luận văn vấn đề tiếp biến văn hóa trong các trò chơi truyền hình khảo sát một số chương trình trò chơi truyền hình trên vtv3 - Pdf 11


LUẬN VĂN:

Vấn đề tiếp biến văn hóa trong các trò chơi
truyền hình (Khảo sát một số chương trình trò
chơi truyền hình trên VTV3)
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Có thể nói, trong những thập niên cuối của thế kỷ XX, người ta càng nhận ra vai
trò, vị trí đặc biệt quan trọng của văn hóa đối với tiến trình phát triển xã hội. Liên hiệp
quốc đã kêu gọi toàn thế giới lấy thập niên 1987-1997 làm thập niên phát triển văn hóa.
Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi chưa giành được chính quyền, năm 1943 đã phác
thảo Đề cương văn hóa Việt Nam; và ngày nay luôn khẳng định văn hóa là “nền tảng tinh
thần của xã hội, văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, văn hóa là nội
sinh, ” - tức là sinh ra trong mỗi cộng đồng, trong mỗi con người xã hội. Văn hóa là hiện
tượng xã hội đặc biệt. Nó tồn lại và phát triển trong quá trình giao lưu và truyền tải-từ

trẻ.
Xuất phát từ hiệu quả kinh tế và ý nghĩa xã hội của trò chơi trên truyền hình, trong
những năm gần đây hàng loạt chương trình trò chơi mới ra đời góp phần làm phong phú
thêm thể loại của chương trình truyền hình. Có những trò chơi ra đời bởi sự sáng tạo của
Đài Truyền hình Việt Nam, có những chương trình trò chơi ra đời kết hợp sự sáng tạo và
kế thừa của mô hình trò chơi truyền hình thế giới và có những trò chơi được mua bản
quyền nước ngoài. Sự ra đời của những trò chơi này dần dần tạo thói quen giải trí trên truyền
hình và đã được công chúng xem truyền hình đón nhận nồng nhiệt.
Theo điều tra của TNS media Việt Nam năm 2006 trong 10 chương trình giải trí
có lượng người xem cao nhất thì có tới 8/9 trò chơi truyền hình có bản quyền từ nước
ngoài. Như vậy trò chơi truyền hình có bản quyền từ nước ngoài đang chiếm ưu thế,
trong khi đó trò chơi truyền hình có bản quyền trong nước chỉ chiếm 10%.
Tuy nhiên trò chơi có bản quyền từ nước ngoài khi triển khai sản xuất tại Việt
Nam đều gặp những khó khăn vì sự khác biệt về văn hóa xem của công chúng nơi bán
bản quyền và nơi tiêu thụ. Vấn đề đặt ra là chúng ta sẽ giải quyết những khó khăn trở
ngại đó như thế nào để có thể đạt hiệu quả cao nhất-xét trên phương diện văn hóa? Trong
quá trình biến đổi các chương trình trò chơi truyền hình để phù hợp với văn hóa Việt
Nam liệu đã thực sự đáp ứng được nhu cầu của công chúng xem truyền hình hay chưa?
Việc biến đổi đã tác động như thế nào đến công chúng truyền hình? Đó là vấn đề vừa cơ

bản vừa cấp thiết không chỉ cho hôm nay, mà còn cho những năm sau, khi đất nước ta hội
nhập ngày càng sâu với thế giới.
Với suy nghĩ đó tác giả mạnh dạn đề xuất nghiên cứu đề tài: "Vấn đề tiếp biến
văn hóa trong các trò chơi truyền hình".
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Không chỉ tại Việt Nam mà trên khắp thế giới, công chúng của báo chí nói chung
và truyền hình nói riêng cũng được quan tâm nghiên cứu từ những góc độ khác nhau. Đã
có khá nhiều công trình nghiên cứu về công chúng trong nhiều năm qua, đặc biệt là công
chúng của Đài truyền hình Việt Nam, vì đây là Đài truyền hình quốc gia, phủ sóng trên
toàn quốc. Tuy nhiên, sự nghiên cứu về công chúng thì không bao giờ lạc hậu, bởi nhu

