ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM VĂN HANH
Vai trò của hệ thống siêu thị TP.Hồ Chí Minh đối với
hoạt động sản xuất hàng hóa nông sản
(Nghiên cứu trường hợp tỉnh Đồng Nai)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thu Hà
Hà Nội, 10 - 2010
1
1.1.3. Một số khái niệm liên quan 20
1.2. Cơ sở thực tiễn 26
1.2.1. Một số nghiên cứu về vai trò của siêu thị trong kinh doanh thực phẩm 26
1.2.1.1. Các nghiên cứu ngoài nước 26
1.2.1.2. Các nghiên cứu về Việt Nam 27
2
1.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu 30
Chương 2. Vai trò của hệ thống siêu thị TP.HCM đối với hoạt động chăn nuôi
lợn tại Đồng Nai 33
2.1. Những vấn đề chung về hệ thống siêu thị tại TP.HCM và chuỗi cung ứng
thịt lợn tại Đồng Nai 33
2.1.1. Thực trạng các siêu thị tại TP.HCM hiện nay 33
2.1.1.1. Tình hình phát triển siêu thị TP.HCM 33
2.1.1.2. Hoạt động kinh doanh thực phẩm trong các siêu thị TP.HCM 36
2.1.1.3. Xu hướng gia tăng vai trò của siêu thị với tư cách là kênh phân
phối chính nhóm hàng thực phẩm 38
2.1.2. Tổng quan về chuỗi cung ứng thịt lợn tại Đồng Nai 40
2.2. Thực trạng vai trò của hệ thống siêu thị TP.HCM đối với hoạt động
chăn nuôi lợn tại Đồng Nai 44
2.2.1. Vai trò của hệ thống siêu thị TP.HCM trong việc định hướng hoạt động
chăn nuôi lợn tại tỉnh Đồng Nai 45
2.2.1.1. Vai trò của siêu thị trong việc gắn kết hoạt động sản xuất với thị
trường 45
2.2.1.2. Vai trò của siêu thị trong việc định hướng sản phẩm đầu ra và
điều chỉnh qui mô sản xuất 48
2.2.2. Vai trò của hệ thống siêu thị TP.HCM trong việc tăng cường khả năng
liên kết chăn nuôi lợn tại Đồng Nai 52
2.2.2.1. Hệ thống siêu thị với việc tăng cường liên kết “4 nhà” 53
Hình 2.9. Quan hệ với “các nhà” của hai nhóm hộ chăn nuôi tham gia và không
tham gia chuỗi cung ứng thịt lợn cho siêu thị 55
Hình 2.10. Đánh giá hiệu quả tham gia liên kết “4 nhà” của hai nhóm hộ tham gia
và không tham gia chuỗi cung ứng thịt lợn cho siêu thị 57
Hình 2.11. Các hình thức hỗ trợ lẫn nhau giữa các hộ chăn nuôi lợn tham gia chuỗi
cung ứng cho siêu thị tại Đồng Nai 61
4
Danh mục bảng
Bảng 1.1. Tiêu chuẩn siêu thị, hàng hóa và dịch vụ kinh doanh tại siêu thị 23
Bảng 2.1. Diện tích bình quân một số hạng mục của các siêu thị tại TP.HCM 34
Bảng 2.2. Qui mô của kênh phân phối siêu thị tại TP.HCM theo số lượng đơn vị
trong kênh 35
Bảng 2.3. Cơ cấu nguồn hàng nông sản trong các siêu thị tại TP.HCM 37
Bảng 2.4. Qui mô và hình thức chăn nuôi của hai nhóm hộ khảo sát 42
Bảng 2.5. Mức độ sử dụng hợp đồng của các hộ chăn nuôi lợn tại Đồng Nai 59
Bảng 2.6. Giá bán thịt lợn tại hệ thống cửa hàng thực phẩm Visan và chợ truyền
thống 63
Bảng 2.7. Hạch toán chi phí & lợi nhuận trên 1 đầu lợn của các hộ chăn nuôi tại
Đồng Nai 64 5 Các chữ viết tắt
ADB
:
Người tiêu dùng
MALICA
:
Nhóm Nghiên cứu Quan hệ giữa thị trường và nông nghiệp ở
các thành phố Châu Á
M4P
:
Making Markets Work Better for the Poor – Dự án Nâng cao
Hiệu quả Thị trường cho Người nghèo
TACN
:
Thức ăn chăn nuôi
VISSAN
:
