ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TDƯÒNC DẠI IIỌ C KJIOA ỊIỌG AA IIỎI VA NilÂN VẢN
— —
gâ-s'S 5X /"'J
VAI TRÒ CỦA CÁN B ộ VỂ H ư u THAM GIA
HOẠT ĐỘNG TẠI c ơ s ở PHƯỜNG ở HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH XÃ HỘI HỌƠ
Mã số: 5-01-09
Ã-££•<?>
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC XÃ HỘI HỌC
HOC
HOC QUOC • '■ «A HỘI I
y - / . ^ / â ? I
MỤC LỤC
■ *
Trang
Lòi nói đầu 2
Chương I: Lý luận và phương phấp nghiên cứu
1- Tính cấp thiết của đề tài 5
2- Tình hình nghiên cứu người già trên Thế giới và ở Việt Nam 7
3- Mục đích và nội dung nghiên cứu 11
4- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
5- Giả thuyết nghiên cứu 12
6- Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 13
7-Các khái niệm cơ bản 17
8- Khung lý thuyết 23
9- Ý nghĩa của luận án 23
Chương II: Kết quả n ghiên cứu thự c nghiệm
1- Cấp phường trong tổ chức hành chính ồ Hà Nội 25
2- Đặc trưng xã hội của cán bộ hưu tham gia hoạt động 31
bộ lãn h đạo chủ chổi trong các tổ chức Đ ảng, ch ính qu yền, đoàn
th ể tương đối n h iều . N h iều người trong sô' họ đã p h á t h u y tốt vai
trò trong các hoạ t động tạ i cơ sở phư ờ n g, thông q u a h o ạ t đ ộ n g thự c
tiễn của m ình, họ có n hữ n g đóng góp thiết thực vào hoạt động
quả n lý N hà nước, g ắ n bó với n h â n d â n ồ địa bàn cơ sở n h ằ m thực
hiện có hiệu quả các m ục tiêu k ỉn h tế xã hội do T h à n h p h ô đ ề ra.
C ũng từ thực tế đó, m ột s ố cán bộ hư u trí do tuổi cao, sức khoẻ yếu ,
nên chưa đ á p ứng được với yêu cầu của công việc. T ìn h h ìn h trên
đ ặ t ra chọ công tác tổ chức cán bộ cấp phư ờ n g của T h à n h p h ô
n h ữ ng vấn đ ề cần nghiên cứu và g iả i quyết, trong đó có vấn đ ề cần
tiến hà n h nh ữ n g nghiên cứu khoa học nh ằ m tìm hiểu n h ữ n g thu ậ n
lợi khó kh ă n của người về hư u đ a n g th a m g ia công tác tại phường,
vấn đề này được đ ặ t trong mối qua n hệ xu n g q u a n h các qu an hệ xã
hội của họ, đ ể người về h ư u th a m g ia công tác tại cơ sở p hư ờ ng
p h á t h u y có h iệu qu ả hơn nữa vai trò xã hội cụa họ. Đ ây cũ ng là
vấn đ ề cơ bản m à lu ậ n văn của c hú n g tôi đ ề cập tói. Với s ự chỉ đạo
và hướng d ẫ n của Phó tiến sĩ M ai Q u ỳnh N a m ch ú n g tôi m ạ n h
d ạ n chọn và ngh iên cứu đ ề tài “V a i tr ò c ủ a c á n bộ v ề h ư u th a m
g ia h o ạ t đ ộ n g tạ i cơ sở p h ư ờ n g ở H à N ộ i” là m lu ậ n vần T hạc
sĩ X ã hội học.