Để đạt được mục đích trên đây, luận văn chú trọng thực hiện các nhiệm vụ nghiên
cứu sau đây.
- Luận văn sẽ hệ thống hóa các khái niệm văn hóa và tiếp biến văn hóa và những
khái niệm liên quan.
- Tìm hiểu vấn đề tiếp nhận và biến đổi văn hóa trong tiến trình của lịch sử từ đó
làm tiền đề cho nghiên cứu quá trình tiếp nhận và biến đổi văn hóa thông qua các trò
chơi trên truyền hình.
- Khảo sát, phân tích thực trạng tiếp nhận và biến đổi văn hóa một số trò chơi
trên truyền hình của VTV3.
- Tìm hiểu thực trạng tiếp cận của khán giả truyền hình đối với các trò chơi truyền
hình.
- Đưa ra một số giải pháp và khuyến nghị đối với những người làm truyền hình
Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả tác động của trò chơi trên truyền hình.
4. Đối tượng khách thể, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Quá trình tiếp nhận và biến đổi văn hóa qua các chương trình
trò chơi truyền hình.
* Khách thể nghiên cứu: Chương trình Trò chơi trên truyền hình của VTV3.
* Phạm vi không gian: Một số chương trình trò chơi trên VTV3
* Phạm vi thời gian nghiên cứu: Từ năm 1996 đến nay.

5. Giả thuyết nghiên cứu
- Thứ nhất, các chương trình trò chơi trên truyền hình đang ngày càng thích ứng và
đáp ứng tốt nhu cầu giải trí của công chúng truyền hình (CCTH). Tuy nhiên, ‘hiệu ứng trò
chơi” như “giấy dán tường” liệu có đang làm cho các chương trình này gây ra hiệu ứng
nhàm chán và hạn chế lẫn nhau hay không ?
- Thứ hai, phần lớn các chương trình trò chơi truyền hình (CTTCTH) được mua
bản quyền từ nước ngoài-nơi có nền văn hóa khác biệt với nước ta. Vậy, quá trình
khai thác, chuyển từ bản quyền nước ngoài thành kịch bản của VTV, kết cấu khung
chương trình, nội dung và cách thức triển khai các chương trình trò chơi còn nhiều lệ
thuộc vào bản quyền, cần có những cải tiến mạnh mẽ để đáp ứng yêu cầu nhu cầu và

biến văn hóa giai đoạn đầu đối với những người làm CTTCTH.
- Làm rõ những ảnh hưởng tích cực và ảnh hưởng tiêu cực của quá trình tiếp biến
văn hóa đối với công chúng truyền hình Việt Nam, từ đó có những điều chỉnh thích hợp
trong quá trình tiếp biến văn hóa.
Từ những ý nghĩa khoa học trên, luận văn sẽ có những ý nghĩa thực tiễn sau:
- Luận văn sẽ góp phần đề xuất giải pháp cho Đài truyền hình Việt Nam (VTV)
nói chung và Ban Thể thao giải trí và Thông tin kinh tế (VTV3) nói riêng xem xét, điều
chỉnh xu hướng phát triển hiện tại và tương lai của trò chơi truyền hình cho phù hợp với
văn hóa tiếp nhận và thị hiếu của công chúng truyền hình.
- Góp phần làm sáng tỏ và ngăn chặn những yếu tố ngoại lai có ảnh hưởng không
tốt đến công chúng truyền hình ngay từ khâu sản xuất chương trình, từ đó giúp Đài
truyền hình Việt Nam sản xuất những chương trình hấp dẫn hơn, thiết thực hơn và tạo
được hiệu ứng xã hội và hiệu quả tác động tốt hơn trên bình diện đang bàn tới.
- Công trình này được hoàn thành, sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích và lý thú cho các
cơ sở đào tạo báo chí nói chung và cho các Đài phát thanh-truyền hình địa phương trong
cả nước, cũng như những ai quan tâm đến quá trình tiếp biến văn hóa hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm 3 chương, 7 tiết.

