LỜI MỞ ĐẦU
Du lịch nói chung và DLST nói riêng ngày nay đã và đang phát triển
nhanh chóng trong phạm vi nhiều quốc gia trên thế giới, ngày càng thu hút được sự
quan tâm rộng rãi của các tầng lớp dân cư trong xã hội. Đặc biệt trong hai thập kỷ
qua khi mà các nhà máy, các xí nghiệp ngày càng phát triển, dân số không ngừng
gia tăng, đô thị hóa và tập trung dân cư, khu công nghiệp với nhiều nhà máy, khói
bụi giao thông …đang là vấn nạn thì việc tìm về với tự nhiên là nhu cầu tất yếu.
DLST đang có chiều hướng phát triển và trở thành một bộ phận có tốc độ
tăng trưởng mạnh nhất về tỷ trọng trong ngành du lịch. Nơi nào còn giữ nhiều khu
thiên nhiên, có được sự cân bằng sinh thái thì nơi đó sẽ có tiềm năng phát triển tốt
về DLST và thu hút được nguồn du khách lớn, lâu dài và ổn định, từ đó, sẽ mang lại
những lợi ích kinh tế to lớn góp phần làm tăng thu nhập quốc dân, tạo nhiều cơ hội
về việc làm, cải thiện đời sống, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng
đồng dân cư ở các địa phương, nhất là ở những nơi có các khu bảo tồn thiên nhiên,
các cảnh quan thiên nhiên và di tích văn hóa hấp dẫn.
Nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới, lãnh thổ Việt Nam trải dài trên 15
0
vĩ
tuyến với ¾ địa hình là đồi núi và cao nguyên, có hơn 3000km bờ biển và hàng
ngàn đảo lớn nhỏ. Việt Nam được đánh giá là nơi có nhiều cảnh quan đặc sắc và
các hệ sinh thái điển hình với nền văn hóa đa dạng của 54 dân tộc anh em. Tính đa
dạng sinh học được đánh giá là cao so với nhiều quốc gia trên thế giới. Theo số liệu
điều tra mới nhất có trên 2000 loài thực vật, trên 550 loài động vật đã được đăng
ký, trong đó có nhiều loại đặc hữu quý hiếm ghi trong sách đỏ của thế giới. Đây
chính là những tiềm năng tài nguyên to lớn và đặc sắc tạo nên sự thuận lợi phát
triển DLST ở Việt Nam nói chung và Lâm Đồng nói riêng.
Tỉnh Lâm Đồng là một địa phương được nhiều người biết đến thông qua
điều kiện khí hậu , cảnh quan môi trường cho phát triển du lịch và du lịch nghỉ
dưỡng. Bên cạnh đó, Lâm Đồng còn có tiềm năng DLST rất lớn nhờ địa hình trải
dài trên 3 cao nguyên Lâm Viên – Di Linh và Bảo Lộc. Trên cao nguyên này, nhiều
đồi núi được hình thành từ rất sớm, đặc biệt khu vực thành phố Đà Lạt có địa hình
chỉ ngừng lại ở giới hạn nghiên cứu nhất định, đó là, nghiên cứu, khảo sát những
tài nguyên thiên nhiên, những yếu tố môi trường tự nhiên, môi trường xã hội có tác
động đến môi trường sinh thái tại Đà Lạt - LâmĐồng hiện nay.
* Phương pháp nghiên cứu:
- Trong quá trình thực hiện luận văn đã sử dụng các phương pháp điều tra
thực địa tại các khu vực có khả năng phát triển DLST, thu thập dữ liệu thứ cấp,
điều tra qua bảng câu hỏi để thăm dò ý kiến của các nhà quản lý hữu quan, khách
du lịch, sinh viên... Từ đó, tiến hành phân tích số liệu qua điều tra, khảo sát để thấy
được những mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội, thách thức của DLST tỉnh Lâm Đồng hiện
nay nhằm đưa ra các giải pháp cụ thể mang tính khả thi trong thời gian tới.