Đ ể hoàn th à n h luận văn, c hú n g tôi đã n h ậ n dược sự giú p đd
qu ỵ báu, n h ữ n g góp ý và chỉ bảo của B an chủ n h iệm khoa X ã hội
học, của các đồng ch í B a n g iá m hiệu trường Đào tạo cán bộ Lê
H ồng Phong, của các thầy, các cô g iáo trong và ngoài khoa cùng
bạn bè đồ n g nghiệp. Đặc biệt là n h ữ n g ỷ kiến chỉ bảo của Phó tiến
sĩ M ai Q uỳnh N a m - người hướng dẫ n khoa học; Giáo sư P h ạ m T ất
D ong C hủ n h iệm khoa X ã hội học; Phó Giáo sư - Phó tiến sĩ
N g u yễn A n Lịch - Phó C hủ nh iệm khoa X ã hội học và P hó tiến sĩ
V ũ Hào Q u ang - P hó C hủ n h iệm khoa X ã hội học. C hún g tối xin
ch â n thà n h cảm ơn các thầy, các cô, các bạn đồng nghiệp, các a n h
các hình thức hoạt động xã hội của ngưòi cao tuổi ở V iệt N am ,
trong đó có m ột bộ phận cán bộ hưu hiện đang tham gia công tác
tại cơ sỏ phưòng.
Theo số liệu thống kê và kết quả của m ột sô' nghiên cứu
cho thấy: Thường có m ột tỷ lệ khá cao (50-70%) người v ề hưu ở
các thành phô" lớn đang trực tiếp đảm nhận những công việc của
bộ m áy chính quyền, Đảng, đoàn thể ở phường khóm (2 1-tr.l9),
họ trở thành m ột lực lượng xã hội đông đảo trực tiếp tham gia
vào hoạt động xã hội tại đơn vị phường. B ằng nhũn g hoạt động
hăng h ái và có hiệu quả của m ình, họ lại tiếp tục phát hu y vai trò
xã hội của những cán bộ, Đ ảng viên, những người đã có quá trình
lâu dài gắn bó với sự nghiệp cách m ạng của Đ ảng và của dân tộc.
N a y đến tuổi nghỉ hưu, họ vượt qua những khó khăn như tuổi
già, sức yếu, điều kiện kinh tế không phải đã hoàn toàn su n g túc,
đầy đủ, để gắn bó vối phong trào nhằm th ể h iện trách nhiệm xã
hội trên những lĩnh vực hoạt động mà họ đảm nhiệm . B ằng
những hoạt động này, các mổi quan hệ mối được h ình th ành, vai
trò xã hội của họ trong nhữ ng điều kiện mới được k h ẳng định.
Việc tìm hiểu vai trò của những người v ề hưu tại h oạt động ở cơ
sở phường, một m ặt cho thấy những đóng góp có hiệu quả của họ
thông qua mối liên hệ giữa cán bộ với quần chúng và với phong
trào, m ặt khác, bằng những h oạt động này, người v ề hưu có điều
kiện gắn bó hơn với cuộc sống, những h ạn ch ế của tuổi già được
khắc phục do tính tích cực chính trị xã hội của họ m ang đến.
6
Việc những người về hưu tham gia hoạt động tại phường
đang tạo ra mốỉ quan tâm của nhữ ng người làm công tác quản lý.
N hững nghiên cứu khoa học đối với nhóm người này nhằm tìm
hiểu các tác n hân xã hội chi phôi hoạt động xã hội của những
người về hưu. Đ ộng cơ và nhu cầu của họ, cũng như góp phần
cho thấy khó khăn về đời sống là thu nhập thấp, lương hưu
chiếm 1/3 tổrlg thu nhập, ồức khoẻ kém hơn so với tuổi, đòi sống
tinh th ần kém. Theo m ột ngh iên cứu khác của Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội (Đỗ M inh Cương - 1994) hiện có gần 2
triệu người hưồng trợ cấp hưu trí và m ất ốức lao động trong đó có
hơn 1,1 triệu người hưởng trơ cấp hưu, chỉ có gần 1/5 về hư u theo
đúng luậ t định (60 tuổi với nam giới, 55 tuổi với nữ giổi) dự báo
rằng vào năm 2000 số’ người hưởng trợ cấp hưu sẽ là 965 nghìn
người.