Chương 1
TIẾP BIẾN VĂN HOÁ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN

1.1. HỆ THỐNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.1.1. Văn hoá
Khái niệm "văn hóa" từ lâu đã được giới nghiên cứu quan tâm xác định nội hàm từ
nhiều phương diện khác nhau. Xét một cách tổng quát, văn hóa thể hiện bản chất năng
lực của con người trong mối quan hệ với thiên nhiên, với xã hội và với chính bản thân

hóa của Đảng ta nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc, để văn hóa thực sự trở thành là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội
trong thời đại ngày nay.
Như vậy, điểm thống nhất trong những quan niệm trên là đều xem lao động sáng
tạo là cội nguồn của văn hóa. Và, chính văn hóa đã đem lại cho con người khả năng suy
xét về bản thân, làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt mang tính nhân bản
sâu sắc, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có lý trí và tình cảm trong khát
vọng vươn tới chân - thiện - mỹ. Và cũng chính nhờ văn hóa mà con người thể hiện được
phẩm chất, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án "chưa hoàn thành", đặt ra
để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những "ý nghĩa mới mẻ và
sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân mình".
Trong đó, Hồ Chí Minh đã khái quát đến đỉnh cao trong quan niệm của mình về
văn hóa-không chỉ là các giá trị vất chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, mà cả
nhưng phương thức tiêu dùng chúng.
Dưới góc độ tiếp cận xem lao động sáng tạo là cội nguồn, khởi điểm của văn hóa
hướng về các giá trị nhân bản nhằm hoàn thiện con người,
nhà nghiên cứu Hoàng Vinh đã có quan niệm xác đáng rằng: Văn hóa là toàn bộ sáng tạo
của con người, tích lũy lại trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội, được đúc kết thành
hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và hệ ứng xử văn

hóa của cộng đồng người. Hệ giá trị xã hội là một thành tố cốt lõi làm nên bản sắc riêng
của một cộng đồng xã hội, nó có khả năng chi phối đời sống tâm lý và một họat động của
những con người sống trong cộng đồng xã hội ấy.
Như thế, văn hóa chính là cốt lõi sáng tạo của trí tuệ và tâm hồn của mỗi dân tộc,
là tính năng động đầy sáng tạo được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nó thâu tóm,
xác định bản thể và sự tiến triển của một dân tộc đã được xác định. Văn hóa của mỗi một
dân tộc đều có một bản sắc riêng, bản sắc văn hóa là căn cước của mỗi dân tộc giữa cộng
đồng quốc tế, cái "căn cước" được xác nhận bởi cách suy nghĩ, cách cảm nhận của mỗi dân
tộc, bởi sự tiến triển của tâm hồn mỗi dân tộc trước thiên nhiên, trước nhân loại và cuối

Bắc Trung Bộ, văn hóa Bàu Trám – Sa Huỳnh ở Trung và Nam Trung Bộ, văn hoá Óc Eo
ở Nam Bộ. Mỗi nền văn hoá đề có những bản sắc riêng và có những thời điềm cực thịnh
của nó (văn hóa Sa Huỳnh của vua Chăm - thế kỉ 6.7.8 , văn hoá Óc Eo của vua Chân
Lạp đồng thời). Nói đến văn hoá Việt mà chỉ nói đến văn hoá Đại Việt của tộc người
Kinh là thiếu sót - dẫu thế, cũng không thể phủ nhận sự thắng thế và bao trùm của văn
hoá người Kinh lên trên sự đi xuống và có phần lụn bại của văn hoá người Chăm và
Chân Lạp. Ở đây chúng ta tập trung nói về dòng văn hoá còn đang chảy mạnh ở nước
ta, ấy là văn hoá người Kinh – hay người Việt.
Có một nhận xét chung là bản sắc văn hóa Việt Nam, được tạo ra ở vùng lúa nước
sông Hồng cách đây 3.000 năm, được tôi luyện và khẳng định trong 2.000 năm chống và
đối thoại với văn hóa Trung Quốc, đã đủ tầm cỡ để tiếp biến văn hóa thành công với
phương Tây. Ta tiếp biến văn hóa (trong đó có đối thoại) qua 4 giai đoạn, mỗi giai đoạn
đồng thời là một giai đoạn Tây phương hóa, có nghĩa là hiện đại hóa.
Tiếp biến văn hóa thời kỳ thứ nhất với phương Tây (thế kỷ XVII - 1885). Vào thế
kỷ XVI, các Giáo sĩ phương Tây đến Việt Nam, cùng các nhà buôn . Từ năm 1615, các
Giáo sĩ dòng Tên bắt đầu thiết lập những cộng đồng giáo dân rồi đặt hai trung tâm ở Hội
An và Thăng Long. Cũng còn nhiều dòng khác, như dòng Đa Minh (Dominicain), dòng
thánh Francos (Franciscain) và người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý, Pháp Năm 1658,
Giáo hoàng cho phép lập Hội truyền giáo nước ngoài ở Paris cho các giáo sĩ đại diện

