ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ MAI HƯƠNG Thực trạng bạo lực giới trong gia đình : \b
nghiên cứu các ca tư vấn trực tiếp về bạo lực
giới tại trung tâm Tư vấn Linh Tâm - Hà Nội LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC Hà Nội - 2005
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ MAI HƯƠNG
Thực trạng bạo lực giới trong gia đình : \b
2.2. Lý thuyết tương tác biểu trưng giới Nữ 14
2.3. Lý thuyết xã hội hoá giới 15
3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 16
3.1. Vài nét về tình hình nghiên cứu chung 16
3.2. Vài nét về hoạt động tư vấn 23
4. Các khái niệm công cụ 25
4.1. Gia đình 25
4.2. Bạo lực 26
4.3. Bạo lực trong gia đình 26
4.4. Bạo lực giới trong gia đình 26
4.5. Tư vấn 27
Chương 2 Hình thức bạo lực giới trong gia đình 29
Qua hoạt động tư vấn 29
1. Thực trạng hoạt động của trung tâm tư vấn Linh Tâm 29
1.1. Giới thiệu chung 29
1.2. Sơ lược về tư vấn 31
Các hình thức tư vấn 31
Các thành phần trong một cuộc tư vấn 31
Trong một cuộc tư vấn 31
Mục đích của tư vấn 31
Đặc trưng cơ bản của tư vấn 31
Quá trình tư vấn 32
2. Hiệu quả của Tư vấn bạo lực trong gia đình 32
Đến hết năm 2004, văn phòng đã tư vấn trực tiếp 226 ca. Các nội dung tư vấn được thể
hiện trong bảng sau đây: 35
3. Hình thức bạo lực giới trong gia đình qua tư vấn 36
3.1.1. Bạo lực thân thể 37
3.1.2. Bạo lực tinh thần 40
3.1.3. Bạo lực tình dục 56
3.2. Hình thức bạo lực theo mối quan hệ giữa các 61
3.2.5. Thủ phạm bị tổn thương thần kinh 93
3.2.6. Tư tưởng trọng nam khinh nữ 94
Kết luận - khuyến nghị 111
Tài liệu tham khảo 118
Phụ lục 122
Luận văn thạc sĩ Phạm Thị Mai Hương
3
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Trước năm 1993, phần lớn các Chính phủ coi bạo lực chống lại phụ nữ
chủ yếu là vấn đề riêng tư giữa các cá nhân (United Nations 1996). Tuy nhiên
thông qua nhiều diễn đàn quốc tế khác nhau, bạo lực trong gia đình ngày
hoạt động, các trung tâm tư vấn tiếp cận với chủ đề bạo lực như một nội dung
quan trọng khi họ nhận thấy ngày càng có nhiều phụ nữ tâm sự một cách cởi
mở và đề nghị được giúp đỡ những khủng hoảng trong gia đình họ. Theo số
liệu của Trung tâm tư vấn Linh Tâm- Hà Nội, trong tổng số gần 300.000 cuộc
gọi xin tư vấn về các lĩnh vực tình yêu- hôn nhân- gia đình thì có tới 33.193
cuộc liên quan đến bạo lực trong gia đình. Xuất phát từ những điều trên, tôi
chọn đề tài “Thực trạng bạo lực giới trong gia đình” (nghiên cứu các ca tư
vấn trực tiếp tại trung tâm Tư vấn Linh Tâm - Hà Nội) cho luận văn thạc sĩ
của mình.
2. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
2.1. ý nghĩa lý luận
Phòng chống bạo lực giới trong gia đình được rất nhiều ngành khoa
học và tổ chức xã hội quan tâm nghiên cứu. Việc vận dụng các kiến thức xã
hội học vào nghiên cứu chủ đề trên sẽ góp phần làm phong phú thêm lý
thuyết của ngành khoa học xã hội nói chung và xã hội học nói riêng.