Phát triển DLST đúng nghĩa không chỉ góp phần vào việc phát triển du
lịch bền vững mà còn đóng góp tích cực vào tiến trình phát triển kinh tế – xã hội
của tỉnh Lâm Đồng.
Hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giúp cho các nhà quản
lý du lịch tỉnh Lâm Đồng định ra được chiến lược và các giải pháp để phát triển
DLST một cách có định hướng, đồng thời khai thác có hiệu quả thế mạnh vốn có
của tỉnh là nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn phong phú để phát triển du lịch
bền vững.
Tuy nhiên,điểm hạn chế của luận văn là:thời gian nghiên cứu chưa nhiều,
phạm vi nghiên cứu chưa rộng, báo cáo đề tài không tránh khỏi những thiếu sót.
Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô, của các bạn đồng
môn, của các cơ quan ban ngành và của những ai quan tâm đến sự phát triển của
DLST tại Lâm Đồng ./. -1 -
-2 -
có ý kiến cho rằng: DLST đồng nghĩa với du lịch đạo lý, du lịch có trách nhiệm, du
lịch xanh, du lịch có lợi cho môi trường hay có tính bền vững.
1.1.2 Định nghĩa về DLST của một số tổ chức và các nước trên thế giới:
* Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN: International Union for
Conservation of Nature): DLST là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi
trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc
điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến khích
hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra và tạo
ra ích lợi cho những người địa phương tham gia tích cực (ceballos-lascurain,1996)
* Hiệp hội DLST thế giới: DLST là du lịch có trách nhiệm đối với các khu
thiên nhiên, nơi môi trường được bảo tồn và lợi ích của nhân dân địa phương được
đảm bảo.
* Hiệp hội du lịch Hoa kỳ: “DLST là du lịch có mục đích với các khu tự
nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm
biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ
môi trường”
* Hiệp hội du lịch Australia: “DLST là du lịch dựa vào thiên nhiên định
hướng về môi trường tự nhiên và nhân văn, được quản lý một cách bền vững và có
lợi cho sinh thái”
1.1.3 Định nghĩa về DLST của ngành du lịch Việt Nam:
Trên cơ sở kế thừa những thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học quốc
tế, Hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển DLST ở Việt Nam” từ ngày
7 đến ngày 9/9/1999 tại Hà Nội đã đưa ra định nghĩa về DLST ở Việt Nam như sau:
“DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa,
gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền
vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”
Lịch sử nhân loại đã chỉ ra rằng: Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, một
nhiệm đạo đức của mọi người đối với môi trường, cụ thể là giáo dục nâng cao hiểu
biết cho du khách về môi trường tự nhiên, tạo ý thức tham gia của du khách vào các
nổ lực bảo tồn.
* Không làm tổn hại đến tài nguyên, môi trường, không những đối với từng
yếu tố mà cả sự cân bằng sinh thái của các yếu tố đó.
* Tập trung chú trọng đến sự cân bằng sinh thái của tổng thể các yếu tố của
môi trường hơn đối với từng yếu tố của tài nguyên. -4 -
* Du khách chấp nhận tự nhiên theo đúng nghĩa của nó và chấp nhận sự hạn
chế của nó hơn là làm nó biến đổi môi trường cho sự thuận tiện cá nhân.
* Đảm bảo lợi ích lâu dài đối với tài nguyên, đối với địa phương và đối với
ngành (lợi ích về bảo tồn hoặc lợi ích về kinh tế, xã hội, văn hóa hay khoa học).
* Khi tiếp xúc với môi trường tự nhiên nhằm hòa đồng làm tăng sự hiểu biết
hơn là đi tìm cảm giác mạnh hay mục đích tăng cường thể trạng.
* Đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ càng thông qua kinh nghiệm của cả người hướng
dẫn và các thành viên tham gia.