Roma hoạt động ở Trung Quốc và Đông Dương Cho đến năm 1788, đất nước ta bị chia
cắt.
Ở Đàng trong (Hội An) , thương nhân Bồ Đào Nha giúp chúa Nguyễn mở lò đúc
súng ở Huế. ở Đàng ngoài, hãng buôn Hà Lan ở Phố Hiến giúp chúa Trịnh tàu và súng
đạn. Mới đầu, các chúa Trịnh và Nguyễn đều để cho truyền đạo Thiên Chúa. Nhưng vài
chục năm sau, đạo bị cấm, tùy thời kỳ cấm ngặt hay lỏng. Vào cuối thế kỷ XVIII, Giáo sĩ
Pháp Pigneau de Behaine giúp chúa Nguyễn Ánh nên Gia Long lên ngôi cho truyền đạo.
Mấy vua sau lại cấm đạo và đàn áp giáo dân, giết linh mục. Đồng thời buôn bán và
phương Tây bị ngùng trệ, khiến đế quốc Pháp lấy cớ tấn công Việt Nam từ 1858 và
chiếm hoàn toàn đất nước vào năm 1885.

Bazoka, Tạ Quang Bửu (đã học ở Pháp) là Thứ trưởng Quốc phòng, sau là Bộ trưởng Đại
học. Các nhà khoa học như Thạc sĩ toán học (ở Pháp) Hoàng Xuân Hãn đã đặt ra danh từ
khoa học tiếng Việt, do đó có thể dạy Đại học bằng tiếng Việt, không cần qua tiếng Pháp.
Chữ Quốc ngữ của các Giáo sĩ phương Tây tạo ra đã phổ biến thời Pháp thuộc
trong đó sống chính trị, văn hóa, nhưng đến năm 1945, 90% dân vẫn mù chữ. Cách mạng
đã tích cực vận động xóa nạn mù chữ.
Các Bác sĩ thời Pháp như Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng , Đặng Văn Ngữ mở
trường Y và đào tạo các Y, Bác sĩ cho mặt trận và hậu phương. Đa số văn nghệ sĩ thời
trước đều phục vụ kháng chiến. Một số nhà nghiên cứu đã có tên tuổi trong thời Pháp
thuộc (như Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Trần Văn Giáp ) đã đặt nền móng cho khoa
học xã hội (Sử, Dân tộc học, Kháo cổ học, Ngôn ngữ học ). Các họa sĩ do Trường Cao
đẳng Mỹ thuật Đông Dương đào tạo cũng mở trường đào tạo các lớp sau. Nghệ thuật và
văn học thời chiến (đến 1975) không còn lãng mạn như trước 1945 mà phục vụ cuộc
chiến tranh yêu nước, thích hợp với chủ nghĩa hiện thực XHCN.
Sau khi Pháp thua ở Điện Biên Phủ (1954), các cường quốc dàn xếp cắt đôi Việt
Nam để phục vụ chiến tranh lạnh. Miền Nam chịu ảnh hưởng văn hóa Tây Âu - Mỹ, còn
miền Bắc chịu ảnh hưởng văn hóa XHCN Đông Âu - Trung Quốc.