Trong khuôn khổ một chương trình nghiên cứu cấp quốc
gỉ a về nhà ở, năm 1986 nhóm các nhà Xã hội học đã tiến hành
m ột cuộc khảo sá t thực nghiệm v ề đời sông của người đã nghỉ
hưu ỏ nội thàn h Hà Nội. Qua đây cho chúng ta thấy nhiều thông
tin về đời sống người ngh ỉ hưu như trách nhiệm gia đình, làm
thêm , giúp đỡ con cái, khác biệt th ế hệ
Tới đầu những năm 90, nhóm người nghỉ hưu từ khu vưc
N h à nước chiếm khoảng 1/4 tổng số người già. Vổi sự giúp đỡ của
9
vụ Jtiao trợ Aa Ỉ1Ọ1 (bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) một
phân tích thông kê về nhóm ngưòi về hưu đã được thực hiện vào
năm 1992 cho thấy: v ề cơ cấu nhóm người hưu trí và m ất sức
thuộc khu vực N hà nước bao gồm ba nhóm lớn; Hưu trí dân sự
(công nh ân viên N hà nước) chiêm 60,4%; Hưu trí quân đội chiêm
11,4% và m ất sức (đây là những người chưa đủ tuổi về hưu và
chưa đủ năm công tác) chiếm 28,2%. Phân bô' không đều những
người về hưu nam gấp 4,3 lần ngưòi về hưu nữ trong cơ cấu giới
tính. V ề phân bô' khu vực địa lý của nhóm người này cũng không
đều giữa m iền N am và m iền Bắc, giữa m iền xuôi và m iền ngược
cũng khác nhau, v ề độ tuổi hưu, sô" liệu nấm 1984 chỉ ra tuổi
trung bình của ngưòi nghỉ hưu là 55,91 (nam là 56,34, nữ là
Tìm h iểu vai trò của cán bộ hưu trí hoạt động tại cơ sở
phường ở Hà Nội.
Đ ể thực hiện m ụ c đích này, c h ú n g tôi h ư ớ n g đến nội d u n g
nghiên cứu như sau:
a) N g h i ê n c ứu n h ữ n g đặc trưng xã hội của đội n g ũ cán bộ
về h ư u đ a n g t h a m gia công tác q u ả n lý tại cơ sở
phường.
11
b) N ghiên cứu các hoạt động của ngưòi về hưu tại cơ sở
phường.
c) Tim hiểu những nhu cầu và nguyện vọng của người về
hưu để tăng cường hiệu quả xã hội trong các hoạt động
của họ.
d) Bước đầu đề xu ấ t những kiến nghị và giải pháp nhằm
tạo điều kiện để người về hưu đang công tác taị phường
phát h uy tính tích cực của họ.
4- Đ ối tương và pham vi nghiên cừu:
a) Đ ố i tư ơ n g n g h iê n c ứ u :
Các cán bộ đã về nghỉ hưu và nghỉ m ất sức đang tham gia
hoạt động trong các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể tại cơ sỏ
phường ở H à Nội.
b) P h a m vi n sh ìên cứu:
Các dũ liệu của lu ậ n văn được rút ra từ việc n gh iên cứu ỗ
30 phường của 6 quận nội thàn h H à Nội: Hoàn Kiếm, B a Đ ình,
H ai Bà Trưng, Đ ông Đa, Tây Hồ và Thanh Xuân.
5- Giả th u yết ngh iên cửu;
N hữ n g b iến đổi xã hội dưới tác động của công cuộc đổi mới
đã tạo điều kiện p h á t h u y tính tích cực xã hội của nhóm dân cư,
:ác tập đoàn xã hội trong đó có nhóm người về hưu đang tham
12
thàn h m ột nhóm theo độ tuổi, tức là một thành tô' trong cơ cấu
nhân khẩu - xã hội của xã hội mà theo cách hiểu nghĩa rộng là
m ột bộ phận cấu thành cò cấu xã hội của xã hội.
