ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA BÁO CHÍ
ĐỖ THỊ BẠCH DƢƠNG
CHƯƠNG TRÌNH TRÒ CHƠI TRUYỀN HÌNH
VỚI KHÁN GIẢ VIỆT NAM
( Khảo sát một số chƣơng trình trò chơi
trên VTV 3 - Đài THVN từ năm 2000 đến nay ) LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Hà Nội 2003
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
MỞ ĐẦU
1. Tính thời sự và cấp thiết của đề tài
1
2. Lý do chọn đề tài
2
1. 3. Tình hình nghiên cứu đề tài
3
2. 4. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
4
3. 5. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu
5
4. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
6
7. Nội dung luận văn
9
NỘI DUNG LUẬN VĂN
Chương I: Những vấn đề cơ bản về quy luật tiếp nhận của
khán giả truyền hình và Trò chơi truyền hình
11
1. Những vấn đề cơ bản về quy luật tiếp nhận của khán
giả truyền hình
40
1.2. Mức độ tiếp nhận của khán giả với một số
chương trình trò chơi truyền hình hiện nay
47
1.3. Một số xu hướng tiếp nhận của khán giả với các
chương trình Trò chơi truyền hình
57
2. Một số nhận xét bước đầu về đặc điểm tiếp nhận của
khán giả với các chương trình trò chơi truyền hình:
79
Nhu cầu tiếp nhận lớn và đa dạng
80
Tính tích cực trong xu hướng tiếp nhận
84
Tính “yêu cầu cao” của khán giả
85
Chương III: Một số kiến nghị và giải pháp để nâng cao chất
lượng và hiệu quả các chương trình trò chơi trên VTV3
88
1. Những vấn đề đặt ra
88
1.1. Một số chương trình trò chơi truyền hình còn
chưa đạt đuợc yêu cầu cao về chất lượng
88
1.2. Chương trình trò chơi truyền hình chưa hướng
đến phục vụ được đầy đủ từng nhóm đối tượng
khán giả
91
1.3. Hình thức các chương trình trò chơi chưa thực
1. Tính thời sự và cấp thiết của đề tài:
Năm 1996 là năm đánh dấu sự ra đời của chương trình Trò chơi trên sóng
truyền hình Việt Nam cùng với sự ra đời của VTV3 (Ban Thể Thao - Giải trí -
Thông tin kinh tế). Kể từ đó đến nay, chưa đầy 10 năm, Chương trình Trò chơi
Truyền hình trên sóng VTV3 đã phát triển vô cùng nhanh chóng cả về số lượng
và chất lượng. Từ một SV 96, khán giả đã biết đến và quen thuộc với rất nhiều
các chương trình Trò chơi khác như Trò chơi liên tỉnh, Bảy sắc Cầu vồng,
Đường lên đỉnh Olympia, Ở nhà chủ nhật, Từ ánh mắt đến trái tim, Vườn Cổ
tích, Những người bạn ngộ nghĩnh, Những đứa trẻ tinh nghịch, Hành trình
Văn hoá, Chiếc nón kỳ diệu…. Từ những chương trình trò chơi ban đầu với đội
ngũ sản xuất còn chập chững, thiết bị và đạo cụ còn đơn sơ, khán giả giờ đây đã
được thưởng thức những chương trình nhiều tính “công nghệ“ hơn và cũng được
sản xuất bởi một đội ngũ đầy tính “tinh nhuệ“.