Tiếp biến văn hóa thời kỳ thứ tư với phương Tây (từ đổi mới - 1986) Hiện đại hóa
(Tây phương hóa) lần thứ nhất (thế kỷ XVII - 1885) với các Giáo sĩ và nhà buôn hạn chế
ở một số địa phương và không sâu sắc. Với hiện đại hóa lần thứ hai (Pháp thuộc), văn
hóa phương Tây chỉ tác dụng cơ bản đến xã hội thị dân một số tỉnh lớn.
Hơn 90% ở nông thôn trong toàn quốc, tư duy và phong tục tập quán vẫn in đậm
dấu truyền thống nặng ảnh hưởng Khổng học, phong kiến. Chỉ với hiện đại hóa lần thứ
ba (1945 - 1986), xã hội mới thực sự có những biến đổi cơ bản do cách mạng và chiến
tranh, ảnh hưởng thế giới đa dạng và sâu sắc. Có những cố gắng cộng nghiệp hóa và đô
thị hóa có hệ thống. Những cố gắng này ít kết quả do chiến tranh kéo dài và tư duy chưa
thoáng. Sau chiến tranh (1975) mãi đến Đổi mới (1986), hiện đại hóa lần thứ IV mới có
điều kiện sâu rộng, kể cả đối thoại với văn hóa phương Tây.
Thời kỳ đổi mới ở ta được đánh dấu bởi toàn cầu hóa, khu vực hóa (gia nhập

Bước 1: Phản ứng chống đối, đề kháng.
Bước 2: Cộng sinh, thử nghiệm
Bước 3: Hội nhập, tương tác.”
Qua quá trình nghiên cứu và sưu tầm tác giả luận văn nhận thấy có rất nhiều khái
niệm về Tiếp biến văn hóa:
1. Khái niệm giao lưu và tiếp biến văn hóa được dịch từ những thuật ngữ như
cultural contacts, cultural exchanges , để chỉ một quy luật trong sự vận động và phát
triển văn hóa của các dân tộc. Đó là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người (cộng
đồng, dân tộc) có văn hóa khác nhau giao lưu tiếp xúc với nhau tạo nên sự biến đổi về
văn hóa của một hoặc cả hai nhóm. Giao lưu văn hóa tạo nên sự dung hợp, tổng hợp và
tích hợp văn hóa ở các cộng đồng. Ở đó có sự kết hợp giữa các yếu tố "nội sinh" với yếu
tố "ngoại sinh" tạo nên sự phát triển văn hóa phong phú, đa dạng và tiến bộ hơn. Giao lưu
và tiếp biến văn hóa là sự tiếp nhận văn hóa nước ngoài bởi dân tộc chủ thể. Quá trình
này luôn đặt mỗi dân tộc phải xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố "nội sinh" và
"ngoại sinh". Trong lĩnh vực văn hóa chỉ có khái niệm "giao lưu và tiếp biến văn hóa" chứ

không có khái niệm "hội nhập văn hóa". Thuật ngữ hội nhập chỉ sử dụng cho các lĩnh vực
ngoài văn hóa, chẳng hạn như kinh tế
Từ “tiếp biến” là một từ đắt, gộp nghĩa của tiếp nhận và biến đổi, được hiểu thật
thoáng là tiếp nhận và việt hoá.
2. Theo nghĩa chặt, tiếp biến văn hóa là hành động qua đó một nhóm xã hội cố tìm
cách áp đặt nền văn hóa của mình lên một nhóm khác vốn yếu hơn mình về chính trị,
kinh tế và xã hội.Tiếp biến văn hóa là một hệ quả trực tiếp xuất phát từ chính tính năng
động và khuynh hướng mở rộng ra của mọi nền văn hóa. Nói chung, sự tiếp biến văn hóa
thường được ghi nhận khi một nền văn hóa ở thế thượng phong
3. Có thể định nghĩa tiếp biến văn hóa là sự tiếp xúc giữa các cộng đồng văn hóa
khác nhau và kết quả là những thay đổi về văn hóa trong mỗi nhóm. Thí dụ: hai nhóm
văn hóa A và B tiếp xúc với nhau: tiếp xúc văn hóa có thể đem lại kết quả tích cực hoặc
tiêu cực. Nếu văn hóa A và B đều vững mạnh, thì có đối thoại ngang bằng, tiếp biến văn
hóa tạo ra những giá trị mới A’, B’ cho cả hai. Nhưng nếu A mạnh hơn hẳn B thì không