* Cần có sự đào tạo đối với tất cả các ban ngành chức năng: địa phương,
chính quyền, tổ chức đoàn thể, hãng lữ hành và khách du lịch (trước, trong và sau
chuyến đi).
* Dựa vào sự tham gia của địa phương, tăng cường sự hiểu biết và sự phối
hợp với các ban ngành chức năng.
* Đòi hỏi cơ quan giám sát của ngành phải đưa ra các nguyên tắc và các
tiêu chuẩn được chấp nhận và giám sát toàn bộ hoạt động.
*
Thiết lập một khuôn khổ quốc tế đa ngành vì DLST là một hoạt
đ
ộng
mang tính quốc tế.
lực lớn đối với môi trường, mà DLST được coi là nhằm mở đường cho sự cân bằng
giữa mục tiêu phát triển du lịch với mục tiêu bảo vệ môi truờng.
- Hoạt động DLST có tác dụng giáo dục con người bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên và môi trường, qua đó đáp ứng được nhu cầu phát triển bền vững.
- Cộng đồng các cư dân địa phương là những người chủ sở hữu các nguồn
tài nguyên tại địa phương mình. Phát triển DLST cần phải có sự tham gia của cộng
đồng người dân địa phương.
Trong khi có những công ty kinh doanh DLST hoạt động theo nguyên tắc:
cộng tác với các nhà quản lý, các khu bảo tồn thiên nhiên và nhân dân địa phương
với mục đích đóng góp cho sự bảo vệ lâu dài các vùng đất hoang dã và sự phát triển
kinh tế – xã hội ở địa phương.
Qua đó chúng ta có thể thấy rằng DLST được sử dụng với tư cách là một
quan điểm có tính phổ biến của một mô hình phát triển. Trong khi du lịch thiên nhiên
thuần túy chỉ giới hạn trong khuôn khổ khai thác các điều kiện tự nhiên để tạo ra các
sản phẩm, các hoạt động du lịch phục vụ du khách thì DLST là một khái niệm rộng
lớn hơn, tổng hợp hơn nhằm đạt được các mục tiêu ở tầm vĩ mô trong công tác quản
lý Nhà nước và quản lý khai thác kinh doanh du lịch.
-6 -
1.2.2. Tiêu chuẩn thang đo hệ thống du lịch sinh thái:
Hình thành hệ thống tiêu chuẩn DLST là một nhu cầu cần thiết cho hoạt
động DLST. Bởi vì những lý do sau:
- Khách có thể chọn được hãng lữ hành và điều hành tour DLST thích hợp.
- Những ngành quản lý có thể kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ những tiêu chuẩn
của các điểm, khu DLST, hoạt động kinh doanh của các đơn vị kinh doanh DLST.
- Du khách và cộng đồng dân cư điều chỉnh hành vi ứng xử phù hợp với
điểm DLST.
1.3.1 Khái niệm về phát triển bền vững, du lịch bền vững và DLST bền vững:
Theo Hội đồng thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED): “Phát triển
bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu của xã hội hiện tại mà không làm tổn
hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Sự phát triển bền vững
về kinh tế – xã hội cần đạt được 3 mục tiêu cơ bản:
- Bền vững về kinh tế;
- Bền vững về tài nguyên và môi trường;
- Bền vững về văn hóa xã hội.
Từ khái niệm phát triển bền vững trên, ta có thể thấy rằng phát triển du lịch
bền vững cũng là sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu du lịch hiện tại mà không
làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của các thế hệ tương lai.
Sự phát triển du lịch bền vững cũng cần đạt 3 mục tiêu cơ bản :
-
Bền vững về kinh tế: là sự phát triển ổn định lâu dài của du lịch, tạo ra
nguồn thu đáng kể, góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế của xã hội, đem lại lợi
ích cho cộng đồng, đặc biệt là người dân địa phương.
- Bền vững về tài nguyên và môi trường: là việc sử dụng các tài nguyên
không vượt quá khả năng phục hồi của nó, sao cho đáp ứng nhu cầu phát triển hiện
tại song không làm suy yếu khả năng tái tạo trong tương lai để đáp ứng được nhu cầu
của thế hệ mai sau.