Trò chơi truyền hình đang phát triển nội dung trên mọi lĩnh vực và cho
mọi lứa tuổi với ngày càng nhiều các đơn vị tham gia sản xuất. Từ việc tiểu ban
“Trò chơi và Gặp gỡ trên truyền hình“ sản xuất chương trình đầu tiên (SV ’96)
đến nay đã có rất nhiều các đơn vị khác tham gia sản xuất chương trình trò chơi
truyền hình: các Tiểu ban khác của VTV3 (Tiểu ban Ca nhạc – Chương trình
Thế kỷ âm nhạc, Trò chơi âm nhạc; Tiểu ban Nghệ thuật Điện ảnh – Chương
trình 24hình/giây), các Ban biên tập khác của Đài truyền hình Việt Nam (VTV2
- Theo dòng lịch sử; Ban Văn nghệ – Làng vui chơi làng ca hát). Các Đài
truyền hình địa phương trên cả nước cũng đang nô nức đi theo phong trào này:
ĐỖ BẠCH DƢƠNG Chƣơng trình Trò chơi Truyền hình với khán
giả Việt Nam 2
Đài Truyền hình Thành phố Hồ chí Minh – Vui để học ; Đài Truyền hình Hà
Nội – Khoẻ và khéo…
ban Trò chơi và Gặp gỡ trên truyền hình của VTV3 và đang phụ trách một
chuyên mục trò chơi, việc nghiên cứu đề tài sẽ giúp tôi có thêm tầm nhìn bao
quát, hiểu biết sâu sắc và định hướng tốt hơn cho công việc của mình. Thông qua
đó, luận văn cũng mong muốn đóng góp một phần vào công tác chuyên môn của
Ban Thể thao – Giải trí – Thông tin kinh tế.
Việc nghiên cứu này cũng là cơ sở để đề tài phát triển ở mức độ nghiên
cứu sâu và rộng hơn trong tương lai.
3. Tình hình nghiên cứu đề tài
Như trên đã đề cập, luận văn này là một nghiên cứu đầu tiên về trò chơi
truyền hình trong sự tiếp nhận của khán giả dưới góc độ xã hội học và tâm lý
học.
Các công trình nghiên cứu trước có liên quan đến trò chơi truyền hình
thường là tìm hiểu về trò chơi truyền hình dưới góc độ lý luận báo chí như:
Nghiên cứu Trò chơi truyền hình với tư cách là một thể loại báo chí; Nghiên
cứu Kịch bản trò chơi Truyền hình. Một số những công trình khác cũng nghiên
cứu về trò chơi truyền hình nhưng lại chọn đề tài dưới góc độ khác như: Nghiên
cứu cách thức tổ chức một chương trình Trò chơi Truyền hình; Nghiên cứu
về việc áp dụng nghệ thuật sân khấu trong dàn dựng một Trò chơi truyền
hình…
Vì chương trình trò chơi truyền hình cũng mới chỉ xuất hiện ở nước ta
trong chưa đầy 10 năm gần đây nên trong nghiên cứu xã hội học truyền thông,
ĐỖ BẠCH DƢƠNG Chƣơng trình Trò chơi Truyền hình với khán
giả Việt Nam 4
hay tâm lý học truyền thông chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt về
trò chơi truyền hình và khán giả của nó. Điều này càng được khẳng định khi ở
nước ta, việc nghiên cứu xã hội học hay tâm lý học riêng trong lĩnh vực truyền
độ xem và họ tìm thấy điều gì cuốn hút ở các chương trình
Giả thuyết thứ hai: Liệu có điều gì khác nhau về sự tiếp nhận trò chơi
truyền hình của các nhóm đối tượng khán giả khác nhau đặc biệt là các nhóm
khán giả mỗi vùng Bắc, Trung, Nam và bước đầu đưa ra các phân tích ở mức
nhận định.
Giả thuyết thứ ba: Tìm hiểu những nét chung nhất, khu biệt và mang xu
hướng quy luật trong sự tiếp nhận chương trình trò chơi truyền hình của khán giả
nước ta
5. Phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu:
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, hạn hẹp về điều kiện, và nội
dung luận văn lại mở rộng đối tượng ở cả ba vùng Bắc, Trung, Nam, chúng tôi
xin được thu hẹp phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu sẽ là một cuộc điều tra mang tính chất thăm dò ý kiến
của cư dân nội thành ở ba thành phố lớn: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và
Thành phố Đà Nẵng. Cuộc điều tra chủ yếu giúp luận văn tìm hiểu trạng thái
của việc tiếp nhận chương trình trò chơi trên truyền hình trên VTV 3 của khán
giả Việt Nam.