chuyên mục khác nhau. Phát thanh và truyền hình hạn chế về thời gian nên buộc phải
tách kênh. Điều này thể hiện tính chuyên nghiệp hoá của báo chí. Tách kênh chương trình
sẽ giúp người xem có nhiều sự lựa họn khác nhau tùy theo nhu cầu riêng. Trong đó
VTV1 là kênh tổng hợp gồm các chương trình chính trị - xã hội và văn hoá giáo dục. Nó
được gọi là kênh thông tin chính luận. Kênh VTV2 là kênh khoa học giáo dục với nhiệm
vụ chính là dạy học và phổ biến kiến thức. Kênh VTV3 là kênh Thể thao, giải trí và
thông tin kinh tế. VTV4 là kênh đối ngoại phục vụ yêu cầu thông tin cho các đối tượng
người nước ngoài và kiều bào Việt Nam. VTV5 là kênh truyền hình tiếng dân tộc. VTV6
là dành cho đối tượng Thanh thiếu niên…
Việc tách kênh VTV3 xuất phát từ mong muốn của đông đảo khán giả xem truyền
hình. Nhu cầu thông tin văn hoá giải trí của công chúng phát triển ngày càng mạnh mẽ.
Trong khi đó truyền hình với ưu thế về hình ảnh âm thanh màu sắc có một vị trí quan
trọng trong đời sống văn hoá tinh thần nhưng mặt nào đó vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu
của đông đảo người dân. Việc tách kênh này sẽ giúp cho khán giả có thể xem được nhiều

hơn các chương trình văn hoá và giải trí, đáp ứng được nhu cầu thông tin và giải trí của
họ.
Trải qua những khó khăn ban đầu về khung chương trình, cơ sở sản xuất, nguồn
nhân lực, VTV3 ngày càng phát triển là lớn mạnh về mọi mặt. Kể từ khi thành lập năm
1996 đến nay đã được hơn 10 năm. VTV3 là kênh truyền hình thu hút được số lượng
quảng cáo nhiều nhất của Đài Truyền hình Việt Nam. Theo điều tra của TNS media Việt
Nam tháng 12 năm 2006, VTV3 chiếm 44,9% thị phần khán giả trên thị trường Hà Nội,
27% trên thị trường Đà Nẵng, 8,1% trên thị trường Cần Thơ và 5% trên thị trường Thành
phố Hồ Chí Minh. Điều này thể hiện sự lớn mạnh và tính hấp dẫn của VTV3 với khán giả
xem truyền hình. Đồng thời cũng thể hiện nhu cầu hưởng thụ giải trí ngày càng cao trong
công chúng truyền hình.
1.1.4. Khái niệm trò chơi truyền hình
Trò chơi truyền hình là một thể loại truyền hình còn rất mới mẻ. Ở Việt Nam chưa
có một cuốn sách hay một công trình nghiên cứu công phu về thể loại này, do vậy cũng
chưa có một định nghĩa được coi là chuẩn mực nhất về trò chơi truyền hình. Tuy vậy,

