh Trang trong luận văn Văn hóa ứng xử về tình u và hơn
nhân trong ca dao người Việt – trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
– năm 2014 đã tìm hiểu văn hóa ứng xử về tình u và hơn nhân trong ca dao
Việt. Từ đó, tác giả khẳng định sự bền vững của bản sắc văn hóa dân tộc và
đưa ra cái nhìn đúng đắn về tình u, hơn nhân trong cuộc sống hiện đại.
Văn hóa dân gian về tình u đơi lứa trong ca dao người Việt của
Nguyễn Nghĩa Dân xuất bản năm 2015, Nxb. Khoa học Xã hội. Đây là cơng
trình nghiên cứu, sưu tầm ca dao Việt Nam. Ở phần đầu, sau khi đưa ra các
khái niệm văn hóa, văn hóa dân tộc, văn hóa dân gian, định nghĩa ca dao, dân
ca, ca dao trữ tình, tác giả đi sâu vào tìm hiểu vấn đề văn hóa dân gian về tình
u lứa đôi được biểu hiện trong ca dao người Việt. Đặc biệt, tác giả cịn so
sánh để tìm hiểu sự khác biệt của văn hóa dân gian về tình u, hôn nhân và
vợ chồng trong hai vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long
và rút ra kết luận: “Ở Nam Bộ, tinh thần dân chủ, bình đẳng trong tự do yêu
đương, hôn nhân, vợ chồng giữa đôi trai gái rõ nét hơn ở Bắc Bộ và Trung
Bộ” (Nguyễn Nghĩa Dân, 2015). Ở phần sau, tác giả đã tuyển chọn và xếp
theo vần chữ cái tiếng Việt. Điểm đặc biệt ở phần tuyển chọn có chú thích đầy
đủ những điển tích, điển cố hoặc từ ngữ khó hiểu, đồng thời đưa ra những
bình luận sắc sảo. Đây là cơng trình bổ ích, định hướng cho chúng tơi tìm
hiểu phong tục hôn nhân được biểu hiện qua ca dao Nam Bộ.

Chúng tôi tập trung nghiên cứu ca dao Nam Bộ trong các tuyển tập:
Ca dao dân ca Nam Bộ do Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần
Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn, xuất bản 1984, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.
Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường do Lê Trí Viễn biên soạn, xuất bản
năm 1994, Nxb. Giáo dục.
Văn học dân gian Đồng Bằng sông Cửu Long của trường Đại học Cần
Thơ, xuất bản năm 1997.


8
Ca dao, hò, vè Vĩnh Long do Nguyễn Chiến Thắng (chủ biên), xuất bản
năm 2005, Nxb. Trẻ.
Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục Tỉnh do Huỳnh Ngọc Trảng biên soạn, xuất
bản năm 2006, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai.
Văn học dân gian Bạc Liêu do Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất bản năm
2011, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
Văn học dân gian Sóc Trăng do Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất bản
năm 2011, Nxb. Văn hóa – Thơng tin, Hà Nội.
Văn học Miền Nam Lục Tỉnh tập 1 do Nguyễn Văn Hầu biên soạn, xuất
bản năm 2012, Nxb Trẻ.
Văn học dân gian Bến Tre do Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên), xuất bản
năm 2015, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
Văn học dân gian An Giang (tập 3) do Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên),
xuất bản năm 2015, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
Luận văn Khảo sát ca dao – dân ca Bến Tre của Đặng Thị Thùy Dương,
năm 2009, trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
4. Đóng góp của đề tài
Phần lớn các cơng trình nghiên cứu ca dao chủ yếu được tiếp cận từ
phương diện ngôn ngữ học, thi pháp học, văn hóa học nhưng chưa có nhiều
cơng trình khám phá vẻ đẹp của văn hóa phong tục ẩn tàng trong thể loại này.

hợp để minh họa cho những lí lẽ, diễn giải, lập luận của cá nhân trên cơ sở
khai thác phân tích các dẫn chứng trích từ những cơng trình sưu tầm, biên
soạn ca dao Nam Bộ.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần nội dung chính
của luận văn gồm ba chương:
Chương 1. Ca dao Nam Bộ từ góc nhìn văn hóa phong tục – những vấn
đề chung.


