CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ BÁO HÌNH TRONG XU THẾ XÃ HỘI HOÁ SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THU HÀ
CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ BÁO HÌNH
TRONG XU THẾ XÃ HỘI HOÁ SẢN XUẤT
CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ


TRONG XU THẾ XÃ HỘI HOÁ SẢN XUẤT
CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Tuấn Phong
Hà Nội, 2010
MỤC LỤC

20
1.2.2 Quan điểm về đào tạo nhân lực làm báo hình tại các trƣờng
Đại học Việt Nam
23
1.3 Xu thế XHHSXCTTH tại VN và vấn đề đổi mới phƣơng pháp
đào tạo nghiệp vụ báo hình tại các trƣờng Đại học
25
CHƢƠNG 2
KHẢO SÁT CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ BÁO HÌNH
TẠI CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUA VIỆC THỰC HIỆN CÁC
CHƢƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THEO PHƢƠNG THỨC
XHH
2.1 Mục đích và phƣơng pháp tiến hành khảo sát 31
2.2 Khảo sát công tác đào tạo nghiệp vụ báo hình tại các trƣờng
Đại học
2.3 Khảo sát quá trình hợp tác thực hiện chƣơng trình truyền
hình theo phƣơng thức xã hội hóa của các cơ sở đào tạo báo chí.
2.3.1 Đặc điểm của chƣơng trình Thế hệ Tôi – VTV6, Đài THVN
33
44
2.3.2 Năng lực thực hiện chƣơng trình Thế hệ Tôi của các trƣờng

ĐHKHXH&NV
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
ĐHQGHN
Đại học Quốc gia Hà Nội
ĐHQGtpHCM
Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
ĐTH
Đài Truyền hình
HV
Học viện
HVBCTT
Học viện Báo chí Truyên truyền
PTTH
Phát thanh truyền hình
THVN
Truyền hình Việt Nam
TW
Trung ương
SXCTTH
Sản xuất chương trình truyền hình
XHH
Xã hội hóa
XHH SXCTTH
Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình
VN
Việt Nam 1
MỞ ĐẦU

chí truyền thông trên cả nước. Đội ngũ nhân lực làm việc trong lĩnh vực truyền
hình tại Việt Nam lên tới con số hàng ngàn người. Ngành truyền hình luôn là
ngành hấp dẫn đối với người lao động, tuy nhiên để có thể đáp ứng được yêu cầu
thúc đẩy sự phát triển của ngành thì cần thiết phải có hệ thống đào tạo bài bản,
chính quy và hiện đại.
Nâng cao chất lượng đào tạo nghiệp vụ báo hình góp phần hiện thực hóa
mục tiêu “đào tạo gắn với nhu cầu xã hội” của các cơ sở đào tạo nhân lực báo
chí. Cho đến nay, truyền hình Việt Nam đã tiến một bước dài, phát triển với tốc
độ nhanh trong khi công tác đào tạo lại chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của ngành.
Cả nước hiện có 4 trường Đại học có Khoa, Bộ môn đào tạo về Báo chí truyền
thông là hai Khoa Báo chí và Truyền thông thuộc trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Phát thanh – Truyền
hình thuộc Học viện Báo chí và tuyên truyền, Bộ môn Báo chí truyền thông thuộc
trường Đại học Khoa học Huế. Quy mô cũng như năng lực đào tạo về truyền hình
tại 4 cơ sở này lại không đồng đều, hình thức đào tạo cũng không giống nhau.
Ngoài ra còn có các cơ sở đào tạo khác có năng lực đào tạo thấp hơn, ngắn hạn
hơn, thiên về kĩ thuật viên như Cao đẳng Phát thanh – Truyền hình Hà Nam, Cao
Đẳng Truyền hình thuộc Đài Truyền hình Việt Nam. Như vậy, thực chất nước ta
chưa có một trường đào tạo chuyên sâu về Truyền hình bậc đại học.Điều này dẫn
đến một tình trạng là đội ngũ nhân lực làm việc trong ngành vừa thừa lại vừa
thiếu. Một số lượng lớn cử nhân tốt nghiệp ngành báo chí nhưng không thể đáp
ứng yêu cầu không việc trong lĩnh vực truyền hình, thiếu kiến thức chuyên môn
sâu, khả năng hòa nhập môi trường làm việc đầy áp lực, phải chuyển sang lĩnh
vực khác. Trong khi đó, cánh cửa các Đài truyền hình mở rộng tiếp nhận lực
lượng không nhỏ nhân lực từ các ngành học khác như Ngoại ngữ, Ngoại thương,