BTV Lê Hường- Trưởng nhóm chương trình Hành khách cuối cùng cho rằng:
Ở góc độ nghề nghiệp, điều đầu tiên nhận thấy trò chơi truyền hình là sản
phẩm của tập thể. Ê-kíp của một game show là tập thể những cá nhân chuyên
trách công việc của mình và làm việc nhóm cùng nhau nhằm cho ra sản phẩm
truyền hình tốt nhất. Vì vậy, ngoài kĩ năng hoạt động độc lập luôn là điều cần
thiết với tất cả những người làm truyền hình, trò chơi truyền hình rất đề cao kĩ
năng làm việc nhóm. Bên cạnh sự độc lập trong mảng công việc mình phụ trách,
kíp sản xuất trò chơi TH còn có sự kết nối đặc biệt với nhau để hỗ trợ, giúp đỡ
nhau trong quá trình sản xuất. Số lượng các thành viên trong kíp sản xuất phụ
thuộc vào tính chất, mức độ, quy mô của từng trò chơi TH. Từ khâu kịch bản, tổ
chức sản xuất, ghi hình, biên tập chương trình…đều cần sự liên kết mật thiết giữa
các thành viên trong nhóm. Có thể nói việc nâng cao ý thức, kĩ năng làm việc

nhóm là điều rất quan trọng để hình thành một kíp sản xuất trò chơi TH hình năng
động làm nên những chương trình chất lượng cao [35].
1.1.4.2. Các chương trình trò chơi nhìn từ góc độ văn hoá
Thạc sĩ Đặng Diễm Quỳnh- Phó trưởng Ban Truyền hình Thanh Thiếu niên:
Đây là một sân chơi tập thể với đủ mọi thành phần khán giả, vì thế cũng
là nơi bộc lộ mọi thang bậc về văn hóa của người chơi và người xem. Trò chơi
hỏi đáp (quiz game) thường được coi là có hàm chứa nhiều kiến thức hơn,
khâu biên tập nội dungcâu hỏi và đáp án phức tạp hơn , đòi hỏi người chơi
chuẩn bị tối đa về vốn văn hóa xã hội. Tuy nhiên, những trò chơi vận động,
hay trò chơi âm nhạc lấy ca hát làm nội dung chính cũng sẽ đưa lại một bức
tranh về tính năng động, thông minh, khéo léo, trình độ cảm thụ nghệ thuật và
tài năng của người chơi, đó cũng là một điểm hội tụ của văn hóa- một thứ văn
hóa đã được thẩm thấu qua hành vi và phong cách, không thuần túy ở phông
nền kiến thức [46].
Thạc sĩ Bùi Thu Thủy – Phó trưởng Ban TTGT&TTKT cho biết:
Trong khi Việt Nam mở cửa với thế giới, việc tiếp nhận để sản xuất game
show là điều dễ hiểu. Về mặt văn hóa, đây là một việc tốt. Nó giúp người xem

những trò chơi rất thuần tuý Việt Nam [7].
Theo "Từ điển Bách khoa về trò chơi truyền hình" thì có 4 loại trò chơi truyền
hình.
1. Quiz show (Hỏi đáp nhanh) - trong đó thi khả năng của người chơi trả lời những
câu hỏi khác nhau.
2. Panel show (Đố vui): người chơi cố gắng đoán biết một số bí mật của khách
mời.
3. Trò chơi có sự tham gia của khán giả truyền hình: trong đó người chơi trình diễn
để giải trí cho khán giả trong trường quay cũng như khán giả ở nhà.
4. Trò chơi trong đó những người tham gia đang cố gắng học được những luật lệ
đặc biệt và cố gắng làm tốt những kỹ năng đặc biệt này.

Trò chơi truyền hình có những yêu cầu riêng so với các thể loại khác trên truyền
hình vì trò chơi truyền hình giống như một tác phẩm hoàn chỉnh có mở đầu, thắt nút, mở
nút và luôn mang những yếu tố kịch tính. Có 3 yếu tố chính để chúng ta thấy được sự
khác biệt. Đầu tiên chúng ta phải đề cập tới Luật chơi:
Luật chơi chính là yếu tố cơ bản để tạo nên trò chơi, để phân biệt trò chơi này với
trò chơi khác. Luật chơi là yếu tố chính tạo nên sức hấp dẫn của cuộc chơi. Luật chơi
cũng là cơ sở để tạo nên sự bình đẳng, vô tư cho mỗi người tham gia cuộc chơi bởi trò
chơi truyền hình sẽ thất bại nếu không tồn tại yếu tố công bằng. Do vậy luật chơi trong
trò chơi truyền hình phải hết sức chặt chẽ và cụ thể, tính toán được mọi tình huống có thể
xảy ra.
Thứ hai là người dẫn chương trình hay còn gọi là MC cũng là một phần quan trọng
trong trò chơi truyền hình. Một trò chơi truyền hình có thu hút được khán giả hay không
phụ thuộc vào người dẫn chương trình có thông minh, nhanh trí và có tài ăn nói hay
không. Người dẫn chương trình được ví như linh hồn của trò chơi, giúp khán giả cuốn
theo những tình tiết của cuộc hơi. Người dẫn chương trình không chỉ là người khâu nối
các sự kiện tình tiết mà phải là người chủ thực sự của chương trình. Sự sắc sảo, cá tính và
sự dí dỏm thông minh chính là những điều mà người dẫn chương trình nên có.
Thứ ba là người tham gia chơi hay đội chơi. Người chơi là một điểm độc đáo

