1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG TRƢƠNG VĂN QUÂN
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 6
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
6. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8
8. Cấu trúc của luận văn 9
Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản của thông tin phục vụ đồng bào
dân tộc thiểu số và miền núi 10
1.1. Vị trí, mục tiêu, nhiệm vụ của thông tin phục vụ đồng bào
dân tộc thiểu số và miền núi 10
1.1.1. Khái niệm về dân tộc 10
1.1.2. Vị trí 13
1.1.3 Mục tiêu 17
1.1.4. Nhiệm vụ 21
1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc tuyên truyền
phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi 26
1.2.1. Thông tin chính sách của Đảng và Nhà nước
đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi 26
1.2.2. Thành tựu chủ yếu của vùng đồng bào dân tộc thiểu số
và miền núi được thông tin, tuyên truyền 35
6
1.3. Yêu cầu của thông tin đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi 43
1.3.1. Yêu cầu chung 43
1.3.2. Nội dung thông tin 44
Chƣơng 2: Đổi mới, nâng cao chất lƣợng các ấn phẩm báo chí phục vụ
đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của TTXVN 47
2.1. Khái quát về TTXVN và Toà soạn Bản tin ảnh Dân tộc và Miền núi 47
2.1.1. Khái quát về sự hình thành và phát triển của TTXVN 47
2.1.2. Khái quát về Toà soạn Bản tin ảnh Dân tộc và Miền núi 50
2.2. Thực trạng Bản tin ảnh và Chuyên đề Dân tộc và Miền núi
4
BẢNG CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CNH, HĐH: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CHXHCN: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
CHND: Cộng hoà nhân dân
HTX: Hợp tác xã
THPT: Trung học phổ thông
TTXGP: Thông tấn xã giải phóng
TTX: Thông tấn xã
TTXVN: Thông tấn xã Việt Nam
PTDTNT: Phổ thông dân tộc nội trú
VNTTX: Việt Nam Thông tấn xã
VAC: Vườn ao chuồng
VACR: Vườn ao chuồng rừng
WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới
thức nước ta nhân sự kiện APEC, đó là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHND
Trung Hoa; Tổng thống Mỹ; Tổng thống Nga; Thủ tướng Nhật Bản và Tổng
thống Chi Lê; thể hiện qua việc chúng ta được bầu là Uỷ viên không thường Hội
đồng Bảo an Liên hợp quốc; thể hiện qua con số đầu tư nước ngoài năm 2007 đạt
hơn 20 tỷ USD
Những thành tựu chung của báo chí Việt Nam có sự đóng góp của Thông
tấn xã Việt Nam (TTXVN). Là cơ quan thông tấn nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo
9
trực tiếp của Đảng, TTXVN có vai trò quan trọng trong hệ thống thông tin báo
chí quốc gia. TTXVN là cơ quan sự nghiệp thuộc Chính phủ, thực hiện chức
năng thông tấn nhà nước trong việc phát tin, văn kiện chính thức của Đảng và
Nhà nước; cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu lãnh đạo của Đảng và quản lý của
Nhà nước; thu thập phổ biến thông tin bằng các loại hình báo chí phục vụ các đối
tượng có nhu cầu ở trong và ngoài nước.
Hiện nay, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới; trước đòi
hỏi ngày càng cao của nhiệm vụ tuyên truyền sự nghiệp đổi mới đất nước do
Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, yêu cầu thông tin đặt ra đối với cơ quan thông
tấn nhà nước rất cao. TTXVN đã nỗ lực phấn đấu để thông tin của TTXVN thực
sự trở thành nguồn thông tin chính thống của quốc gia, giữ vai trò định hướng và
chi phối thông tin, trở thành một trong những mũi nhọn xung kích trên mặt trận
đấu tranh tư tưởng chống các quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ quan điểm,
đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam Phát biểu tại Lễ kỷ niệm 61 năm
Ngày truyền thống TTXVN (15/9/1945 – 15/9/2006), Phó Chủ tịch nước Trương
Mỹ Hoa nhấn mạnh: “Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, TTXVN luôn giữ
vững định hướng chính trị, là công cụ sắc bén của Đảng và Nhà nước trong việc
tuyên truyền và phản ánh việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước, đồng thời tham gia tích cực vào việc đấu tranh chống tiêu cực, chống
các luận điệu thù địch chống phá Nhà nước ta. Thông tin trong nước, thông tin
quốc tế, thông tin đối ngoại và các ấn phẩm báo chí của TTXVN đã có những
11
2. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Trước bối cảnh hội nhập và phát triển chung của đất nước, thu hẹp khoảng
cách giàu nghèo giữa các vùng miền và bình đẳng trong thụ hưởng văn hoá và
thông tin là một trong những mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta phấn đấu. Tuy
nhiên, việc thông tin tuyên truyền chưa đáp ứng được đòi hỏi của nhiệm vụ.
Bên cạnh đó, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn có những
khó khăn về địa hình, về điều kiện kinh tế, về trình độ nhận thức do đó, đồng
bào ta hiện nay ở một số nơi bị kẻ xấu lợi dụng, lừa bịp, xúi giục vượt biên trái
phép, mê tín dị đoan, tệ hơn chúng còn truyền đạo trái phép, gây mất đoàn kết
giữa các dân tộc, các tôn giáo Vì vậy, cùng với việc tuyên truyền đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào, tuyên truyền
phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, xây dựng đời sống mới, tăng
cường đại đoàn kết dân tộc thì báo chí còn có nhiệm vụ rất quan trọng, đó là
giúp đồng bào nâng cao ý thức cảnh giác với kẻ xấu, không nghe theo chúng làm
những điều trái pháp luật.