3
Kinh tế, Luật, Văn hóa… Đội ngũ này chưa được đào tạo qua trường lớp chính
quy về nghiệp vụ báo chí nên các cơ quan truyền hình vẫn phải tiến hành tổ chức
các khóa đào tạo ngắn hạn, để “đào tạo lại” nguồn nhân lực. Chính vì vậy, điều

tạo từ đây, là khả năng đáp ứng yêu cầu công việc đóng góp cho sự phát triển của
xã hội. Cũng như bất kì ngành nghề khác, quá trình đào tạo của các đơn vị đào tạo
nghiệp vụ truyền hình cần đẩy mạnh xu thế đáp ứng nhu cầu xã hội thay vì dừng
lại ở quan điểm cung cấp nhân lực cho ra xã hội bằng những gì mình có. Đổi mới
chương trình, đổi mới phương pháp dạy – học, tăng cường liên kết, hợp tác để đạt
được hiệu quả cao nhất, được xã hội đánh giá cao nhất là mục tiêu của mỗi cơ sở
đào tạo.
Tất cả những yếu tố trên khiến việc đánh giá nhằm nâng cao chất lượng
công tác đào tạo nghiệp vụ báo hình trở thành vấn đề cấp thiết. Đây không phải là
một vấn đề mới nhưng trong bối cảnh toàn cầu hóa hoạt động truyền thông,
Với những lí do trên, chúng tôi thực hiện luận văn với đề tài: “ Công tác
đào tạo nghiệp vụ báo hình trong xu thế xã hội hóa sản xuất chương trình
truyền hình”. Mục tiêu của luận văn không chỉ dừng ở việc hệ thống lại những
quan điểm lý luận về đào tạo đội ngũ nhân lực làm truyền hình trong yêu cầu đào
tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, đặt vấn đề đào tạo trong xu thế xã hội hóa sản xuất
chương trình truyền hình tại Việt Nam mà còn đóng góp những kiến nghị cho hoạt
động thực tiễn.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam, ngành Truyền hình xuất hiện muộn hơn nhiều so với thế giới.
Truyền hình được coi là một vũ khí tích cực trong sự nghiệp đấu tranh xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, trở thành thành tố quan trọng của hoạt động báo chí cách
mạng nói chung. Chính vì vậy, đội ngũ người làm truyền hình Việt Nam cũng

5
chính là đội ngũ những người làm cách mạng, đòi hỏi phải “vừa hồng, vừa
chuyên”. Đào tạo truyền hình được tiến hành tại các trường đại học nhằm mục
tiêu: chính quy hóa, chuyên nghiệp hóa đội ngũ người làm báo hình. Từ đó, vấn
đề nghiên cứu về đào tạo báo hình cũng được đặt ra một cách cụ thể và có hệ
thống.

Có thể hình dung khi phương thức XHH SXCTTH phát triển thì sẽ nảy sinh
ra hai vấn đề: một là lực lượng thực hiện, sản xuất các sản phẩm truyền hình sẽ
phát triển và thứ hai là môi trường sử dụng nguồn nhân lực có chuyên môn báo
hình chất lượng cao ngày càng mở rộng. Cả hai chủ thể nêu trên đều không bó hẹp
trong phạm vi các Đài Truyền hình TW và địa phương. Đó có thể là các cơ quan,
tổ chức ngoài ngành, các công ty quảng cáo – truyền thông, các hãng phim tư
nhân, thậm chí là mỗi công dân đều có thể tham gia hoạt động này. Hai vấn đề này
thực chất quy về “ nguồn nhân lực” và có mối liên hệ trực tiếp với nhiệm vụ đào
tạo, phát triển nguồn nhân lực chính quy cho ngành truyền hình tại các trường Đại
học. Đào tạo làm sao để sinh viên có thể tiếp cận được với thực tiễn công việc của
ngành một cách chủ động trên cơ sở kiến thức và kĩ năng được Nhà trường trang
bị. Họ có thể làm được điều này ngay trong khi còn trong quá trình học hoặc
khoảng thời gian bắt nhịp với thực tế công việc khi ra trường phải được rút ngắn
nhất có thể. Đã tồn tại từ nhiều năm nay một thực tế là sinh viên báo chí ra trường
đa phần đều bỡ ngỡ trước thực tế công việc; phải chịu áp lực cạnh tranh với đội
ngũ nhân lực tốt nghiệp từ các ngành đào tạo khác; tình trạng phải chuyển nghề,
làm trái ngành là rất lớn. Trong bối cảnh hiện nay, sinh viên được đào tạo nghiệp
vụ truyền hình tại các trường ĐH phải khẳng định được mình trong cuộc cạnh
tranh tìm kiếm việc làm và có được vị trí ổn định, xứng đáng để cống hiến cho sự
phát triển của ngành truyền hình nước nhà.