Hệ thống cửa hàng bán lẻ thực phẩm, thuộc Công ty TNHH
Vissan
VSATTP
:
Vệ sinh an toàn thực phẩm
PCCC
:
Phòng cháy chữa cháy
PVS
:
Phỏng vấn sâu
TP.HCM
:
Thành phố Hồ Chí Minh
THCS
phát triển bởi hầu hết các sản phẩm sản xuất với qui mô nhỏ lẻ, phục vụ tại chỗ là
chủ yếu, các hoạt động sản xuất cũng chưa gắn với thị trường. Trong rất nhiều
ngành hàng như vậy, chăn nuôi được xem như ngành hàng có tính chất sản xuất
hàng hóa tương đối rõ rệt bởi mức độ gắn kết khá chặt chẽ giữa sản xuất và tiêu
dùng. Chính vì vậy, nghiên cứu lựa chọn ngành chăn nuôi làm trường hợp điển hình
để đánh giá những tác động của một trong những mối liên kết rất quan trọng giữa
người sản xuất và kênh phân phối siêu thị.
Để đẩy mạnh các hoạt động sản xuất hàng hóa, cần phải tăng cường khả
năng liên kết giữa các khâu sản xuất, phân phối và tiêu dùng. Trong xu hướng hiện
nay, kênh phân phối nói chung và hệ thống các siêu thị nói riêng ngày càng đóng 1
Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 5 tháng 4 năm 1988 về đổi mới quản lý
kinh tế nông nghiệp. Nghị quyết này được gọi dưới tên khác là Chính sách khoán 10 với 3 nội dung
cơ bản là : (i) Giao quyền sử dụng đất cho nông dân; (ii) Tự do hóa thương mại, tạo điều kiện cho
người dân kinh doanh tự do cả đầu vào, đầu ra trên thị trường; (iii) Chuyển hợp tác xã, cơ quan
chịu trách nhiệm toàn bộ về tổ chức quản lý sản xuất, sang làm dịch vụ cho nông dân.
7
vai trò quan trọng như là một tác nhân liên kết và định hướng trong chuỗi giá trị từ
đầu cho đến cuối sản phẩm.
Suốt hai thập kỷ vừa qua, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước tăng
trưởng mạnh mẽ. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và hội nhập mạnh mẽ hơn với
nền kinh tế toàn cầu, các siêu thị đóng vai trò quan trọng trong hệ thống bán lẻ
lương thực, thực phẩm và chấp nhận những tác động đến hệ thống sản xuất và hệ
thống phân phối. Một trong những dấu hiệu có thể nhìn thấy được của toàn cầu hóa,
đô thị hóa và hội nhập gia tăng của các hệ thống kinh tế đó là sự tăng nhanh của các
siêu thị như một loại hình vượt trội của việc bán lẻ thực phẩm trên toàn thế giới. Sự
Nghiên cứu nhằm đánh giá vai trò của hệ thống siêu thị trong việc định
hướng thị trường, tăng cường khả năng liên kết và nâng cao hiệu quả kinh tế trong
sản xuất của các hộ chăn nuôi lợn, thông qua đó chỉ ra thực trạng, những hạn chế
trong mối liên kết giữa siêu thị với các hộ chăn nuôi và đề xuất các khuyến nghị
nhằm tăng cường khả năng liên kết giữa các tác nhân nhằm nâng cao hiệu quả sản
xuất cho các hộ nông dân.
3.2. Câu hỏi nghiên cứu
Hệ thống siêu thị có vai trò gì đối với hoạt động sản xuất của nông hộ?
Vai trò này được thể hiện như thế nào trong việc định hướng, liên kết sản
xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế của nông hộ?
Những hạn chế trong liên kết sản xuất giữa nông dân với siêu thị là gì?
Nguyên nhân do đâu? Các biện pháp khắc phục hạn chế, tăng cường khả
năng liên kết và nâng cao hiệu quả sản xuất cho nông hộ là gì?