10
Trong chương 1, luận văn đề cập một số vấn đề có tính chất khái qt
về vùng văn hóa phong tục Nam Bộ và ca dao. Sau khi giới thiệu về lịch sử
hình thành mảnh đất Nam Bộ, những nét tính cách đặc trưng của con người
Nam Bộ, chúng tơi tổng thuật các cách giới thuyết về văn hóa phong tục, khái
niệm ca dao Việt Nam và đưa ra kết luận vài nét về cách tiếp cận ca dao
người Việt ở Nam Bộ. Đồng thời, chúng tôi cũng điểm qua nguồn tư liệu để
khảo sát, phục vụ nghiên cứu.
Chương 2. Ca dao Nam Bộ từ góc nhìn phong tục gắn với vòng đời con người
Chương này tập trung khai thác ca dao Nam Bộ ở các phương diện phong
tục vòng đời con người như hôn nhân và tang ma. Thông qua việc thống kê,
chọn lựa, khảo sát nguồn tư liệu, chúng tơi có thể rút ra kết luận bước đầu về
dấu ấn phong tục gắn với vòng đời con người trong ca dao Nam Bộ.
Chương 3. Ca dao Nam Bộ từ góc nhìn phong tục gắn với tín ngưỡng
Nhiệm vụ của chương này là khảo sát ca dao, từ đó mơ tả, phân tích, phát
hiện vẻ đẹp đời sống tín ngưỡng của người Việt qua thể loại văn học này trên
các góc nhìn phong tục thờ cúng đa thần và phong tục thờ cúng người thân
trong gia đình.
Ngồi ra, luận văn cịn có phần phụ lục tổng hợp ca dao Nam Bộ từ các
nguồn tư liệu để khảo sát phân tích nhằm có cái nhìn hệ thống, sâu sắc vấn đề

Đến giai đoạn vào cuối thế kỷ VI, Đế chế Phù Nam hưng thịnh đã bắt
đầu quá trình suy yếu. Lợi dụng cơ hội này, một thuộc quốc của Phù Nam –


12
Chân Lạp, do người Khmer xây dựng, vào đầu thế kỷ VII đã đánh chiếm một
phần lãnh thổ của Phù Nam ở vùng hạ lưu sông MeKong – vùng Nam Bộ
Việt Nam. Đây một bước ngoặt mới trong lịch sử hình thành vùng đất Nam
Bộ. Vùng đất Nam Bộ sau 627 năm từng là vùng đất thuộc Phù Nam, nay lại
bị phụ thuộc vào Chân Lạp và được đổi tên thành Thuỷ Chân Lạp để phân
biệt với vùng đất Lục Chân Lạp – vùng đất gốc của nước Chân Lạp.
Với truyền thống quen khai thác các vùng đất cao nhưng với dân số ít,
người Khmer khi đó khơng có khả năng tổ chức khai thác vùng đồng bằng
rộng lớn mới bồi lấp, cịn ngập nước và sình lầy. Song song đó, việc khai
khẩn đất đai trên vùng đất gốc – Lục Chân Lạp đang đòi hỏi rất nhiều thời
gian và sức lực. Việc cai quản vùng đất Lục Chân Lạp trên thực tế gặp rất
nhiều khó khăn. Càng khó khăn hơn khi quân đội nước Srivijaya2 của người
Java liên tục tấn công và lấn chiếm Thủy Chân Lạp vào nửa sau thế kỷ VIII.
Chính điều này đã làm cho cả vương quốc Chân Lạp gần như lệ thuộc hoàn
toàn vào Srivijaya2.
Khó khăn chồng chất khó khăn, khi mà tình trạng chiến tranh giữa
Chân Lạp và Chămpa diễn ra thường xuyên làm cho việc cai quản và khai phá
vùng Thủy Chân Lạp lại càng gặp nhiều trở ngại. Chân Lạp lúc này chỉ dồn
sức phát triển ở khu vực Biển Hồ, trung lưu sơng Mekong và mở rộng ảnh
hưởng sang phía Tây. Từ thế kỷ IX đến cuối thế kỷ XI, vùng đất Chân Lạp
cường thịnh đã mở rộng lãnh thổ ra tận Nam Lào. Trong khi đó, dấu ấn Chân
Lạp trên vùng đất phía Nam khơng nhiều và ảnh hưởng văn minh Angkor ở
vùng này cũng không đậm nét.
Cho đến thế kỷ XIII, cư dân ở vùng đất Nam Bộ cịn thưa thớt. Chu Đạt
Quan, một người có dịp đến vùng đất Nam Bộ đã mô tả vùng đất này như sau:

với sự trợ giúp quân sự của một bên là nước Xiêm và một bên là chúa
Nguyễn. Bối cảnh này vừa giúp cho người Việt có thể dễ dàng tiến hành khai
phá những vùng đất hoang hoá ở đồng bằng sông Cửu Long vừa tạo điều kiện