7
Tìm hiểu về các chương trình truyền hình theo phương thức XHH đã một số
luận văn, khóa luận thực hiện trong thời gian gần đây. Luận văn Thạc sỹ Báo chí
học của học viên Vũ Thị Thu Hà - trường ĐH KHXH&NV với đề tài “Xã hội hoá
TH hiện nay - Khảo sát tại Đài PTTH Hà Tây” (Cán bộ hướng dẫn: TS. Nguyễn
Tuấn Phong). Luận văn đã đi sâu phân tích mô hình xã hội hoá TH ở một đài TH
địa phương.
Khóa luận “Xã hội hóa truyền hình qua sản xuất chương trình “Thế hệ
Tôi” ở VTV6 - Đài Truyền hình Việt Nam (Khảo sát từ tháng 8/2007 đến tháng

Ngoài ra, dự án MediaPro do Bộ Ngoại giao Anh tài trợ thông qua Đại sứ quán
Anh tại Việt Nam. Dự án do Hội đồng Anh phối hợp với Học viện Báo chí và
Tuyên truyền, hai khoa Báo chí và Truyền thông của Trường đại học quốc gia Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh và Hội nhà báo Việt Nam thực hiện. MediaPro
cũng sẽ tạo cơ hội phát triển chuyên môn thông qua chia sẻ ý tưởng và kinh
nghiệm giữa các chuyên gia báo chí của Vương quốc Anh với các đồng nghiệp
Việt Nam nhằm nâng cấp và cải thiện các chương trình đào tạo đang được sử
dụng tại ba cơ sở đào tạo báo chí lớn của Việt Nam. Chương trình đào tạo được
nâng cấp sẽ trang bị cho sinh viên báo chí một hành trang tri thức và kỹ năng tác
nghiệp tốt để khởi nghiệp thành công.
Khi lựa chọn đề tài, tìm hiểu các công trình nghiên cứu, tài liệu được công
bố trước đó, chúng tôi đã xác định xây dựng luận văn này trên cơ sở kế thừa một
số kết quả đáng ghi nhận từ các công trình nghiên cứu trước đây. Đặc biệt là các
quan điểm, luận điểm khoa học về đào tạo báo chí, đào tạo nghiệp vụ truyền hình
và lý thuyết về XHHSXCTTH, một số nhận xét về chương trình Thế hệ Tôi –
VTV6 và sự hợp tác của các trường ĐH với Đài THVN thực hiện chương trình
này. Trên cơ sở đó, luận văn đã chọn một hướng đi cụ thể, không trùng lặp, chưa

9
từng có công trình khoa học nào nghiên cứu. Luận văn tập trung khảo sát, phân
tích thực trạng công tác đào tạo nghiệp vụ truyền hình tại một số trường ĐH thông
qua việc tiến hành các chương trình truyền hình theo phương thức XHH.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là khảo sát, phân tích thực trạng công tác
đào tạo nghiệp vụ báo hình tại một số trường ĐH, được thể hiện bằng việc tiến
hành thực hiện một số chương trình truyền hình theo phương thức XHH.
Những mục tiêu cụ thể của luận văn:
- Nhận diện công tác đào tạo nghiệp vụ báo hình tại một số trường ĐH trong sự
phát triển mạnh mẽ của truyền thông đại chúng, của ngành truyền hình VN.
- Khẳng định xu thế XHH SXCT là một xu thế tất yếu của ngành truyền hình VN.