- Bền vững về văn hóa xã hội là: việc khai thác đáp ứng nhu cầu phát triển
du lịch hiện tại không làm tổn hại, suy thoái các giá trị văn hóa truyền thống để lại
cho các thế hệ tiếp theo.
Như vậy, khi nói tới DLST người ta muốn nhấn mạnh sự phát triển du lịch
phải gắn với việc bảo tồn, gìn giữ và phát triển tài nguyên – môi trường – Thiên
nhiên và nhân văn thông qua sự phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội của cộng đồng
dân cư địa phương. Vì vậy, nhiều người cho rằng phát triển DLST thì tương đương
với phát triển du lịch bền vững. Qua phân tích trên ta thấy, phát triển DLST chỉ là
- Thừa nhận giá trị của nguồn
tài nguyện
DLST
bền vững
Hình 1.1 : Mô hình của
Pamela A.Wigh về các nguyên tắc và giá
trị DLST bền vững Theo Pamela A.Wigh đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản làm nền tảng phát
triển DLST bền vững như sau:
- Không làm suy giảm các nguồn lực và phải được phát triển theo cách có
lợi cho môi trường.
- Đưa ra những kinh nghiệm mới cho du khách.
- Có tính giáo dục đối với tất cả các thành phần tham gia như: cộng đồng địa
Khái niệm “sức chứa” được hiểu đưới nhiều khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm
lý học và xã hội.
- Dưới góc độ vật lý: sức chứa có thể được hiểu là số lượng khách tối đa mà
không gian của điểm du lịch có thể tiếp nhận. - 10 -
Hệ sinh thái
Taøi nguyeân
Môi trường
Cảnh quan
Con người
Sinh thái học
- Về khía cạnh sinh học: sức chứa sinh thái tự nhiên được hiểu là giới hạn về
lượng khách đến một khu vực mà nếu vượt quá sẽ xuất hiện các tác động sinh thái do
hoạt động của du khách và các tiện nghi mà họ sử dụng ảnh hưởng tới môi trường.
- Về khía cạnh tâm lý: sức chứa được hiểu là giới hạn lượng khách mà nếu
vượt quá, du khách sẽ cảm thấy hoạt động của họ bị ảnh hưởng bởi sự có mặt của du
khách khác. Hay nói cách khác, mức độ thỏa mãn của du khách bị giảm xuống dưới
mức bình thường do tình trạng quá tải.
- Về khía cạnh xã hội: sức chứa là giới hạn mà tại đó bắt đầu xuất hiện
những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch và khách du lịch đến đời sống kinh tế,
văn hóa – xã hội của khu vực.
Khách sạn
Hướng dẫn
Nhà hàng
Tổ chức
Hội nghị
DLST
Du lịch học
Nếu người dân địa phương khó khăn về kinh tế, kém phát triển thì họ sẽ
phải khai thác tối đa các tiềm năng về tài nguyên, đẩy nhanh quá trình cạn kiệt tài
nguyên và tổn hại đến môi trường. Chính vì vậy đây là nguyên tắc quan trọng trong
phát triển DLST bền vững. Việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương thể hiện
qua hoạt động DLST mang lại thu nhập, việc làm cho dân cư địa phương, chi phí
môi trường được trích đầy đủ cho việc bảo tồn và phát triển môi trường.
* Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương:
Việc tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch không chỉ
giúp họ tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống mà còn làm cho họ có trách nhiệm
hơn với tài nguyên, môi trường du lịch, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, góp
phần đối với sự phát triển DLST bền vững.