ò đây khái niệm ngưòi già được hiểu là những người đã
được n ghỉ hưu đã h ết tuổi lao động theo qui định của Nhà nước
V iệt Nam , nam giới là 60 tuổi, nữ giới là 55 tuối, những người
này đâ h ết m ột phần hay toàn bộ khả năng lao động, sống bằng
lương hư u hoặc các nguồn trợ cấp của N hà nước, của xã hội, hoặc
từ nguồn tích luỹ của cá nhân hay trợ giúp của gia đình và người
thân.
Lý luận Xã hội học về cơ cấu xã hội cũtig chỉ ra rằng
nh ữ n g người có tuổi ròi bỏ lĩnh vực n ghề nghiệp để chuyển vào
nhóm người già, như m ột quá trình dịch chuyển xã hội từ m ột
nhóm xã hội n ày sang m ột nhóm xã hội khác trong cơ cấu xã hội
của xã hội. Đó là quá trình vận động tất yếu nhằm bảo đảm tính
14
năng động, đổi mới và tiến bộ xã hội. Vấn đề là ở chỗ đôi với
nhữ ng người già cần phải có sự chuẩn bị cần thiết để có được sự
thích ứng tự nhiên, từng bước, tránh những hẫn g hụt về phương
diện tinh thần, tâm lý xã hội. N hà khoa học Liên Xô (cũ) ĩs Con
đã cho rằng: “Sự chuẩn bị về hưu là m ột yêu tô cũng cần th iêt
cho việc xã hội hoá tuổi già giông như sự định hướng nghề nghiệp
trong thời thanh niên”. (21 -tr.l8)
Mặc dù vậy, trên thực tế và cả trong các nghiên cứu Xã hội
học, điều này hầu như chưa được chú ý. N ếu như ở “lôi vào” của
cuộc đời lao động, m ỗi cá nhân đều chíỢc xã hội chú ý (bằng các
hoạt động giáo dục, hướng nghiệp, chuẩn bị kỹ lưdng). Thì ở “lối
ra” của nó những người ra đi thường lặng lẽ hơn và vì lẽ đó sự
chuẩn bị cho họ cũng chưa thể gọi là đầy đủ.
N hư vậy, xem xét người có tuổi trong tổng thể cơ cấu xã
chính quyền, đoàn thể tại cơ sở phiíờng nói trên ỏ Hà
Nội.
• Phỏng vấn sâu 15 trường hợp nhằm khai thác quan
điểm , nhu cầu và sự gắn bó với công việc của các cán bộ
hưu nhằm làm sáng rõ thêm cho các n ghiên cứu định
lượng.
16
• Phân tích và sử dụng các tài liệu đã được công bô có liên
quan đến chủ đề nghiên cứu.
7- Các khái niẻm cơ bản:
a) Cơ cấu xã hôỉĩ
- Theo T ừ đ iển X ã hội học tóm tắ t (Liên Xô) đ ịn h n gh ĩa :
Cơ cấu xã hội là tổng thể các nhóm xã hội có liên hệ và tác
động qua lại lẫn nhau, cũng như các th iết ch ế xã hội và các môi
quan hệ của chúng. Cơ ch ế tồn tại và phát triển của cơ cấu xã hội
được “chứa đựng” trong hệ thống hoạt động của con người Sự
phân công lao động xã hội, như nguồn gốc sâu xa nhất của các
khác biệt xã hội là chìa khoá để giải thích lịch sử các mối quan hệ
xã hội có m ột ý nghĩa m ang tính nguyên tắc đối với các quá trình
cấu tạo nhóm.
Trong tiến trình phát triển xã hội, khi chuyển từ hình thái
này sang hình thái khác, cơ cấu xã hội ngày càng trở nên đa dạng
hơn, phức tạp hdn. Mức độ phát triển của cơ cấu xã hội chính là ở
độ đa dạng của nó, tức sự đa dạng của các loại hình và dạng hoạt
động, ở mức độ khả năng liên hệ giữa mọi ngưòi của các nhóm và
th iết chế xã hội.