nước về báo chí truyền thông.
Cơ sở lý thuyết của luận văn là hệ thống lý thuyết về truyền thông đại
chúng, về giáo dục học bậc đại học.
Cơ sở thực tiễn của luận văn là việc điều tra, khảo sát chương trình đào tạo
nghiệp vụ báo hình đang được thực hiện tại 4 trường ĐH, các chương trình
truyền hình hợp tác giữa các trường và ĐTH.
Phương pháp nghiên cứu: thu thập và xử lí tài liệu, đối chiếu, so sánh, tổng
hợp. Luận văn tập trung phỏng vấn sâu các đối tượng là chuyên gia gồm: 05 người
(cán bộ các trường Đại học trực tiếp phụ trách đào tạo và hợp tác sản xuất, cán bộ
Đài THVN); đối tượng là sinh viên chuyên ngành Truyền hình, trực tiếp tham gia
và quy trình thực hiện chương trình: 06 người. Bên cạnh đó, Luận văn cũng tiến
hành điều tra bằng bảng hỏi với số lượng 150 phiếu cho sinh viên năm thứ 4 theo
học tại các cơ sở đào tạo báo chí. Điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vần sâu giúp

11
luận văn có được cơ sở để rút ra những đặc điểm về lượng và chất của công tác
đào tạo nghiệp vụ báo hình và quá trình hợp tác với Đài truyền hình Việt Nam.

6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
Ý nghĩa lí luận: tổng hợp và phân tích quan điểm, chủ trương của Đảng và
Nhà nước về đổi mới đào tạo nghiệp vụ báo chí nói chung và truyền hình nói
riêng. Hệ thống lại lý thuyết về XHH SXCTTH.
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn là tài liệu tham khảo cho các trường Đại học
đào tạo báo chí, cho Đài Truyền hình và các công ty truyền thông, các nhà nghiên
cứu về truyền thông, đào tạo nghiệp vụ … về việc tổ chức, xây dựng chương trình
đào tạo nghiệp vụ truyền hình. Đồng thời đóng góp cho việc tổ chức hợp tác, liên
kết giữa các cơ sở đào tạo và các đơn vị, tổ chức sử dụng nguồn nhân lực báo chí
truyền hình trong xu thế đào tạo theo nhu cầu xã hội.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3

tới Xã hội hóa trong giáo dục. “Đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, phương
pháp giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, nâng cao chất
lượng dạy và học” [1,tr3]. Từ Xã hội hóa ở đây được dùng với nghĩa là huy động
nguồn lực của toàn xã hội vào hoạt động của lĩnh vực này. Như vậy, xã hội hóa là
việc đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm thực hiện trong nhiều lĩnh vực. Theo
Từ điển Tiếng Việt, “Xã hội hóa” nghĩa là: “Làm cho trở thành của chung của xã
hội” [17,tr.1140].

13

Nhiều ý kiến hiểu một cách phiến diện về thuật ngư này, cho rằng: xã hội
hóa tạo điều kiện cho quá trình phát triển tư nhân mà không chú trọng đến mục
tiêu và định hướng xã hội, đẩy trách nhiệm vốn của các cơ quan Nhà nước sang
phía tư nhân. Hiện nay còn nhiều ý kiến tranh luận về cụm từ này. Tuy nhiên
trong luận văn này thừa nhận cách hiểu: Xã hội hóa là huy động nguồn lực của cả
xã hội vào một lĩnh vực, một hoạt động mà trước kia chỉ có các cơ quan Nhà nước
quản lí, chịu trách nhiệm. Quan điểm, bản chất và quá trình thực hiện xu thế này
cần phải được định hướng dựa trên lập trường của quan điểm Đảng Cộng sản
Việt Nam,vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.
1.1.2 Xã hội hóa sản xuất các chƣơng trình truyền hình
“Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình” là sự huy động các
nguồn lực xã hội tham gia vào hoạt động sản xuất chương trình truyền hình. Biểu
hiện quan trọng nhất của xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình chính là
quá trình tham gia sản xuất các chương trình truyền hình của các cá nhân, tổ chức
khác ngoài Đài Truyền hình. Theo TS Trần Đăng Tuấn – Nguyên Phó Tổng Giám
đốc thường trực Đài Truyền hình Việt Nam khẳng định tại Liên hoan Truyền hình
toàn quốc lần thứ 25 (Nha Trang – Khánh Hòa): Xã hội hóa sản xuất truyền hình
chính là “Sự tham gia vào quá trình sản xuất chương trình từ bên ngoài ngành
truyền hình… Bản chất của xã hội hóa không phải vì tiền, mà là việc lôi kéo nhiều
đơn vị, tổ chức tham gia vào quá trình sản xuất chương trình, nhằm giảm tải cho

như: Truyền hình Vì an ninh Tổ quốc của Bộ Công An, Truyền hình Quân đội
Nhân dân của Quân đội Nhân dân, Truyền hình Phụ nữ của Hội Phụ nữ Việt Nam,
Truyền hình Thanh niên, Truyền hình Nhân đạo….do đội ngũ cán bộ trong ngành
chịu trách nhiệm nội dung, Đài Truyền hình phụ trách về nghiệp vụ và phát sóng.
Cho đến nay, một số chương tình vẫn tồn tại trên sóng của Đài Truyền hình Việt