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu vai trò của hệ thống siêu thị trong việc định hướng hoạt động sản
xuất của nông hộ thông qua việc gắn kết hoạt động sản xuất với thị trường;
định hướng về hình thức, về chất lượng các sản phẩm đầu ra đáp ứng nhu cầu
của người tiêu dùng;
Đánh giá vai trò của hệ thống siêu thị trong việc tăng cường khả năng liên
kết trong sản xuất thông qua liên kết giữa người sản xuất với nhà quản lý,
nhà khoa học và nhà kinh tế, và liên kết giữa những người sản xuất với nhau;
9
Làm rõ vai trò của hệ thống siêu thị với việc nâng cao hiệu quả sản xuất
thông qua phân tích chi phí sản xuất, giá bán, lợi nhuận và thu nhập của các
hộ sản xuất tham gia chuỗi liên kết và các hộ không tham gia chuỗi liên kết;
Đề xuất một số khuyến nghị đối với các bên liên quan trong chuỗi phân phối
nông sản nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất của nông hộ cũng như
tăng cường vai trò của hệ thống siêu thị trong hợp tác với người nông dân.
5.2. Phỏng vấn bảng hỏi
Nghiên cứu sử dụng phiếu thu thập thông tin được thiết kế dành cho cả hai
đối tượng: (i) hộ chăn nuôi có tham gia chuỗi cung ứng thịt lợn cho siêu thị và (ii)
hộ chăn nuôi không tham gia chuỗi cung ứng thịt lợn cho siêu thị. Nội dung thông
tin thu thập cho phép đánh giá, so sánh sự khác biệt giữa hai loại hộ trong các vấn
đề như: định hướng thị trường, định hướng sản phẩm và chi phí, lợi nhuận thu được
trong chăn nuôi.
Dung lượng mẫu và cách thức chọn
Khách thể nghiên cứu chính của nghiên cứu này là những hộ chăn nuôi có tham
gia vào chuỗi cung ứng thịt lợn cho các siêu thị tại TP.HCM. Dựa trên danh sách
thống kê của Phòng NN&PTNT 2 huyện Xuân Lộc và Thống Nhất, người
nghiên cứu đã lọc ra được 36 hộ chăn nuôi lợn tại 4 xã khảo sát đảm bảo yêu cầu
về mẫu nghiên cứu. Trong quá trình triển khai, đại diện một số hộ chăn nuôi đi
vắng, một số hộ khác từ chối tham gia trả lời phiếu khảo sát do lo sợ dịch bệnh
nên nhóm nghiên cứu đã khảo sát được 31 hộ theo yêu cầu. Trên thực tế, tổng số
các hộ chăn nuôi tham gia vào chuỗi cung ứng thịt lợn cho các siêu thị tại
TP.HCM tại địa bàn nghiên cứu chỉ có 36 hộ, do vậy kết quả khảo sát đối với 31
hộ chăn nuôi (lớn hơn qui mô mẫu tối thiểu 30; tương đương với 86,1%) là đảm
bảo tính đại diện cho qui mô mẫu tại địa bàn khảo sát. Người nghiên cứu tự
nhận thấy rằng, việc chọn mẫu trong nghiên cứu này chưa thể suy rộng nếu xét
trên phạm vi rộng của vấn đề nghiên cứu. Chính vì vậy, nghiên cứu này chỉ xem
xét vấn đề trong phạm vi hẹp với trường hợp vai trò của các siêu thị tại TP.HCM
với hoạt động chăn nuôi lợn của các hộ nông dân tại Đồng Nai.