- Theo Sociology (tác g iả Roberson) - M ỹ đ ịn h ngh ĩa:
Cơ cấu x ã hội là m ột mô hình của các m ôi quan hệ giữa
các thàn h ph ần cơ bản trong một hệ thống xã hội. N hững th à n h
phần này tạo n ên bộ khung cho tất cả cá - m ặc
hoá, tôn giáo Các nhóm xã hội khác với các cộng đồng mà cơ sở
của các cộng đồng này bao gồm những dấu h iệu sinh học, địa lý
và nhữĩlg thuộc tính của cá nhấn như chủng tộc, giới, lứa tuổi,
quốc gia
Theo nghĩa hẹp: nhóm xã hội được phân ra trên cơ sở địa
vị xã hội của mọi người, v ị trí và chức năìig của họ trong cơ cấu
kinh tê - xã hội của xã hội, các nhu cầu và định hướng xã hội của
họ.
Có nhiều cách phân loại nhóm: N hóm lớn và nhóm nhỏ;
N hóm chính thức và nhóm không chính thức; N hóm chính và
nhóm phụ.
c) N h ó m x ã h ô i n g ư ờ i v ề h ư u h o a t đ ô n g ta i p h ư ờ n g :
K hững người v ề hưu đang công tác tại cơ sở phường là m ột
bộ phận trong cơ cấu xã hội tổng thể. Họ đã hoàn thành vai trò
xã hội trong hệ thông phân công lao động xã hội dưới dạng hoạt
động n ghề nghiệp, n ay được nghỉ hưu và bước sang m ột dạng
hoạt động mới, trong các tổ chức đoàn thể ở cơ sở phường.
d) Vai trò xã hôi.
19
V ai trò xã hội có nghĩa là m ột tập hợp các chuẩn mực,
hàn h vi, nghĩa vụ và quyền lợi gắn với một vị th ế nh ất định.
Khái niệm vai trò xã hội cũng giống như vai trò trên sân
khấu. Sự khác biệt chính là ở chỗ trong vai trò xã hội cá nhân “tự
đóng v ai m ình”. V ai trò xã hội không có tính cách tưởng tượng
nh ấ t thời, nó được học trong diễn tiến xã hội hoá thực hiện trong
những đoàn thể khác nhau mà con người tham gia vào và nó đã
trở th ành m ột phần của nhân cách xã hội của con người.
Chúng ta đã rõ là những khuôn m ẫu tác phong là những
sự lặp đi lặp lại m ột cách đồng n h ấ t về tác phong xã hội hoặc
công khai, hoặc tiềm ẩn. Bây giờ khi có một sô' những khuôn m ẫu
* Quá trình đánh giá k ết quả của hoạt động là xác định
giá trị của kết qilả của hoạt động so với yêu cầu ban
đầu, so với ý nghĩa cuộc sống và xã hội củá con người.
Đ ánh giá hoạt động nhiều khi không chỉ là đánh giá sản
phẩm cuối cùng của hoạt động mà còn bao hàm cả việc
*
đánh giá toàn bộ hoạt động ấy, đánh giá bản thân h oạt
động.
Các quá trình này có tác động qua lại với nhau trong một
tổng thể thông nhất, hoàn chỉnh và được biểu hiện ra bên ngoài
21
mâ con người dễ nhận thấy như là các giai đoạn mở đầu, giai
đoạn diễn biến và giai đoạn kết thúc của hoạt động.
e) Đông cơ:
Động cơ là cái mà hoạt động luôn luôn hướng tới, đó là
mục đích chung, mục đích cuối cùng của hoạt động. Mục đích
chung này (động cơ) được thể hiện bằng những mục đích cụ thể,
mục đích bộ phận mà từng hành động hướng vào.
g) Nhu cầu:
Tất cả mọi hoạt động của con người đều nhằm thoả mãn
hàng loạt nhu cầu ngày càng cao trong cuộc sống. N hu cầu là sự
biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đốỉ với hoàn cảnh, là
sự đòi hỏi tất yếu mà con ngưòi thấy cần được thoả mãn để tồn
tại và phát triển.