2.2. ý nghĩa thực tiễn
Bạo lực giới trong gia đình là một vấn đề có tính “nhạy cảm”. Nghiên
cứu góp phần đưa ra một bức tranh rõ nét hơn về vấn đề bạo lực giới trong
gia đình ở một lĩnh vực mới- lĩnh vực Tư vấn. Kết quả nghiên cứu còn cho
chúng ta thấy các hình thức bạo lực giới trong gia đình; nguyên nhân dẫn đến
bạo lực và hậu quả do bạo lực gây nên. Từ đó, nghiên cứu rút ra một số kết
luận và khuyến nghị làm cơ sở cho các tổ chức xã hội có cùng mối quan tâm
kết hợp với nhau trong hoạt động ngăn ngừa và phòng chống hiện tượng này.
Đối với hoạt động tư vấn, nghiên cứu cũng đưa ra một vài khuyến nghị có
tính chất khả thi nhằm giúp chuyên viên tư vấn tiếp cận với nạn nhân bị bạo
hành một cách có hiệu quả.
Luận văn thạc sĩ
- Không gian: trung tâm tư vấn Linh Tâm- Hà Nội
5.4. Mẫu nghiên cứu
- 179 ca tư vấn trực tiếp về bạo lực trong gia đình
- 20 phỏng vấn sâu chuyên viên tư vấn
Luận văn thạc sĩ Phạm Thị Mai Hương
6
- 3 phỏng vấn sâu cán bộ chính quyền, đoàn thể
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phân tích tài liệu
Tài liệu bao gồm:
- Các công trình nghiên cứu, tạp chí, kỷ yếu hội thảo của một số tổ
chức làm việc về vấn đề bạo lực trong gia đình
- Các bài viết, số liệu, công trình nghiên cứu được đăng trên tạp chí
Khoa học về Phụ nữ, tạp chí Xã hội học, tạp chí Cộng sản, báo Gia
đình Xã hội.
- Số liệu thống kê của trung tâm tư vấn Linh Tâm
- Văn bản lưu các ca tư vấn về bạo lực của trung tâm tư vấn Linh
Tâm
Khoảng thời gian từ tháng 3/2003 đến hết tháng 10/2004, văn phòng tư
vấn trực tiếp của trung tâm Linh Tâm đón nhận 226 ca, trong đó có 179 ca tư
vấn về bạo lực gia đình. Tất cả các ca tư vấn trực tiếp đều được ghi vào “Nhật
ký đàm thoại”. Nhật ký đàm thoại là loại văn bản lưu một số đặc tính nhân
khẩu học của người được tư vấn và rất nhiều thông tin khác trong nội dung ca
tư vấn. Ngoài ra, các ca khó và phức tạp được ghi chép vào “Sổ trao đổi” để
các chuyên viên có điều kiện trao đổi, góp ý trong các buổi “sinh hoạt chuyên
Từ 20- 29 tuổi
Từ 30- 39 tuổi
Từ 40- 49 tuổi
Trên 50 tuổi
Tổng 41
55
59
24
179
22.9
30.7
33
13.4
100
2
Nghề nghiệp
Cán bộ
Công nhân
Nông dân
Buôn bán
Nội trợ
Nghề tự do
Tổng
31
33
26.8
39.1
16.2
100
4
Số con
1 con
2 con
3 con
Chưa có con
Tổng
48
103
24
4
179
26.8
57.5
13.4
2.3
100
5
Số năm bị bạo lực
Từ 1- 4 năm
61
34.1
gia đình mà họ đã từng gặp trong thời gian công tác; những điều chuyên viên
cảm thấy khó khăn khi tư vấn cho khách hàng là nạn nhân của bạo lực trong
gia đình. Ngoài ra các chuyên viên tư vấn còn được hỏi để đưa ra một vài ý
kiến góp phần tư vấn bạo lực trong gia đình có hiệu quả. Các chuyên viên
được phỏng vấn có thời gian công tác tại trung tâm tư vấn khác nhau. Có
người tham gia ngay từ những ngày đầu mới thành lập (năm 1997) nhưng
cũng có những cán bộ còn rất trẻ, làm việc tại trung tâm khoảng năm- sáu
tháng. Các cán bộ chính quyền, đoàn thể được phỏng vấn nhằm khai thác
thông tin để phân tích và làm rõ hơn nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực
trong gia đình nói chung
7. Giả thuyết nghiên cứu
7.1. Các hình thức bạo lực giới trong gia đình rất đa dạng.
Luận văn thạc sĩ Phạm Thị Mai Hương
9
7.2. Bạo lực giới trong gia đình xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác
nhau như kinh tế, lạm dụng rượu, trình độ học vấn và những thành
kiến về giới
7.3. Bạo lực giới trong gia đình để lại những hậu quả nặng nề nhưng
người phụ nữ chưa nhận thức được mức độ nghiêm trọng trong tình
trạng bị bạo lực của mình
Luận văn thạc sĩ Phạm Thị Mai Hương
- Khuôn mẫu giới
Theo mối quan hệ
giữa các thành viên
trong gia đình
Hậu quả của bạo lực
Nạn nhân
Gia
đình
Xã
hội
Luận văn thạc sĩ Phạm Thị Mai Hương
11
Chương 1
cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
1. phương pháp luận
Luận văn được viết dựa trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng nhìn các hiện tượng xã hội trong mối
quan hệ nhân quả: Mọi hiện tượng trong xã hội không tồn tại độc lập mà luôn
tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau. Do đó, khi nghiên cứu hiện tượng, vấn đề xã
hội cần đặt chúng trong môi trường xác định, trong sự tương tác giữa hiện
tượng, vấn đề đó với hiện tượng, vấn đề khác.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử nhìn các hiện tượng xã hội trong một quá
trình: Mọi hiện tượng trong xã hội không tồn tại một cách bất biến mà luôn
này, Collins phát triển năm nguyên tắc phân tích xung đột mà ông áp dụng
đối với phân tầng xã hội và ông tin rằng chúng có thể áp dụng đối với bất kỳ
lĩnh vực nào của đời sống xã hội .
Đầu tiên Collins cho rằng lý thuyết xung đột phải tập trung vào đời sống
thực tế hơn là các hệ thống trừu tượng. Theo quan điểm của ông thì con
người như những “con thú” mà các hành động bị thúc đẩy bởi tính tư lợi
(có thể xem như những thủ đoạn) nhằm đạt được những thuận lợi khác
nhau để họ có thể đạt được những thỏa mãn và tránh đi những bất mãn.
Tuy nhiên, Collins không xem con người là duy lý hoàn toàn. Ông nhận ra
rằng, con người dễ bị tổn thương bởi những lôi cuốn tình cảm trong sự nỗ
lực tìm kiếm sự thỏa mãn của họ.
Thứ hai, Collins tin rằng, một lý thuyết xung đột về phân tầng phải xem
xét các sắp xếp vật chất ảnh hưởng tới sự tương tác. Lý do là: Các chủ thể
có tiềm năng vật chất lớn có thể cưỡng lại, thậm chí có thể biến đổi các
giới hạn vật chất. Trong khi đó, các chủ thể có ít tiềm năng thì hầu như bị
hệ thống vật chất của chính họ chi phối suy nghĩ và hành động.
Thứ ba, Collins lí luận rằng: Trong một hoàn cảnh bất bình đẳng, các
nhóm kiểm soát tiềm năng cố gắng bóc lột những nhóm thiếu tiềm năng.
Sự bóc lột như thế không cần tính đến những người hưởng lợi từ hoàn
cảnh đó, đơn giản là những người bóc lột theo đuổi những cái mà họ cho
Luận văn thạc sĩ Phạm Thị Mai Hương
13
là có lợi ích tốt nhất cho họ. Và trong quá trình đó, những người có tiềm
năng (bóc lột) lợi dụng những người thiếu tiềm năng (bị bóc lột)
Thứ tư, Collins nhìn vào các hiện tượng văn hóa như các niềm tin và lý
14
hiểu và phân tích nguyên nhân dẫn đến việc bạo lực đối với phụ nữ mà thủ
phạm là nam giới. Tuy nhiên, dựa vào nguyên tắc thứ năm: “Nhà xã hội học
nên tìm ra các nguyên nhân của các hiện tượng xã hội, đặc biệt là các đa
nguyên nhân của bất kỳ một hình thái hành vi xã hội nào” nên chúng tôi đã
tìm hiểu và phân tích thêm một hình thức bạo lực khác, đó là bạo lực của phụ
nữ đối với nam giới.