11
Có 86 hộ chăn nuôi lợn không tham gia chuỗi cung ứng thịt lợn cho siêu thị tại
TP. HCM được chọn khảo sát để so sánh, đối chứng. Đối với nhóm hộ chăn nuôi
không tham gia chuỗi cung ứng siêu thị, nghiên cứu sử dụng cách thức chọn
mẫu phân tầng kết hợp với chọn ngẫu nhiên. Các hộ sản xuất được phân loại
Tổng số: Khảo sát phiếu hỏi với
31 hộ, tiến hành 4 PVS
- H. Xuân Lộc: 16 hộ và 2 PVS
- H. Thống Nhất: 15 hộ và 2
PVS
Hộ chăn nuôi không tham
gia chuỗi cung ứng cho
siêu thị
Phiếu khảo sát
Tổng số: Khảo sát phiếu hỏi với
86 hộ, tiến hành 2 PVS
- H. Xuân Lộc: 46 hộ và 1 PVS
- H. Thống Nhất: 40 hộ và 1
PVS
12
13 Mô tả chung về mẫu khảo sát
Ở nội dung này, người nghiên cứu muốn làm rõ những hộ chăn nuôi hiện
đang tham gia chuỗi cung ứng thịt lợn cho siêu thị là ai thông qua việc mô tả những
đặc điểm chung về họ. Đây là nhóm mục tiêu, có ý nghĩa quyết định đối với việc
cung cấp thông tin cho những phân tích trong báo cáo này. Đồng thời, để giúp cho
những phân tích và lý giải ở các phần tiếp sau được chặt chẽ, việc mô tả đặc điểm
của nhóm mục tiêu được đặt trong tương quan so sánh với nhóm đối chứng – là
những hộ chăn nuôi không tham gia chuỗi cung ứng thịt lợn cho siêu thị.
Đặc điểm nhân khẩu học của người tham gia khảo sát
NHÓM
MỤC TIÊU
(%)
NHÓM
ĐỐI CHỨNG
(%)
MẪU
KHẢO SÁT
(%)
Giới tính
Nam
76,7
67,4
69,8
Nữ
23,3
32,6
30,2
Cơ cấu nhóm tuổi
Dưới 25 tuổi
0,00
0,00
Tốt nghiệp THCS
26,7
54,7
47,4
Tốt nghiệp THPT
33,3
29,1
30,2
Trung cấp/CNKT trở lên
13,3
2,30
5,10
Quan hệ với chủ hộ
Chủ hộ
60,0
62,8
62,1
Vợ/chồng chủ hộ
30,0
32,6
31,9
Bố/mẹ của chủ hộ
06,7
2,30
3,40
Con của chủ hộ
03,3
chuỗi cung ứng thịt lợn hơi cho các siêu thị tại TP.HCM và 2 trường hợp PVS các
hộ chăn nuôi lợn không tham gia chuỗi cung ứng này nhằm đánh giá mức độ
chuyên nghiệp hóa trong hoạt động sản xuất ở hai nhóm hộ này trong các vấn đề
như tính toán đến các yếu tố nhu cầu, thị hiếu của thị trường trong quá trình sản
xuất, định hướng đầu ra cho sản phẩm, chi phí, giá cả, thu nhập
PVS cũng được tiến hành đối với đại diện của 3 siêu thị tham gia chuỗi cung
ứng với các hộ chăn nuôi. Nội dung phỏng vấn tập trung vào các vấn đề như chính
sách giá và các hỗ trợ bao tiêu sản phẩm cho các hộ chăn nuôi; vấn đề thực hiện hợp 2
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng quan điểm về nghề nghiệp chính là hoạt động lao động
chiếm nhiều thời gian nhất và mang lại nguồn thu nhập lớn nhất.
16
đồng nông sản; những khó khăn, trở ngại của doanh nghiệp phân phối; các giải pháp
tăng cường khả năng liên kết nông dân – siêu thị.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Hệ thống siêu thị có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các thông tin thị
trường, định hướng sản xuất; nâng cao chất lượng và hình thức sản phẩm
nông sản nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường và tạo ra sự gắn kết giữa các
hộ sản xuất, giữa người sản xuất với nhà khoa học, nhà quản lý và nhà kinh
tế.
Thông qua liên kết sản xuất theo hợp đồng, hệ thống siêu thị góp phần làm
tăng hiệu quả kinh tế cho các hộ chăn nuôi.
Sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và tâm lý tiểu nông là những trở ngại lớn nhất có
thể phá vỡ liên kết nông dân – siêu thị và làm giảm sút vai trò của siêu thị.