Ba thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Đà Nẵng
cũng là ba địa danh có tính điển hình. Đây là ba thành phố ở ba vùng Bắc, Trung,
Nam của đất nước với những đặc điểm về dân cư, xã hội học và tâm lý học có
thể mang tính chất đại diện cho từng vùng địa phương. Ba thành phố lớn cũng là
ĐỖ BẠCH DƢƠNG Chƣơng trình Trò chơi Truyền hình với khán
giả Việt Nam 6
nơi dân cư đông đúc, thành phần đa dạng và cũng là nơi tập trung đông đảo nhất
lượng khán giả truyền hình của cả nước. Hơn nữa, ba địa dành này cũng là nơi
khán giả được tiếp xúc với truyền hình một cách tương đối đồng đều. Đây là
Phương pháp thống kê, xử lý và phân tích số liệu: Sau khi đã thu thập các
mẫu đIều tra, chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS/PC + (Statistical Pakage for
Social Science) – phần mềm xử lý số liệu điều tra xã hội học dành cho máy tính
cá nhân để xử lý số liệu mẫu điều tra. Phần mềm này là phần mềm tiên tiến nhất
hiện nay, nó thích hợp ngay cả cho những cuộc điều tra có dung lượng từ 200
đến vài chục nghìn mẫu điều tra và biết cách xử lý những sơ xuất trong mẫu điều
tra và tự đIều chỉnh để cho kết quả cuối cùng đáng tin cậy nhất.
Các số liệu sau khi được xử lý sẽ được phân tích căn cứ vào mục đích điều
tra, phát hiện ra mối liên hệ giữa các hiện tượng, bản chất và tính quy luật phát
triển của chúng, kiểm định các giả thuyết.
Phương pháp phỏng vấn sâu: Là phương pháp được sử dụng để lý giải
các vấn đề phát hiện được sau khi đã phân tích số liệu của mẫu điều tra. Trong
đề tài này, phương pháp phỏng vấn sâu được áp dụng với: Đại diện của nhóm
mẫu điều tra; Các đồng nghiệp và những người có liên quan đến sản xuất chương
trình trò chơi truyền hình; Các chuyên gia trong lĩnh vực lý luận báo chí, lý luận
xã hội học và tâm lý học truyền thông và truyền hình.
Phương pháp thảo luận nhóm: Để thực hiện đề tài, chúng tôi có tổ chức
một số cuộc thảo luận nhóm giữa những người đang trực tiếp sản xuất chương
trình trò chơi truyền hình để tìm hiểu ý kiến và nhận định của những người làm
truyền hình về mối tương quan giữa các chương trình trò chơi truyền hình và
khán giả.
ĐỖ BẠCH DƢƠNG Chƣơng trình Trò chơi Truyền hình với khán
giả Việt Nam 8
Phương pháp nghiên cứu thông tin thứ cấp: Để có thông tin từ nhiều
nguồn làm cơ sở cho luận văn, chúng tôi cũng tiến hành phân tích nguồn tư liệu
khác: Các thư từ của khán giả gửi tới; Các chương trình trò chơi truyền hình tiêu
biểu đã và đang phát sóng; Các luận văn và công trình nghiên cứu trước đây; Các
Hi vọng luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho kế hoạch xây dựng, quy
hoạch sản xuất và phát triển các chương trình trò chơi truyền hình của VTV3
cũng như của các đơn vị sản xuất chương trình truyền hình khác.
Gần gũi hơn, luận văn sẽ là những gợi ý cho những đồng nghiệp, những
người làm truyền hình trong quá trình trực tiếp tham gia sản xuất chương trình
trò chơi truyền hình.
Luận văn cũng mong là tư liệu tốt cho việc nghiên cứu và giảng dạy về
báo chí nói chung và trò chơi truyền hình nói riêng.
7. Nội dung luận văn: “Chƣơng trình trò chơi truyền hình với khán giả
Việt Nam”
Chƣơng I : Những vấn đề cơ bản về quy luật tiếp nhận của khán giả
truyền hình và trò chơi truyền hình.
Chương một gồm có hai phần. Phần một trình bày về những quy luật tiếp
nhận chung nhất của khán giả xem truyền hình, đặc điểm tiếp nhận của khán giả
và ý nghĩa của việc nghiên cứu khán giả xem truyền hình. Phần hai trình bày lý
thuyết về trò chơi truyền hình bao gồm khái niệm, đặc tính và chức năng báo chí
của trò chơi truyền hình.
Chƣơng II : Bƣớc đầu khảo sát sự tiếp nhận của khán giả với một số
chƣơng trình trò chơi truyền hình trên VTV3.