14
cho chúa Nguyễn thiết lập quyền kiểm sốt chính thức của mình trên những
vùng đất cư dân Việt đã dựng nghiệp.
Song song đó, cùng với các nhóm cư dân người Việt, trong khoảng thời
gian này cũng xuất hiện một số người trung thành với nhà Minh chống nhà
Thanh đến tiến hành khai khẩn đất hoang và sinh sống làm ăn ở vùng đất
Nam Bộ, giúp đẩy nhanh quá trình khai phá vùng đất đồng bằng Nam Bộ.
Vào năm 1708, để bảo vệ cư dân vùng đất Hà Tiên trước sự tiến cơng
cướp bóc của người Xiêm vào thời điểm đó, Mạc Cửu đã xin và được nội
thuộc vào triều đình chúa Nguyễn. Đây là một sự kiện có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng. Cho đến năm 1757, đất Tầm Phong Long (tương đương với vùng
Tứ Giác Long Xuyên) được vua Chân Lạp là Nặc Tôn dâng cho chúa Nguyễn
để đền ơn cứu giúp lúc hoạn nạn và giành lại ngôi vua. Qua đó, q trình xác
lập chủ quyền lãnh thổ của người Việt trên vùng đất Nam Bộ cơ bản đã hoàn
thành.
Để thực thi chủ quyền, từ thế kỷ XVII, các chúa Nguyễn đã tiến hành
tổ chức các đơn vị hành chính, sắp đặt quan cai trị, lập sổ sách quản lý dân
đinh, ruộng đất và lập ra các loại thuế. Năm 1698, Phủ Gia Định được thành
lập gồm hai dinh là Trấn Biên (Biên Hoà) và Phiên Trấn (Gia Định) quản lý
hơn 4 vạn hộ. Sau năm 1774, vùng đất Nam Bộ chia thành 4 dinh (Trấn Biên,
Phiên Trấn, Long Hồ, Hà Tiên), mỗi dinh quản hạt một phủ, dưới phủ có
huyện, tổng hay xã. Từ đó, về cơ bản tổ chức hành chính của Việt Nam trên
vùng đất Nam Bộ đã được kiện toàn.
Năm 1802, Triều Nguyễn được thành lập, họ tiếp tục con đường sự
nghiệp của các chúa Nguyễn. Tiếp tục hồn thiện hệ thống hành chính và

“Sớm biết thích ứng với hồn cảnh, thổ ngơi, tận dụng địa lợi, tạo ra nhân
hịa, sáng tạo vượt khó khăn, giao hịa với con người và văn hóa khác mà vẫn
giữ được phong cách của mình là việc mà tổ tiên ta đã làm được từ lúc đầu đi
khai thác vùng đất mới.” (Sơn Nam, 2017).


16
1.1.2. Điều kiện tự nhiên vùng đất Nam Bộ
Trong hệ thống phân loại 8 vùng địa lý – kinh tế, Nam Bộ gồm 2 bộ
phận hợp thành là Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.
Đông Nam Bộ nằm trong lưu vực sông Đồng Nai. Phạm vi của vùng
bao gồm 6 tỉnh/ thành phố là: Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai,
Bà Rịa Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh.
Tây Nam Bộ là vùng đất được khai phá muộn nhất trong lịch sử phát
triển của đất nước. Phạm vi của vùng gồm 13 tỉnh/ thành phố: Long An, Tiền
Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang,
Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau.
Đồng bằng Nam Bộ bao gồm hai bộ phận có đặc điểm khác hẳn nhau.
Đó là vùng đồng bằng cao bao gồm các thềm phù sa cổ, bán bình nguyên đất
đỏ ba dan (bazan) ở phía đơng, thuộc Đơng Nam Bộ; và khu vực đồng bằng
châu thổ sông Cửu Long tương đối bằng phẳng ở phía tây, thuộc Tây Nam
Bộ.
Nam Bộ nằm trong lưu vực của hệ thống sông Đồng Nai – Vàm Cỏ và
hệ thống sông MeKong. Nguồn nước mặt nơi đây khá dồi dào với hệ thống
sơng ngịi và kênh đào chằng chịt mang nước dàn trải rộng khắp đồng bằng,
thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp.
Nam Bộ từng là một vùng đất có rất ít người sinh sống. Theo những tài
liệu cổ từ khoảng 300 năm trước đều nói: nơi đây như một vùng đất tồn là
rừng rậm hàng nghìn dặm hoặc những cánh đồng hoang vu khơng có một gốc
cây, là nơi hàng trăm hàng nghìn con trâu rừng tụ tập thành bầy. Nhưng chỉ

Những người sống không bị ràng buộc và cũng không bao giờ chấp
nhận sự ràng buộc bởi một lý do sâu xa là tất cả những lưu dân có mặt ở nơi
đây đều có chung một khát vọng tự do – khát vọng được giải phóng. Họ đến
đây khi nhà Nguyễn chưa thể vươn dài bàn tay phong kiến của mình để chế
ngự hết đất đai điền thổ “dân mở đất trước, nhà nước cai trị sau” (dẫn theo



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status