Nhu cầu là cái tất yếu tự nhiên, là thuộc tính tâm lý của
con người* là ổự đòi hỏi tất yếu của con người để nó tồn tại và
phát triển. Nhu cầu nào đôi tượng ấy, nhu cầu nếu được thoả
mãn sẽ gây cho con người xúc cảm dương tính, ngược lại nếu nhu
cầu không được thoả mãn sẽ gây xúc cảm âm tính. Có hai nhóm
nhu cầu chính:
nghiên cứu Xã hội học. Mặt khác, nhũng nghiên cứu này cho
thây tính tích cực chính trị xã hội và vai trò xã hội của những
23
người về hưu thông qua các hoạt động xã hội, các môi liên hệ xã
hội diễn ra trong các hoạt động xã hội cụ thể tại địa bàn phưòng
ở H à N ội, đdn vị trực tiếp và gần dân nhất trong hệ thống hàn h
chính. Từ đó chỉ rõ các nguyên nhân tác động đến hiệu quả xã
hội của các hoạt dộng cụa h.ọ nhằm góp phần đề ra các kiến nghị
và tìm kiếm những giải pháp làm cho hoạt động của nhóm người
này phù hợp với m ục tiêu của cải cách hành chính.
Về ý nghĩa khoa học, có thể nói rằng đây là luận án đầu
tiên mà quần thể nghiên cứu được xác định là những người về
hưu đang hoạt động tại cơ sỏ phưòng. Đ iều đó cũng có ý nghĩa
rằng sự kết thúc hoạt động nghề nghiệp thông qua việc đảm
nhiệm các vai trò xã hội của họ được k ết thúc bằng việc nghỉ hưu,
có th ể được coi là m ột dấu hiệu cho thấy một; đạng hoat động mới,
m ột sự thích ngh i &ã hội mổi đang dần đựỢc hìn h thành trong
quan hệ xã hội cụ th ể thông qua đó vai trò xã hội của họ được
th iết ]ập. V ì vậy, xét trên phương diện Xã hội học những nghiên
cứu này góp phần nhận diện rõ h ỏ n chân dung xã hội của những
người về hưu hiện nay.
24
Chương II
KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u THựC NGHIỆM
1- Cấp phưởng trong tổ chức hành chính ở Hả Nôi.
Trong hệ thống hành chính N hà nước, phường là dơn vị cơ
sở. Sự thành công của các chínli sách N hà nước phụ thuộc vào
việc tổ chức và hoạt động có hiệu quả của hệ thống này, vì chừih
quyền cấp phường, xã, thị trấn là cấp trực tiếp liên hệ với dân.
Sự tác động từ các nhóm xẵ hội đến các tliiết chế xã hội, trong đó
thành, sự h ình thành lối sống này làm cho bộ m ặt của đô thị
khác với các vùng lãnh thổ khác. Nhịp độ tăng trưỏng kinh tê
thúc đẩy hoạt động lao động sản xuất của các bộ phận dân cư trở
n ên tíóh cực hơn. Vì hòạt động lầo động là đặc trưng cơ bản của
lốỉ sông đô thị, chính vì những đặc trưng này đã làm nên sự
phong phú và đa dạng về ngành ngh ề tại môi trưòng đô thị.
Có những phường là nơi tập tttm g dân buôn bán, các cơ sở
kinh tế này thường tụ về trung tâm thành phố. Quy hoạch đô thị
ngày càng được mở rộng dẫn đến tình trạng có phưòng kết cấu
theo làiig xã như những phường thuộc các quận giáp ranh ở quận
Tây Hồ, Thanh Xuân, c ầ u Giấy. D iện mạo các phưòng ỏ H à Nội
rất khác n hau như ng đều hướng tới việc thực hiện có h iệu quả
những vị trí chức năng của chính quyền cơ sở m à N ghị định sô'
94/H Đ BT ngày 26/3/1983 của H ội đồng Bộ trưởng (nay là C hính
phủ) v ề chức n ă n g nhiệm vụ và tổ chức của bộ m áy ch ính quyền
xã, phường đã quy định: Phường là đơn vị hành chính cơ sở ỏ nội