7. Khung lý thuyết
Vai trò của các siêu
tại TP.HCM
17
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.1. Cơ sở lý luận và cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Cơ sở lý luận nghiên cứu
Nghiên cứu lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
làm phương pháp luận nghiên cứu.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ nhìn nhận thế giới tồn tại xung
quanh chúng ta là thế giới vật chất không ngừng vận động, phát triển mà còn vạch
ra những quy luật khách quan chi phối đến sự vận động và phát triển đó. Trong đời
sống xã hội, mỗi cá nhân luôn luôn tồn tại trong quan hệ nhóm, quan hệ cộng đồng,
xã hội và hành vi của mỗi cá nhân cũng bị chi phối, phụ thuộc bởi các quan hệ xã
hội đó.
Hoạt động chăn nuôi của các hộ gia đình nằm trong mối quan hệ ràng buộc
chặt chẽ với hoạt động cung ứng nguyên liệu đầu vào (vốn, con giống, thức ăn chăn
nuôi) và định hướng đối với người mua (thị trường). Sản phẩm chăn nuôi từ khâu
sản xuất cho đến khi được đưa đến tay người tiêu dùng cuối có sự tham gia của
nhiều tác nhân như thu mua, giết mổ, chế biến, phân phối. Giữa các tác nhân có mối
liên kết lẫn nhau về mặt lợi ích, do vậy quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng
đòi hỏi khi xem xét bất kỳ tác nhân nào hay mối quan hệ nào đều phải đặt chúng
trong bối cảnh chung. Trong nghiên cứu này, làm rõ vai trò của siêu thị đối với hoạt
động chăn nuôi của nông hộ không thể không làm rõ chuỗi cung ứng mà hai chủ thể
đó cùng tham gia.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng chỉ ra rằng, khi xem xét một vấn đề cần phải
về sự khác biệt trong so sánh giữa hai nhóm hộ chăn nuôi lợn tại Đồng Nai. Chi phí
và lợi nhuận của nhóm hộ không tham gia chuỗi cung ứng thịt lợn cho các siêu thị
là hành vi của những cá nhân đơn lẻ. Trong khi đó, các hộ chăn nuôi tham gia chuỗi
cung ứng thịt lợn cho các siêu thị có mối liên kết mạnh mẽ hơn với nhà quản lý, nhà
khoa học và các doanh nghiệp, đặc biệt là mối liên kết giữa các hộ cùng tham gia
chuỗi cung ứng.
Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý
Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào tiền đề cho rằng con người hoạch định hành
động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một
19
cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu. Tức là trước khi
quyết định một hành động nào đó con người luôn luôn đặt lên bàn cân để cân đo,
đong đếm giữa chi phí và lợi nhuận mang lại, nếu chi phí ngang bằng hoặc nhỏ hơn
lợi nhuận sẽ dẫn đến quyết định thực hiện hành động và ngược lại nếu chi phí lớn
hơn lợi nhuận thì họ không hành động.
Khi nhắc đến lý thuyết trao đổi và lựa chọn hợp lý, có lẽ không ai có thể
vượt qua được tên tuổi của Georg Simmel. Ông nêu ra nguyên tắc “cùng có lợi”
trong mối tương tác xã hội giữa các cá nhân và cho rằng mỗi cá nhân luôn phải cân
nhắc, toan tính thiệt hơn để theo đuổi các nhu cầu cá nhân, thỏa mãn các nhu cầu cá
nhân. Simmel cho rằng mối tương tác giữa người với người đều dựa vào cơ chế cho
– nhận, tức là trao đổi mọi thứ ngang giá nhau.
Quan niệm này về sau được phát triển thành học thuyết trong nghiên cứu xã
hội học hiện đại. Thuyết trao đổi coi tương tác xã hội như là một sự trao đổi hàng
hóa, dịch vụ giữa các bên tham gia. Mỗi bên luôn xem xét chi phí bỏ ra và lợi nhuận
mang về của từng món hàng, từng dịch vụ trước khi đưa chúng ra trao đổi với nhau.