* Thường xuyên trao đổi, tham khảo ý kiến với cộng đồng địa phương và
các đối tượng có liên quan:
Việc thường xuyên trao đổi, tham khảo ý kiến với cộng đồng địa phương
bao hàm việc trao đổi thông tin, ý kiến, đánh giá và hành động dựa vào kỹ năng, kiến
thức và các nguồn lực của địa phương. Nếu không tính toán thấu đáo, không quan
tâm đến cộng đồng địa phương, nhiều trường hợp nảy sinh mâu thuẫn thậm chí đối
kháng lợi ích của cộng đồng địa phương với tổ chức đầu tư. Kết quả sự phát triển của
dự án không thuận lợi.
* Chú trọng việc đào tạo, nâng cao nhận thức về tài nguyên môi trường:
Sự phát triển bền vững không chỉ yêu cầu ở đội ngũ cán bộ nhân viên,
những người thực hiện phải có trình độ nghiệp vụ chuyên môn, mà còn không ngừng - 12 -
nâng cao nhận thức đúng đắn về tính cần thiết của việc bảo vệ tài nguyên và môi
trường sinh thái cho cộng đồng dân cư và xã hội.
* Tăng cường tiếp thị một cách có trách nhiệm:
Chiến lược tiếp thị đối với DLST bền vững được xác định dựa vào việc
đánh giá, xác định và luôn rà soát khả năng cung của nguồn tài nguyên tự nhiên và
* Hướng dẫn viên am hiểu về địa phương: - 13 -
Các chương trình DLST cần các hướng dẫn viên có thể phiên dịch và giảng
giải về môi trường thiên nhiên và văn hóa địa phương của vùng để làm tăng thêm
kiến thức cho khách tham quan.
Những người thích hợp cho công việc này là cư dân địa phương hoặc những
người đã sống ở đó một thời gian. Tuy nhiên, họ phải được đào tạo thì mới thực hiện
được vai trò hướng dẫn viên. Các hướng dẫn viên giữ vai trò, vị trí quan trọng trong
phát triển DLST bền vững và họ phải có được quyền lợi và trách nhiệm tương xứng
với vai trò của họ.
* Giới hạn về việc sử dụng đất đai:
Thiết lập khả năng chịu đựng của vùng là điều quan trọng để giảm đến mức
tối thiểu tác động đến thiên nhiên.
Muốn vây, cần phải nhận định rõ ràng các vùng, các khu vực theo định
hướng khai thác, bảo vệ như: vùng sử dụng, vùng sử dụng hạn chế và vùng cấm sử
dụng theo đặc điểm của khu vực và các yêu cầu bảo vệ tài nguyên tự nhiên ở các
điểm DLST.
* Các chương trình hoạt động DLST được thiết lập dựa trên tài nguyên thiên
nhiên, văn hóa của khu vực:
Các chương trình hoạt động cũng cần được lập ra bởi các hướng dẫn viên
địa phương, những người có kiến thức sâu rộng và kinh nghiệm về tài nguyên thiên
nhiên xung quanh họ và lối sống của cư dân địa phương đã có tiếp xúc lâu năm với
những tài nguyên này.
1.4 Kinh nghiệm phát triển DLSTcủa một số nước ở khu vực Mỹ La
Tinh và Việt Nam trong thời gian qua:
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển DLST của một số nước ở khu vực Mỹ La
quốc tế và gần 50% lượng khách du lịch nội địa.
Số liệu thống kê về lượng khách du lịch được thực hiện ở một số vườn quốc gia
như: Cát Bà, Cúc Phương, Ba Vì, Bạch Mã và các khu bảo tồn thiên nhiên cho thấy
xu hướng này. Riêng năm 2006 tổng lượng khách tới các điểm này khoảng
1.840.000 lượt người.
Khách nội địa đi du lịch chủ yếu dựa vào thiên nhiên nhiều hơn là DLST, bởi
thời gian cho các chuyến DLST của khách nội địa thường ngắn ngày. Mức chi tiêu
của du khách ít. Khách DLST nội địa có thời gian lưu trú trung bình từ 1 đến 3 ngày.