2.2. Lý thuyết tương tác biểu trưng giới
Mối tương quan giới là sản phẩm của quá trình tương tác giữa các cá
nhân nam và nữ. Mối tương quan này bị quy định bởi các quy tắc, các biểu
tượng, các ký hiệu và bộc lộ qua các hành vi, thái độ và suy nghĩ của nhau
trong quá trình giao tiếp. Trong giao tiếp đã hình thành nên một phức hợp các
biểu tượng có ý nghĩa chung là phân biệt địa vị, lao động và hành vi giới. Vai
giới được xác định thông qua hàng loạt các hệ thống biểu tượng do chính
người phụ nữ và nam giới tạo ra và sử dụng trong cuộc sống hàng ngày.
Nhưng mối quan hệ giữa nam và nữ không giới hạn ở mối tương tác xã hội
cấp vi mô gồm các cá nhân mà còn mở rộng sang cấp vĩ mô là hệ thống xã
hội. Từ đồ ăn, thức uống, quần áo, giày dép đến xe cộ, nhà cửa; từ điệu bộ, cử
chỉ đến lời ăn, tiếng nói; từ nề nếp gia đình đến luật pháp nhà nước; từ tế bào
gia đình đến cơ thể xã hội tất cả đều mang ý nghĩa giới.
Bạo lực giới trong gia đình biểu hiện ra qua ngôn ngữ, cử chỉ, hành
động như những câu nói không vừa lòng, những hành vi xúc phạm, thậm chí
là mắng chửi, đánh đập nhau. Ví dụ, cặp đại từ nhân xưng “anh- em” trong
quan hệ vợ- chồng xác định rõ vị thế và tương ứng là các vai trò của mỗi
người. Khi trật tự đó trở nên bất bình đẳng một cách phi lý thì người vợ có
thể dùng cách xưng hô “anh- tôi”, hoặc “ông- tôi” để lập lại thế cân bằng.
Còn người chồng dùng cụm từ “cô- tôi” vừa để xác định lại khoảng cách và
vị thế của mỗi người vừa thừa nhận tình thế “bình đẳng” [12, 24]. Nhiều
trường hợp bạo lực giới trong gia đình, thủ phạm đã sử dụng những lời nói
xúc phạm, đập phá đồ đạc nhằm thể hiện quyền uy, sức mạnh của mình với
nạn nhân. Ngược lại, nạn nhân có thể hiểu rằng đằng sau những hành vi kể
trên của thủ phạm là một thông điệp: “tiếp theo sẽ đến lượt cô”. Tóm lại, lý
thuyết tương tác biểu trưng giới được sử dụng trong nghiên cứu để phân tích
và làm rõ các hình thức bạo lực trong gia đình.
2.3. Lý thuyết xã hội hoá giới
Theo lý thuyết này, vai giới, tương quan giới là kết quả của quá trình
xã hội hoá cá nhân. Các cấu trúc hành vi, tình cảm và thái độ đặc thù cho mỗi
giới đã có sẵn trong xã hội trước khi đứa trẻ chào đời. Kể từ khi lọt lòng cho
đến lúc mất đi, con người không ngừng tiếp thu và làm theo các cấu trúc giới
đang tồn tại một cách khách quan. Trẻ em nam và trẻ em nữ bắt chước, học
Vai nam
Luận văn thạc sĩ Phạm Thị Mai Hương
16
Phạm Thị Mai Hương
17
hay cả những nơi vui chơi giải trí. Tuy nhiên chúng ta thấy bất ngờ hơn khi
biết nhiều phụ nữ cảm thấy bị đe dọa ngay trong chính gia đình mình. Thực tế
đã cho thấy, thậm chí gia đình- được coi là tổ ấm hạnh phúc của mỗi con
người- lại có thể biến thành địa ngục trần gian đối với một số phụ nữ, nơi mà
họ bị tước đoạt quyền tự do, tự chủ của chính mình.
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người đã khẳng định mọi người sinh
ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền. Cả nam và nữ đều bình
đẳng với nhau. Bất kì một hành vi bạo lực nào đối với phụ nữ đều vi phạm
nhân quyền. Nhưng trên thực tế, bạo lực chống lại phụ nữ dưới nhiều hình
thức đã và đang xảy ra ở mọi cộng đồng, mọi quốc gia trên thế giới bất kể sự
khác biệt về giai cấp, chủng tộc, tôn giáo. Bạo lực đối với phụ nữ không chỉ
là vấn đề một quốc gia hay khu vực mà nó còn là một vấn đề mang tính chất
toàn cầu.