Quan điểm này không được mặn mà mấy với các nhà xã hội học nhưng thực tế cho
thấy ở mọi lúc, mọi nơi con người ta đều sử dụng nó. Nhất là trong thời đại kinh tế
thị trường như hiện nay thì quan điểm này ngày càng tỏ rõ vai trò quan trọng trong
là ông đã đưa các lý thuyết xã hội của mình vượt khỏi phạm vi của các định đề tâm
lý học về sự lựa chọn của cá nhân. Thay vì nhấn mạnh các yếu tố tâm lý của hành vi
lựa chọn, Blau đặc biệt chú ý đến vai trò của “cấu trúc xã hội”. Ông nghiên cứu cấu
trúc xã hội vi mô với tư cách là cấu trúc tế bào của xã hội, tức là cấu trúc nhóm đôi,
nhóm cặp. Trên cơ sở đó, ông triển khai nghiên cứu đặc điểm, tính chất của cấu trúc
xã hội vĩ mô gồm nhiều người, nhiều nhóm xã hội, nhiều thiết chế xã hội và hệ
thống xã hội.
Trong nghiên cứu này, hành vi giữa người mua và người bán lợn tại Đồng
Nai được xem xét dưới góc độ của hành vi trao đổi. Đây là các hoạt động mang tính
chất kinh tế, do vậy đương nhiên nó được nhìn nhận trên cơ sở tính toán và cân đối
sự hợp lý về mặt chi phí và lợi nhuận. Hành vi này không đơn thuần là hành vi diễn
ra giữa hai cá nhân người bán và người mua mà được xem xét theo quan điểm “trao
đổi xã hội” của Blau trong mối quan hệ với các cấu trúc vĩ mô khác. Nói cách khác,
hành vi mua-bán đối với sản phẩm thịt lợn được đặt trong mối quan hệ cung ứng
giữa nhiều tác nhân liên hệ, ràng buộc về mặt lợi ích. Thông qua mối quan hệ trao
đổi này, nghiên cứu sẽ tập trung làm rõ vai trò của các quan hệ mua-bán đối với các
chủ thể, đặc biệt là vai trò siêu thị đối với hoạt động chăn nuôi của các hộ nông dân.
1.1.3. Một số khái niệm liên quan
Vai trò
21
Theo nghĩa chung nhất, từ điển tiếng Việt định nghĩa vai trò (Role) là tác
dụng, là chức năng trong sự hoạt động hoặc sự phát triển của một cái gì đó.
Trong Xã hội học, khái niệm vai trò được nói đến cụ thể hơn khi gắn vị thế
xã hội của từng cá nhân, đó là vai trò xã hội (Social role). Xã hội học định nghĩa vai
trò xã hội là mô hình hành vi được xác lập một cách khách quan, căn cứ vào đòi hỏi
của xã hội với từng vị thế nhất định, để thực hiện những quyền và nghĩa vụ tương
ứng với các vị thế đó [15; trang 273].
Sự khác biệt căn bản trong hai khái niệm này ở chỗ, vai trò với nghĩa nói
nghiệp trong kinh doanh chắc chắn tham gia vào một hoặc một số hệ thống phân
phối hàng hóa nhất định.
Hàng hoá lưu thông qua các hệ thống phân phối thông qua cơ chế "kéo đẩy".
Cơ chế “kéo” nghĩa là các doanh nghiệp dùng các biện pháp tác động vào nhu cầu
của người tiêu dùng cuối cùng để tạo ra mong muốn của họ, để họ tạo nên lực hút
hàng hoá ra thị trường. Cơ chế “đẩy” nghĩa là doanh nghiệp sử dụng các biện pháp
thúc đẩy các thành viên của hệ thống phân phối hàng hóa tăng cường hoạt động tiêu
thụ tạo thành lực đẩy hàng hoá ra thị trường. Sự hoạt động của hệ thống phân phối
hàng hóa rất phức tạp do có nhiều dòng vận động. Sự vận động liên tục chính là bản
chất của các hệ thống phân phối hàng hóa.
Siêu thị và hệ thống siêu thị
Hiện nay có khá nhiều định nghĩa khác nhau về siêu thị. Có tác giả dịch từ
“suppermarket” trong từ ghép này với supper nghĩa là “siêu” và market có nghĩa là
“thị” hay chợ. Vì vậy có nhiều ý kiến cho rằng siêu thị là một loại chợ văn minh.