Tại các VQG, khách sử dụng các cơ sở lưu trú trung bình như nhà sàn và chi cho lưu
trú từ 60.000 đ đến 150.000 đ. Do vậy, nếu như ở các nước phát triển, khách DLST
là loại khách du lịch chi trả nhiều cho các chuyến đi của mình, thì khách du lịch ở - 15 -
nước ta chi trả các khu dịch vụ, vui chơi giải trí, hay các khu nghỉ mát nhiều hơn so
với DLST.Cũng bởi nguyên do trên, khách du lịch nội địa chưa có ý thức cao về giữ
gìn môi trường, nên sự đóng góp còn hạn chế.
Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam với mục đích ban đầu từ DLST hầu như
chưa có. Song các kết quả điều tra cho thấy khuynh hướng tham gia vào các hoạt
động DLST của khách quốc tế rất cao. Khách DLST quốc tế có khả năng chi trả cao
hơn rất nhiều so với khách du lịch nội địa. Khách quốc tế tham gia hoạt động DLST
ở Việt Nam có khả năng chi trả 500 – 2.000 USD cho một chuyến đi du lịch. Thời
gian lưu trú trung bình của họ từ 17 tới 25 ngày và có nhu cầu kết hợp nhiều điểm du
lịch trong cùng một chuyến.
Kết luận chương 1:
Một số hãng lữ hành thường đồng nhất du lịch xanh với DLST. Thực ra,
những chuyến du lịch như vậy chỉ là những chuyến du lịch về với thiên nhiên. DLST
là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi
trường có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích
trường tự nhiên.
- 17 -
CHƯƠNG 2
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG DU LỊCH
SINH THÁI TỈNH LÂM ĐỒNG
Công nghệ du lịch chủ yếu dựa vào những nguồn tài nguyên thiên nhiên,
những di tích văn hoá, lịch sử…Để thu hút du khách, người ta phải thiết kế những
2.1.1.2 Địa hình:
Tỉnh Lâm Đồng có độ cao trung bình 800m - 1.000m so với mặt nước biển.
Địa hình Lâm Đồng xen kẽ giữa núi cao, bình nguyên và thung lũng, có nhiều đứt
gãy và bề mặt địa hình phân bổ theo tầng lớp, có độ cao chênh lệch 400 – 500m và
nghiêng dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Có thể nói địa hình Lâm Đồng tương đối
phức tạp, đó là yếu tố quyết định đặc điểm dòng chảy của các hệ thống sông suối, tạo
ra lắm thác nhiều ghềnh, làm nên những thắng cảnh du lịch nổi tiếng và tạo ra tiềm
năng thủy điện khá lớn với khoảng 900.000KW. Tuy nhiên địa hình như vậy cũng
làm hạn chế đến việc phát triển giao thông, làm hạn chế tài nguyên nước mặt để phục
vụ đời sống và sản xuất của nhân dân trong tỉnh.
2.1.1.3 Khí hậu:
]Lâm Đồng nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, do ảnh hưởng
của độ cao địa hình và vị trí địa lý nên khí hậu có những đặc điểm đặc biệt là: mát
mẻ quanh năm, mưa nhiều, có mùa khô, mùa mưa rõ ràng, lượng bốc hơi thấp.