ĐỖ BẠCH DƢƠNG Chƣơng trình Trò chơi Truyền hình với khán
giả Việt Nam 10
Chương hai trình bày những nghiên cứu bước đầu về thực trạng việc tiếp
nhận của khán giả với các chương trình trò chơi truyền hình trên sóng VTV3
hiện nay thông qua các kết quả điều tra của luận văn. Thực trạng này bao gồm
việc sử dụng thời gian để tiếp nhận, mức độ tiếp nhận, khả năng tiếp nhận và
những sự lựa chọn trong việc tiếp nhận của khán giả. Chương hai cũng đưa ra
Trong một số công trình nghiên cứu xã hội học ở nước ta hiện nay có liên
quan đến các phương tiện thông tin đại chúng, các tác giả đều đề cập và cho rằng
công chúng là “… nhóm người tiếp cận đến PTTTĐC và có sử dụng các sản
phẩm của hoạt động thông tin đạI chúng cho hoạt động của mình“ [37; 23].
Lý luận báo chí vô sản luôn xem xét báo chí trong quan hệ Nhà báo – Tác
phẩm – Công chúng và coi công chúng báo chí là một thành tố quan trọng.
“Công chúng là quần thể dân cư mà cơ quan báo chí hướng vào để tác động
(và trực tiếp hay gián tiếp chịu sự tác động của báo chí) nhắm lôi kéo , thu
phục họ vào phạm vi ảnh hưởng của mình“. [38:12]
Như vậy, công chúng báo chí là một khái niệm rất rộng bao gồm các nhóm
công chúng tiếp cận với các loại hình báo chí khác nhau như báo viết (báo in),
báo hình (truyền hình), báo nói (phát thanh), báo điện tử… Công chúng của mỗi
ĐỖ BẠCH DƢƠNG Chƣơng trình Trò chơi Truyền hình với khán
giả Việt Nam 12
loại hình báo lại được gọi bằng những tên gọi khác nhau như công chúng của
báo in thì được gọi là “độc giả“, công chúng của báo nói được gọi là “thính giả“,
công chúng của báo hình được gọi là “khán giả“….
Riêng với công chúng báo hình – khán giả truyền hình, cuốn “Larusse
Bách khoa thư chuyên đề Con người và những phát minh“ đã định nghĩa:
“Khán giả chỉ toàn bộ những người xem truyền hình có khả năng theo dõi
chương trình (khán giả tiềm tàng) hoặc những người thực sự thu một chương
trình (khán giả thực tế)“ [247;18]
Như vậy, khán giả - hay công chúng xem truyền hình có thể coi như là
lượng công chúng báo chí lớn nhất so với các loạI công chúng báo chí khác nếu
xét theo đặc điểm đặc trưng nhất của truyền hình là truyền đạt thông tin bằng
hình ảnh. Bất kể một cá nhân nào có năng lực thị giác (khán giả tiềm tàng) đều
Dựa vào dấu hiệu thứ hai:
Dựa vào dấu hiệu này có thể phân thành nhóm khán giả chịu ảnh hưởng
trực tiếp và nhóm khán giả chịu ảnh hưởng gián tiếp. Ngoài ra, có thể căn cứ vào
mức độ mở rộng hay thu hẹp phạm vi ảnh hưởng của các loại hình sản phẩm
truyền hình khác nhau để chia thành nhóm khán giả thực tế (nhóm khán giả thực
sự đã tiếp thu chương trình) và nhóm khán giả tiềm năng (nhóm khán giả có khả
năng tiếp thu một chương trình – tất cả những người có năng lực thị giác).
Dựa vào dấu hiệu thứ ba:
Từ tiêu chí mối quan hệ của khán giả với từng sản phẩm hay nhóm sản
phẩm truyền hình cụ thể, có thể phân thành: nhóm khán giả của các chương
trình thể thao, nhóm khán giả của chương trình thời sự, nhóm khán giả của
chương trình trò chơi giải trí… Từ tiêu chí mối quan hệ của khán giả với cơ quan
ĐỖ BẠCH DƢƠNG Chƣơng trình Trò chơi Truyền hình với khán
giả Việt Nam 14
báo chí có thể phân thành nhóm khán giả của Đài truyền hình Việt Nam, nhóm
khán giả của Đài truyền hình Hà Nội, nhóm khán giả của VTV1. VTV2,
VTV3…Trong luận văn này, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là nhóm khán
giả của các chương trình trò chơi giải trí trên VTV3.