Mặc dù được định nghĩa là chợ nhưng thực chất đây là một loại chợ văn minh, được
tổ chức và quy hoạch cụ thể, có cơ sở vật chất hiện đại, phục vụ người mua một
cách văn minh. Siêu thị mang những đặc điểm chủ yếu như:
o Là một loại cửa hàng riêng nằm trong mạng lưới bán lẻ hàng hoá và dịch vụ,
với mặt hàng kinh doanh chủ yếu là các hàng hoá phục vụ nhu cầu hàng
ngày.
o Tự phục vụ là một phương thức kinh doanh trọng yếu nhưng không phải bất
cứ đâu có phương thức bán hàng tự phục vụ đều là siêu thị.
Tại Pháp, người ta định nghĩa siêu thị là đơn vị bán lẻ hàng hoá, bán hàng
theo phương thức tự phục vụ có diện tích lớn. Hàng hoá trong siêu thị rất đa dạng,
từ 5.000 đến 10.000 mặt hàng tiêu dùng thông thường (thực phẩm, quần áo, giầy
dép).
Tại Hoa Kỳ, siêu thị được định nghĩa là cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn,
có mức chi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao và khối lượng hàng hoá bán ra lớn,
23
siêu thị kinh doanh
tổng hợp
- Từ 500 m2 với siêu
thị chuyên doanh
- Từ 5.00 m2 trở lên
Danh mục
hàng hóa
kinh
doanh
- Từ 20.000 tên
hàng với siêu thị
kinh doanh tổng
hợp
- Từ 2.000 tên
hàng với siêu thị
chuyên doanh
- Từ 10.000 tên hàng
với siêu thị kinh
doanh tổng hợp
- Từ 1000 tên hàng
với siêu thị chuyên
doanh
- Từ 4.000 tên hàng
với siêu thị kinh
doanh tổng hợp
- Từ 500 tên hàng với
siêu thị chuyên doanh
Hạ tầng
cơ sở
dụng [Kaplinsky, 1999; trang 121] và [Kaplinsky và Morris, 2001; trang 4].
Sự khác nhau cơ bản giữa hai khái niệm nằm ở mục đích hướng đến của
chúng:
o Khái niệm chuỗi giá trị bao hàm cả vấn đề về tổ chức, điều phối, các chiến
lược và quan hệ quyền lực của những người tham gia khác nhau trong chuỗi.
o Ngoài ra, khái niệm chuỗi giá trị còn gắn liền với khái niệm quản trị vô cùng
quan trọng đối với những nhà nghiên cứu quan tâm nhiều đến khía cạnh xã
hội và môi trường trong phân tích chuỗi giá trị. Việc thiết lập (hoặc sự hình
thành) các chuỗi giá trị có thể gây sức ép đến nguồn tài nguyên thiên nhiên,
có thể làm thoái hóa đất, mất đa dạng sinh học hoặc gây ô nhiễm…
o Thêm vào đó, sự phát triển của chuỗi giá trị có thể ảnh hưởng đến các mối
ràng buộc xã hội và tiêu chuẩn truyền thống. Ví dụ như do quan hệ quyền lực
giữa các hộ trong cộng đồng thay đổi, hoặc những nhóm dân cư nghèo nhất
hoặc dễ bị tổn thương chịu tác động tiêu cực từ hoạt động của những người
tham gia vào chuỗi giá trị.
o Khái niệm về chuỗi cung ứng quan tâm nhiều hơn đến vấn đề hậu cần
(logistic) để đưa hàng hóa từ sản xuất đến tiêu dùng sao cho hiệu quả. Trong
chuỗi cung ứng, người ta chú trọng việc phát triển các mối quan hệ với đối
tác, kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất với nhà cung cấp, người tiêu dùng và
các bên liên quan như các công ty vận tải, kho bãi, giao nhận và các công ty
công nghệ thông tin nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất.
Hiện nay, khái niệm chuỗi giá trị thường được dùng trong phân tích chính
sách, tính toán giá trị gia tăng các khía cạnh xã hội liên quan như bất bình đẳng
trong phân phối chi phí và lợi ích giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi. Khái niệm