Bảng 2.1: Một số yếu tố khí hậu ở Lâm Đồng (
0
C)
Tháng
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 TB
Nhiệt độ (C)
16.4 17.4 18.3 19.2 19.7 19.4 18.9 18.9 18.8 18.4 17.6 16.7 18.3
Lượng mưa(mm)
7.5 22.9 50.5 152.1 224.4 182.7 223.0 209.2 290.2 251.2 86.9 28.9 172.8
(Dự báo của TTDR -2005)
- Về nhiệt độ: Lâm Đồng có một số đặc điểm nổi bật sau:
+ Ở những vùng độ cao trên 800m, nhiệt độ trung bình cả năm từ 20
0
C –
suốt ngày đêm, các điểm du lịch không có được những khu vui chơi, giải trí cho du
khách khi trời mưa, nên du khách cảm thấy nhàm chán…
2.1.1.4 Thổ nhưỡng:
Theo số liệu thống kê đất năm 2006, Lâm Đồng hiện có 7 – 8 loại đất
chính, trong đó có 3 loại cần quan tâm cho sự phát triển tài nguyên là: nhóm đất phù
sa, nhóm đất Feralit đỏ vàng và nhóm đất nâu trên nền bazan. Từ đó, đã tạo nên sự
phân bố khác nhau của hệ thống động thực vật rừng và các vùng canh tác, kinh
doanh rừng khác nhau của Lâm Đồng. Nhiều diện tích đất có thổ nhưỡng phù hợp
với việc sinh trưởng phát triển của rau, hoa quả đặc sản, hoặc tập đoàn những cây
công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế như: cà phê, chè, điều, dâu tằm, tiêu… và
được phân bố khá tập trung. Đây cũng là điều kiện thuận lợi giúp Lâm Đồng phát
triển DLST một cách mạnh mẽ.
2.1.1.5 Chế độ thủy văn:
Lâm Đồng là một tỉnh có hệ thống sông suối nhiều, tổng diện tích sông suối
gần 15.600ha. Sông suối Lâm Đồng nhìn chung có bậc thềm hẹp, dốc, nhiều thác
ghềnh, dòng chảy mạnh, không đều giữa các mùa trong năm. Nhờ vậy, đã tạo nên hệ
thống thác, ghềnh đa dạng, phong phú có thể khai thác phục vụ du lịch như: thác
Đatanla, thác Đạm bri, thác gouga…
Nguồn nước ngầm của Lâm Đồng cũng rất phong phú, có ở hầu hết các
vùng lãnh thổ, trữ luợng lớn, có thể khai thác đáp ứng nhu cầu của sản xuất, kinh
doanh du lịch và phục vụ đời sống dân cư trên một phạm vi rộng lớn.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế – văn hóa – xã hội:
Theo số liệu của cục thống kê tỉnh Lâm Đồng công bố năm 2006: Kinh tế
tỉnh Lâm Đồng đã đạt được những thành tích đáng kể. Tốc độ tăng trưởng bình quân
hàng năm giai đoạn 1996 – 2002 là 12,2%, giai đoạn 2002 – 2006 là 14,2%. Tốc độ
tăng trưởng trên cao hơn so với tốc độ tăng trưởng bình quân cả nước (cùng kỳ) - 20 -
là7%. Trong 5 năm trở lại đây, kinh tế tỉnh Lâm Đồng đi dần vào thế ổn định, năng
tổng doanh thu). Doanh thu từ các dịch vụ du lịch khác như bán hàng lưu niệm, vận
chuyển, đổi tiền, bưu chính, vui chơi giải trí ...ở mức khiêm tốn (từ 25% - 35%).
Đây là một tồn tại cần khắc phục trong hoạt động kinh doanh du lịch của Lâm Đồng.
Theo điều tra thăm dò ý kiến của khách du lịch tại một số điểm danh lam thắng cảnh
và khách sạn, cơ cấu chi tiêu trung bình của một khách du lịch quốc tế chi 40
USD/ngày trong đó 23 USD cho dịch vụ lưu trú, 12 USD cho ăn uống, mua sắm...
Khách du lịch nội địa chi 400.000 đồng/ngày trong đó 250.000 đồng cho lưu trú,
70.000 đồng cho ăn uống, còn lại là chi khác...
- Về dân cư và dân tộc học: đến hết năm 2006 dân số Lâm Đồng là
1.697.754 người, trong đó người Kinh chiếm khoảng 77%, còn 33% là các dân tộc ít
người thuộc nhiều miền trong cả nước với nhiều phong tục tập quán văn hóa khá đặc
sắc. Đáng kể nhất là của nhóm dân tộc gốc bản địa như: Mạ, K'ho, Churu…Đây
cũng là điểm cần lưu ý để khai thác, tổ chức các tour DLST cho du khách.