Tại Hội thảo “Xây dựng cộng đồng hợp tác phòng chống bạo lực trong
gia đình” do CSAGA (Trung tâm nghiên cứu khoa học về Giới- Gia đình và
Vị thành niên) và đại sứ quán Mỹ tổ chức ngày 8/6/2004 tại Hà Nội, TS.
Robin Harr, khoa Luật Hình sự và Tội phạm học- trường đại học miền Tây-
bang Arizona- Mỹ, đã trình bày kết quả nghiên cứu về mức độ bạo lực giới
trong gia đình ở nhiều nước trên thế giới như sau:
Tại Nhật Bản: Khảo sát 796 phụ nữ, có 58% cho biết đã bị nam giới
bạo lực thân thể, 66% bị bạo lực tinh thần và 60% bị bạo lực tình dục
Tại Hàn Quốc: Trong 707 phụ nữ, có 37% bị chồng hành hung
Tại Trung Quốc: Kết quả cho biết tình trạng bạo lực tồn tại trong 30%
hộ gia đình và 80% trường hợp là do chồng hành hung vợ
ở Việt Nam.
Bài viết “Bạo lực gia đình- Bất bình đẳng trong quan hệ giới” của
TS. Lê Thị Quý đăng trên tạp chí Khoa học về phụ nữ- Số 4/2000 dựa trên cơ
sở thu thập phân tích một số tài liệu kết hợp với việc điều tra xã hội học năm
1998 tại xã C.N (Từ Liêm, Hà Nội) về các mối quan hệ trong gia đình của
nhóm nghiên cứu Giới (khoa Xã hội học, Phân viện báo chí tuyên truyền,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh). Bài viết cung cấp một số thông
Luận văn thạc sĩ Phạm Thị Mai Hương
19
tin phân tích về khía cạnh bạo lực gia đình, một biểu hiện của bất bình đẳng
giới. Bài viết được chia thành 4 phần:
1. Trong phần “Tình trạng bạo lực gia đình, bất bình đẳng giới và cách
nhìn nhận” tác giả nhận định: “Những năm gần đây, hiện tượng bạo
lực gia đình ở nước ta đã được công bố công khai trên các phương tiện
thông tin đại chúng”. Theo thống kê chưa đầy đủ của Toà án Nhân dân
tối cao tại 18 tỉnh và thành phố, trong 8 năm gần đây nhất, tại các địa
phương này đã xảy ra 11.630 vụ bạo lực gia đình buộc cơ quan chính
quyền và luật pháp phải can thiệp giải quyết.
2. Nội dung của phần “Quan điểm của người trong cuộc về bạo lực gia
đình” tác giả đã dẫn chứng nhiều ý kiến trong các cuộc phỏng vấn sâu
tại xã C.N (Từ Liêm, Hà Nội). Qua đó tác giả rút ra kết luận rằng:
“Các ông chồng đánh vợ bằng cái mà chúng tôi gọi là: “Những cú
đấm và quả táo” khiến người vợ đau đớn mà vẫn yêu thương, cảm
phục…Phản ứng phổ biến này đã đưa đến một hậu quả là: bạo lực gia
đình được bưng bít tối đa và tiếp tục xảy ra bất cứ lúc nào mà người
trong gia đình giết hại lẫn nhau (Nguyễn Xuân Yêm, 2003)
Nghiên cứu của Vũ Tuấn Huy (2003) ở một số tỉnh thuộc đồng bằng
Bắc bộ cho thấy trong vòng 12 tháng trước thời điểm điều tra, có 79% hộ gia
đình xảy ra ít nhất một lần về một loại hành vi bạo lực giữa vợ và chồng
trong gia đình. Trong các hộ gia đình được điều tra, hình thức bạo lực về tình
cảm như thờ ơ lãnh đạm, “chiến tranh lạnh” là khá phổ biến: 53,4% ở các
mức độ khác nhau. Tiếp theo là bạo lực về lời nói như lăng mạ hoặc chửi bới
xảy ra ở 20% hộ gia đình. Tỷ lệ hộ gia đình có các hình thức bạo lực khác
như đe doạ đánh hoặc ném đồ vật là 4,3%; đập phá đồ đạc 2,1%; đuổi ra khỏi
nhà 1,6%. Những hành vi bạo lực mang tính ngược đãi về thân thể như đánh,
tát, xô ngã có ở 5,5% số hộ gia đình.