15
Nam, một số chương trình đã tách ra phát trên các kênh riêng của các cơ quan chủ
quản. Như vậy, có thể thấy rằng lực lượng xã hội bên ngoài tham gia vào thực
hiện chương trình truyền hình cùng với Đài truyền hình là các cơ quan, tổ chức
Nhà nước. Mục đích của việc hợp tác như vậy thực chất là coi Truyền hình là một
diễn đàn rộng mở để các cơ quan, tổ chức này phát ngôn, dành cho các đối tượng
công chúng nhất định, làm phong phú lượng chương trình của Đài. Về kinh phí
phục vụ sản xuất cũng như cơ chế hoạt động nằm trong sự bao cấp của Nhà nước.
Đồng thời hình thức chương trình không được đổi mới thường xuyên, chất lượng
về nghiệp vụ và nội dung cũng không được đầu tư thỏa đáng để nâng cao. Xóa bỏ
cơ chế bao cấp, một số nghị định như Nghị định 10/2002/NĐ-CP (Nghị định của
Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu) hay Nghị
định 43/2006/NĐ-CP (Nghị định của Chính phủ về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức
bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập) đã giúp Đài
Truyền hình mạnh dạn hơn khi sử dụng các chương trình của các đơn vị, tổ chức
bên ngoài. Nhận định tính đúng đắn của hướng đi này, chủ chương xã hội hóa
truyền hình được Nhà nước ta hoàn toàn khuyến khích. Nhằm đẩy nhanh quá trình
xã hội hóa, Đài Truyền hình đã được giao nhiệm vụ là đơn vị chủ chốt thực hiện
nhiệm vụ này. Tính đến thời điểm này, số lượng cũng như chất lượng của các
chương trình được “xã hội hóa” phát trên các kênh sóng của Đài Truyền hình Việt
Nam ngày càng tăng lên.
Hiện tại ở nước ta có 64 tỉnh thành, tương ứng với 64 đài Phát thanh và
Truyền hình với tổng cộng hơn một trăm kênh truyền hình trong nước (kể cả
truyền hình cáp). Các kênh truyền hình tỉnh trung bình phát sóng 18h/ngày; truyền


17
Hiện tại có khá nhiều các chương trình xã hội hóa đang phát trên các kênh
sóng của Đài Truyền hình Việt Nam, tuy nhiên ở mỗi chương trình có những cách
hợp tác riêng sao cho phù hợp nhất, thuận lợi nhất trong quá trình sản xuất.
 Thứ nhất: Đài Truyền hình mua các chương trình trọn gói. Ở đây có nghĩa
là các đơn vị sẽ sản xuất hoàn chỉnh các chương trình ở tất cả các khâu, Đài truyền
hình sẽ có nhiệm vụ phát sóng các chương trình đó.
 Thứ hai: Các đơn vị bán chương trình cho Đài Truyền hình sẽ tham gia
trong một số các khâu của quá trình sản xuất các chương trình truyền hình.
 Thứ ba: Các đơn vị hợp tác chỉ thực hiện một vài khâu nhỏ để xây dựng
nội dung, hình thức của chương trình. Ví dụ như là tìm người chơi cho các
showgames, hay thiết kế đồ họa, trailer, hoặc hình hiệu, hình cắt, nhạc hiệu, nhạc
cắt…
Đối tƣợng tham gia vào xu thế XHHSXCTTH rất đa dạng và phong
phú, yêu cầu về năng lực sản xuất đƣợc đặt lên hàng đầu.
Các công ty truyền thông, công ty quảng cáo:
Hiện nay có rất nhiều các công ty truyền thông, quảng cáo được thành lập.
Có thể kể tới Công ty Truyền thông An, Công ty tổ chức sự kiện Việt, Công ty
Truyền thông BHD, Hoàng Gia Media, Le Bros Media… Các công ty truyền
thông với sự năng động, trẻ trung đã mang đến những màu sắc mới cho các
chương trình. Họ có khả năng xây dựng, tổ chức một bộ phận sản xuất truyền hình
với các trang thiết bị hiện đại. Bằng chức năng hoạt động đặc thù của mình, các
công ty truyền thông, công ty quảng cáo có thể tham gia rộng rãi, mạnh mẽ vào
các chương trình văn hóa nghệ thuật, giải trí, quảng cáo trên truyền hình. Họ có
thể thiết lập các mối liên kết ngoài cho chương trình một cách nhanh chóng.
Nguồn lực thực hiện chương trình truyền hình vì vậy được tăng cường. Diện mạo
của các chương trình truyền hình mang tính chất nghệ thuật, giải trí, chỉ dẫn được
thay đổi rõ nét.