1.2. Đặc điểm tiếp nhận của khán giả xem truyền hình
Dựa trên các công trình nghiên cứu về hoạt động tiếp nhận của công
chúng báo chí và của khán giả truyền hình từ trước đến nay, có thể khái quát một
số đặc đIểm trong quy luật tiếp nhận của khán giả truyền hình như sau:
Đặc điểm thứ nhất: Cơ chế của sự tiếp nhận
Theo các công trình nghiên cứu về cơ chế tiếp nhận của công chúng báo
chí và khán giả truyền hình nói riêng, sự tiếp nhận luôn bắt đầu từ sự tiếp nhận
cá nhân với các sự kiện được thông báo, mô tả và phân tích trên báo chí. Các cá
hiệu quả tiếp nhận tức thì và hiệu quả tiếp nhận lâu dài. Việc phân chia các bước
tiếp nhận như trên cũng là khá cụ thể, tuy nhiên xu hướng phân chia này vẫn tập
trung chủ yếu vào sự tiếp nhận của cá nhân. Trong thực tế, vai trò của cá nhân,
nhóm và xã hội hoà quyện vào nhau nên khó phân định được các cấp độ tiếp
nhận của công chúng nếu không lưu tâm đến đặc thù này.
Theo P. Lazarfelt, cơ chế khi tiếp nhận các sản phẩm báo chí gồm hai
bước: bước tiếp nhận cá thể (trực tiếp) và bước tiếp nhận cộng đồng (gián tiếp).
Hai bước tiếp nhận này có mối quan hệ quy định lẫn nhau tạo nên hiệu quả tiếp
nhận đích thực. [42]. Tính cá nhân và sự giao lưu trong quy luật tiếp nhận của
công chúng sẽ tạo nên các kết quả tiếp nhận hết sức đa dạng và nhiều chiều.
Từ những phân tích của những nghiên cứu trên, có thể rút ra một kết luận
có tính khái quát về quá trình tiếp nhận của công chúng báo chí nói chung và
ĐỖ BẠCH DƢƠNG Chƣơng trình Trò chơi Truyền hình với khán
giả Việt Nam 16
khán giả xem truyền hình nói riêng là đây là một quá trình có hai bước cơ bản.
Bước thứ nhất là sự tiếp nhận trực tiếp với sự chi phối từ những đặc điểm của cá
nhân tiếp nhận và bước thứ hai là tiếp nhận gián tiếp với sự phụ thuộc và chi
phối (lây lan, áp đảo) của các đặc điểm nhóm, tập thể trong xã hội.
Đặc đIểm thứ hai: Quá trình tiếp nhận của khán giả truyền hình bị chi
phối bởi rất nhiều yếu tố.
Yếu tố đầu tiên có thể kể đến là yếu tố tâm lý. Các nhóm công chúng với
các đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ tiếp nhận các sản phẩm truyền hình với thái độ
khác nhau. Lấy thí dụ về tâm lý theo nhóm lứa tuổi. Nhóm công chúng cao tuổi
thích xem các vấn đề truyền thống, mối quan hệ gia đình, các vấn đề sức khoẻ,
chữa bệnh với những hình thức thể hiện nhẹ nhàng và tốc độ chậm rãi. Nhóm
công chúng thanh niên ưa thích các chương trình với các đề tài mang tính khám
phá, sáng tạo với sự thể hiện tươi mới, có phần mạnh mẽ, phá cách và tiết tấu
mức độ theo dõi chương trình cũng chăm chú như các đối tượng kia nhưng họ bị
thu hút nhiều hơn bởi diễn biến và kich tính của chương trình hơn là vào kiến
thức. Những kết quả điều tra xã hội học các chương trình truyền hình cũng
thường cho thấy rõ khuynh hướng nghề nghiệp ảnh hưởng rất rõ đến lượng
người xem của các chương trình truyền hình.
Những yếu tố tâm lý, trình độ văn hoá là những yếu tố chủ quan ảnh
hưởng đến quá trình tiếp nhận của khán giả và công chúng. Ngoài ra còn có các
yếu tố khách quan mà trong đó các nhà nghiên cứu đặc biệt nhấn mạnh đến yếu
tố lây lân tâm được hiểu như là một quy luật, một hiệu ứng lan truyền thông tin
và tâm lý từ một nhóm nhỏ ra một diện xã hội rộng lớn, đôi khi là từ một cá nhân
nào đó do ảnh hưởng của uy tín cá nhân này.