Một nghiên cứu khác ở một xã nông thôn ở đồng bằng Bắc bộ cho thấy
có 87% số người được hỏi nói rằng ở xóm, thôn, nơi họ sinh sống có hiện
tượng bạo lực gia đình. Về bạo lực tinh thần có 94,4% người chồng chửi
mắng vợ. Ngược lại, cứ 3 người vợ thì có một người chủi mắng chồng (chiếm
33,3%). Về bạo lực thể chất: 54,4% số người được hỏi cho rằng hiện tượng
Luận văn thạc sĩ Phạm Thị Mai Hương
21
chồng đánh vợ và 8,9% số người được hỏi cho biết có hiện tượng vợ đánh
chồng (Hoàng Bá Thịnh, 2002)
Nghiên cứu “Bạo lực trên cơ sở giới” (Vũ Mạnh Lợi và đồng nghiệp,
1999) cho thấy hiện tượng ngược đãi về lời nói xảy ra trong khoảng 20% gia
đình và bạo lực thân thể xảy ra trong khoảng 10% các gia đình ở thành phố
Hồ Chí Minh. ở miền Trung, khoảng 50% người chồng có hành vi ngược đãi
về lời nói đối với vợ, tỷ lệ này ở Hà Nội là 10%. Có tới 75% người chồng
nguyên nhân của bạo lực trong gia đình là nguyên nhân trực tiếp và nguyên
nhân gián tiếp. Nguyên nhân trực tiếp gồm những mâu thuẫn vợ chồng nảy
sinh trong làm ăn kinh tế, nuôi dạy con cái, áp lực sinh con trai, thói quen cờ
bạc, lạm dụng rượu, ma tuý, cưỡng ép tình dục, hành vi ngoại tình…(Nguyễn
Thu Hà, 1998; Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu Thị
trường và Phát triển 2001). Nguyên nhân gián tiếp là sự bất bình đẳng giới
bắt nguồn từ truyền thống gia trưởng cho phép người đàn ông được đánh vợ
và tư tưởng tự ti, an phận của người vợ chấp nhận hành vi bạo lực của người
chồng (Lê Thi, 2001).
Những khuyến nghị nhằm khắc phục bạo lực giới trong gia đình mà
các tác giả đã nêu lên qua các công trình nghiên cứu có thể chia thành nhóm.
Một là những khuyến nghị nhằm thay đổi nhận thức của gia đình, cộng đồng
và xã hội về bạo lực gia đình (Lê Thị Quý, 1996; Phạm Kiều Oanh và
Nguyễn Thị Khoa, 2003; Bùi Thu Hằng, 2001; HLHPNVN và Trung tâm
Nghiên cứu Thị trường và Phát triển, 2001). Hai là những biện pháp cụ thể
nhằm ngăn chặn hành vi bạo lực trong gia đình (Vũ Mạnh Lợi, 2001; Bùi
Thu Hằng, 2001).
Cuốn sách “Bạo lực giới trong gia đình Việt Nam và vai trò của
truyền thông đại chúng trong sự nghiệp phát triẻn phụ nữ” do tiến sĩ
Hoàng Bá Thịnh chủ biên được xây dựng từ một tập hợp bài nghiên cứu,
tham luận đã được trình bày trong hội thảo “Bạo lực với phụ nữ trong gia
đình và vai trò của truyền thông đại chúng trong sự nghiệp phát triển
phụ nữ” ngày 28-29/6/2001 tại Hà Nội. Cuốn sách gồm hai phần chính. Phần
1 gồm 13 bài viết của nhiều tác giả khác nhau tập trung vào vấn đề “Bạo lực
giới trong gia đình Việt Nam: Quan điểm và giải pháp”. Phần hai gồm 9 bài
Luận văn thạc sĩ Phạm Thị Mai Hương
nảy sinh trong tình yêu- hôn nhân- gia đình của xã hội hiện đại v.v Những