Việt Nam hiện nay. Trước kia, các trường Đại học, Cao đẳng về báo chí chỉ có
chức năng đào tạo các phóng viên, biên tập viên, quay phim, kỹ thuật viên… cho
Đài Truyền hình Trung ương và địa phương. Tuy nhiên đã có một số chương trình
mạnh dạn hợp tác với các cơ sở đào tạo trực tiếp sản xuất các chương trình, mà
vẫn phải đủ chất lượng, đảm bảo phát sóng. Các chương trình với góc nhìn trẻ
trung của các nhà báo tương lai đã mang đến cho khán giả không ít điều thú vị. Có
thể kể đến “Thời sự học đường” (VTV1) và “Thế hệ Tôi” (VTV6).
Xu thế XHHSXCTTH diễn ra mạnh mẽ trong những năm gần đây đã thu
hút sự quan tâm của những nhà chuyên môn, các nhà nghiên cứu xã hội học. Hội
thảo Liên hoan truyền hình toàn quốc lần thứ 25 (Ngày 05/01/2006 tại Nha
Trang- Khánh Hoà với nội dung chính: Sản xuất chương trình truyền hình sẽ được
xã hội hoá như thế nào?). Sau đó là Hội thảo tại Liên hoan Truyền hình lần thứ 26
(Ngày 11/01/2007 - Hội thảo xã hội hoá truyền hình tại Thành phố Hồ Chí Minh)
Các nghiên cứu về xã hội hóa nói chung đã có một số cuốn sách viết về vấn đề
này. Có thể kể đến “Xã hội hóa hoạt động văn hóa – một số vấn đề lý luận và
thực tiễn” ( Đinh Xuân Dũng, NXB Chính trị quốc gia, 2000), “Xã hội hóa hoạt
động văn hóa” ( Lê Như Hoa, NXB Văn hóa thông tin, 1996), “Vấn đề xã hội hóa
hoạt động điện ảnh” (Luận án tiến sỹ Văn hóa học), “Sự biến đổi chức năng xã
hội hóa của gia đình Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại” (Luận án tiến sỹ
Kinh tế học). Ngoài ra trên báo chí cũng có những loạt bài viết về vấn đề này: “Xã
hội hóa truyền hình – Không phải phân lô bán sóng (http://www.sggp.org.vn),
“Xã hội hóa truyền hình: Chưa được như mong đợi”
(http://www.vietnamnet.vn/tuanvietnam), “Xã hội hóa truyền hình:Cạnh tranh
hay hợp tác?” (http://www.vietbao.vn/vanhoa), “Truyền hình 2008: Làn sóng xã
hội hóa” (http://www.tuoitre.com.vn) Điều này thế hiện sự quan tâm của xã hội
đối với xu thế XHHSXCTTH. Những vấn đề dư luận đặt ra càng là điều kiện thúc

Trích đoạn Một số đề xuất, kiến nghị MỤC TIÊU ĐÀO TẠO Kiến thức ngành (kể cả kiến thức chuyên ngành) 45 Kiến thức bổ trợ Bố trí các học phần có nội dung thuộc một ngành đào tạo thứ hai khác với ngành Báo chí (ví dụ như: Chính trị học, Kinh tế, Quản trị kinh doanh, Quản lý giáo dục ) nhằm Ứng dụng kiến thức vào công việc thực tiễn 3.32 45 9 Kiến thức và kỹ năng về quản lý/tổ chức công việc 3.21
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status