Đặc điểm thứ ba: Thái độ tích cực trong xu hướng tiếp nhận
ĐỖ BẠCH DƢƠNG Chƣơng trình Trò chơi Truyền hình với khán
giả Việt Nam 18
Các nhà nghiên cứu, đặc biệt là các nhà nghiên cứu tâm lý cho rằng công
chúng báo chí có thái độ tích cực khi tiếp nhận các sản phẩm báo chí. Điều này
được thể hiện ở hai thái độ tiếp nhận tích cực của công chúng.
Mỗi con người đều có kiểu phản xạ “cái gì thế“. Khi có một tác nhân kích
thích mạnh, từ bên ngoài tác động vào sẽ làm nảy sinh phản xạ bị hấp dẫn. Phản
xạ này có tính vô thức nhưng đối với các phương tiện thông tin đại chúng, đặc
biệt là với báo in và truyền hình nó đặc biệt có ý nghĩa trong việc tạo ấn tượng,
gây hấp dẫn người đọc, người xem. Tuy nhiên, điều này cũng có tính hai mặt,
một hình ảnh hay một khẩu hiệu chẳng hạn, khi nó được lặp đi lặp lại có thể gây
ấn tượng tốt cho người xem nhưng cũng có thể gây ấn tượng ngược lại mà
nguyên nhân của nó rất khó tìm ra. Bởi vậy, trước khi quyết định đưa chúng ra
công chúng, người ta cần phải suy nghĩ và cân nhắc rất kỹ.
Thái độ tiếp nhận thứ hai xảy ra khi công chúng tiếp xúc với những vấn đề
gì.
Quá trình so sánh những hình ảnh thu được bằng mắt với những hình ảnh
mẫu lưu trữ tại não rất quan trọng để xem khả năng nhận biết nhanh hay chậm,
có theo kịp dòng hình ảnh đang được chiếu trên truyền hình hay không của công
chúng. Bởi vậy, có những hình ảnh được nhận biết rất dễ dàng nhưng cũng có
những hình ảnh lại được tiếp nhận rất khó khăn.
Xuất phát từ nguyên lý của việc nhận biết các hình ảnh được chiếu trên
tivi, các nhà tâm lý học cho rằng, muốn đưa hình ảnh đến công chúng để họ có
thể tiếp nhận dễ dàng thì cần có hai điều kiện: một là phải làm cho công chúng
có càng nhiều hình mẫu về các vấn đề đang trình bày càng tốt. Hai là, các hình
ảnh được đưa ra bao lâu với tốc độ như thế nào, sự nhắc lại ra sao phải căn cứ
ĐỖ BẠCH DƢƠNG Chƣơng trình Trò chơi Truyền hình với khán
giả Việt Nam 20
vào khả năng phân tích và nhận biết của mắt, trên cơ sở đã xác định được công
chúng đã có hình mẫu gì để tiếp cận. Ngoài ra, khả năng tiếp nhận với cường độ
và tốc độ trong một phạm vi cho phép buộc những người làm truyền hình phải
tính toán được một cảnh quay sẽ được dùng trong bao nhiêu lâu để công chúng
nhận biết được đầy đủ mà không bị cảm giác châm chạp, nhàm chán khi xem,
hoặc cảm thấy chóng mặt hay không hiểu gì cả vì sự thay đổi quá nhanh của các
hình ảnh động.
Bằng các thuộc tính của tri giác, người ta cũng chứng minh được rằng,
một lời giải thích hoặc một sự gợi ý có thể làm cho quá trình tri giác có ý nghĩa
một cách nhanh chóng. Bởi vậy, lời bình trong truyền hình đôi khi có giá trị rất
lớn khi góp phần tạo ra ý nghĩa của hình ảnh đặc biệt là đối với những hình ảnh
mang ý nghĩa nhiều tầng bậc và mang tính biểu tượng cao.
Có thể thấy, dưới góc độ của xã hội học và tâm lý học nói trên, quy luạt
tiếp nhận của công chúng có sự biểu hiện hết sức phong phú cả về thái độ, tình