khổng lồ" cũng bị loại bỏ vì để thực hiện trò này, các đấu thủ Việt Nam với vóc dáng nhỏ
bé phải chui vào bụng con búp bê làm theo kiểu Pháp, cả khuôn mặt lọt thỏm trong chiếc
rốn còn con búp bê này nên dễ tạo ra những ấn tượng không hay. Để trò chơi trở nên gần
gũi với người Việt Nam, những người làm chương trình cũng bổ sung thêm một số trò
chơi dân gian như trò "Cướp cờ", "Đua thuyền rồng" "Trò chơi liên tỉnh" có thể coi là
một trò chơi đầu tiên thể hiện sự chuyển đổi tích cực và rõ nét nhất các chương trình trò
chơi truyền hình từ nước ngoài vào Việt Nam.
Cuộc thăm dò dư luận khán giả Đài THVN năm 2002, trong các chương trình trò
chơi được yêu thích nhất, các trò chơi được chuyển đổi từ nước ngoài chiếm một vị trí
đặc biệt quan trọng. Trong đó, chương trình "Trò chơi âm nhạc" mua bản quyền từ
chương trình "Un Singio de Catone" của truyền hình Tây Ban Nha và đây cũng là chương

trình có tỷ lệ người yêu thích nhất tại nước này. Bắt đầu từ năm 2000, "Hành trình văn
hoá" được chuyển từ chương trình trò chơi mang tên "Cultrure quest" (Câu hỏi văn hoá)
của truyền hình nước Mỹ. Tháng 4/2002, "Chiếc nón kỳ diệu" được phiên bản từ trò chơi
"The wheel of fortune" (Vòng quay may mắn) nổi tiếng của Mỹ, cũng đồng thời là một
trong những trò chơi nổi tiếng nhất thế giới hiện nay
Trong khi Việt Nam bắt đầu đi những bước đầu tiên trên con đường tập làm
chương trình trò chơi truyền hình, trên thế giới đã có bề dầy hàng chục năm. Ở Mỹ,
chương trình The Wheel of Fortune (phiên bản Việt Nam mua và đặt tên Chiếc nón kỳ
diệu đã được sản xuất hàng chục năm. Tương tự như vậy The Price is Right, Việt Nam
mua đặt tên Hãy chọn giá đúng cũng đã được sản xuất hàng chục năm. Khi nhóm sản
xuất sang thăm, họ vẫn còn giữ sân khấu của hàng chục năm về trước.
Vì vậy, khi truyền hình Việt Nam phát triển, song song tồn tại hai con đường: tự
sản xuất chương trình trò chơi truyền hình made in Việt Nam và mua bản quyền sản xuất
chương trình. Lúc này hay lúc khác 1 trong 2 khuynh hướng có xu hướng mạnh mẽ hơn
hoặc ít mạnh mẽ hơn nhưng phải thừa nhận trò chơi truyền hình đã góp một phần đóng
góp của mình trong việc thu hút các khán giả Việt Nam. Nhìn rộng hơn về mặt nghề
nghiệp, người làm truyền hình Việt nam thông qua việc mua bản quyền các chương trình
game show thành công của thế giới, giúp họ rút ngắn khoảng cách tự mày mò. Việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status