Về di tích lịch sử – văn hóa và khảo cổ: cho đến nay theo số liệu thống kê
của sở du lịch- thương mại tỉnh Lâm Đồng hiện có khoảng gần 100 danh lam thắng
cảnh, di tích lịch sử – văn hóa. Như vậy, cứ bình quân 100km
2
có 1 di tích, mật độ
này so với cả nước còn thấp (cả nước bình quân 2,2 di tích/100km
2
). Tuy nhiên, so - 21 -
với Tây Nguyên (Gia Lai, Kom Tum: 0,3; Đắc Lắc: 0,5) thì mật độ di tích ở Lâm
Đồng vẫn cao hơn. Những di tích có giá trị là: khu di chỉ khảo cổ Cát Tiên ngang
tầm với các di tích cùng thời như Angkor ở Campuchia, Barabudua ở Indonexia, khu
mộ cổ dân tộc Mạ ở Đại Lào,…
- Về các công trình kiến trúc có giá trị: hiện nay trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
có rất nhiều các công trình kiến trúc có giá trị. Đó là những công trình được xây
- 22 -
Tất cả những đặc điểm về kinh tế-xã hội nêu trên sẽ được xem xét trong quá
trình đánh giá hiện trạng phát triển DLST tỉnh Lâm Đồng sau này.
2.2 Tiềm năng phát triển DLSTĐà Lạt –Lâm Đồng:
2.2.1 Tiềm năng về tài nguyên tự nhiên:
Lâm Đồng là một trong những vùng còn nhiều diện tích rừng tự nhiên so
với các tỉnh trong cả nước. Tính đến nay, tổng diện tích đất có rừng là 618.536,82ha
(độ che phủ 64,8%) chiếm 63,26% diện tích tự nhiên (976.220ha), trong đó rừng tự
nhiên có 591.209,87ha, chiếm 95,6% diện tích đất có rừng, rừng trồng 27.326,95ha,
chiếm 4,4%. Với điều kiện tự nhiên về khí hậu, thổ nhưỡng đã tạo cho rừng Lâm
Đồng có nhiều tài nguyên quý về động vật và thực vật.
* Tài nguyên thực vật, thảm thực vật và các loài gen quý hiếm:
Theo số liệu thống kê năm 2006 của Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng, rừng
Lâm Đồng thuộc Tây Nguyên là một vùng có tài nguyên sinh vật phong phú nhất ở
Việt Nam. Hầu hết các kiểu rừng, các loài sinh vật Tây Nguyên đều có mặt ở Lâm
Đồng. Chính các quần cư sinh vật này đã tạo nên các hệ sinh thái đặc trưng cho từng
khu vực ở Lâm Đồng và có liên quan chặt chẽ với toàn khu vực Tây Nguyên gồm:
ĐăkLăk – Gia Lai – Kom Tum – Lâm Đồng. Trong đó, đáng kể nhất là khu bảo tồn
thiên nhiên Bidoup Núi Bà, vườn quốc gia Cát Tiên có tính đa dạng sinh học cao,
giàu loài đặc hữu của Đông Dương và của Việt Nam.
Bên cạnh đó, đã thống kê được 246 loài của 71 chi, có nhiều loài cho hoa
đẹp và quý kể cả địa lan và lan ký sinh, 9 loài Đỗ Quyên, 5 loài Thu Hải Đường và
các nguồn gien quý hiếm khác. Đã thống kê được 121 loài cây thuốc, 14 loài cho
nhựa, 28 loài là nguồn kho gien dồi dào, phong phú và đặc hữu.
- Tài nguyên cây thuốc: Theo phát hiện sơ bộ có 425 loài cây thuốc thuộc
125 họ có thể sử dụng làm cây thuốc chữa bệnh từ thân gỗ như Thông Đỏ đến cây
thân thảo như Lan Gấm và các loại nấm Linh Chi… Các loại cây có trữ lượng khá