Vì vậy, việc đổi mới thông tin nói chung và đổi mới, nâng cao chất lượng
thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số, vùng miền núi là một trong những
yêu cầu cấp thiết hiện nay đối với TTXVN nhằm đánh giá đúng thực trạng; tìm
ra những ưu điểm, nhược điểm và đề ra những giải pháp khắc phục, nâng cao
hơn nữa chất lượng và hiệu quả của thông tin tuyên truyền phục vụ đồng bào dân
tộc thiểu số và miền núi, nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước.
Với lý do đó, chúng tôi chọn đề tài “Các ấn phẩm báo chí của Thông
tấn xã Việt Nam phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thời kỳ đổi
12
mới” làm luận văn Thạc sỹ khoa học báo chí tại Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
và miền núi. Trên cơ sở đó có cách nhìn tổng quát hơn về hoạt động thông tin
phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của TTXVN; làm rõ thực trạng,
những ưu điểm và nhược điểm; đề xuất những giải pháp để nâng cao hơn nữa
chất lượng của công tác thông tin phục vụ đồng bào, nơi còn nhiều khó khăn, nơi
mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang quan tâm đầu tư rất lớn để đồng bào ngày
càng có cuộc sống tốt hơn.
4. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
4.1. Mục đích của luận văn
Luận văn sẽ góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận chung và tổng kết
thực tiễn công tác thông tin đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đổi
mới và nâng cao công tác thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền
núi của TTXVN. Đồng thời luận văn cũng nêu ra một số giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng và hiệu quả của công tác này, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin
của đồng bào.
4.2. Nhiệm vụ của luận văn
Xác định những nội dung cơ bản của thông tin phục vụ đồng bào dân tộc
thiểu số và miền núi, vị trí, mục tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu, nội dung, lực lượng, đối
14
tượng, địa bàn, đường lối, quan điểm trong việc đưa tin phục vụ đồng bào dân
tộc thiểu số và miền núi.
Khảo sát, phân tích thực trạng công tác thông tin phục vụ đồng bào dân
tộc thiểu số và miền núi trên Bản tin ảnh Dân tộc và Miền núi và Chuyên đề Dân
tộc và Miền núi của TTXVN từ năm 2001 đến năm 2007 để tìm ra những ưu
điểm và những hạn chế trong việc thông tin về lĩnh vực đặc thù này. Từ đó đề
xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả cho công tác
này ở TTXVN.
Phương pháp phỏng vấn, tư vấn các chuyên gia trong lĩnh vực này.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: thực hiện trên các ấn phẩm báo chí phục
vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của TTXVN, qua đó, tìm ra những
điểm nổi bật về nội dung, hình thức, thế mạnh của thông tin trên hai ấn phẩm của
TTXVN phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Phương pháp đối chiếu, so sánh: để rút ra những ưu, nhược điểm của
thông tin về đồng bào dân tộc thiểu số so với yêu cầu và nhiệm vụ trong giai
đoạn mới. Từ đó, xác định rõ vai trò, đặc điểm của thông tin phục vụ đồng bào
trong hệ thống báo chí.
7. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN
Luận văn hoàn thành sẽ góp phần nhỏ vào việc tổng kết thực tiễn và lý
luận về thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là việc
16
nâng cao chất lượng và hiệu quả thông tin phục vụ đồng bào. Đồng thời, luận
văn cũng có thể là tài liệu để cán bộ, phóng viên trực tiếp làm công tác thông tin
về lĩnh vực này tham khảo, vận dụng. Luận văn còn có thể là tài liệu cho các cơ
quan chức năng, các cơ sở giáo dục - đào tạo, những ai quan tâm tham khảo.
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm
3 chương:
Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản của thông tin phục vụ đồng bào dân tộc
thiểu số và miền núi.
Chƣơng 2: Đổi mới, nâng cao chất lượng các ấn phẩm báo chí phục vụ
đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của TTXVN.
Chƣơng 3: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng hai ấn
phẩm phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong thời gian tới.
Nội dung của luận văn được trình bày theo thứ tự các chương trên.
quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn hoá và tính
cách
2. Tên gọi chung những cộng đồng người cùng chung một ngôn ngữ, lãnh
thổ, đời sống kinh tế và văn hoá, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc
3
1
. Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội, 1995, t.I, tr.655
18
4. Cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có ý thức về
sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền
thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung”.
2
Và định nghĩa dân tộc thiểu số như sau: “Dân tộc chiếm số ít so với dân
tộc chiếm số đông nhất trong một nước có nhiều dân tộc”.
Giáo trình Triết học Mác – Lênin, do Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên
soạn giáo trình quốc gia các bộ sách khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh xuất bản, có nói về khái niệm dân tộc như sau: “Khái niệm dân tộc thông
thường được dùng để chỉ hầu như tất cả các hình thức cộng đồng người (bộ lạc,
bộ tộc, dân tộc). Cần phân biệt “dân tộc” theo nghĩa rộng trên đây với “dân
tộc” theo nghĩa khoa học: đó là hình thức cộng đồng người cao hơn các hình
thức cộng đồng trước đó, kể cả bộ tộc.
Cũng như bộ tộc, dân tộc là hình thức cộng đồng người gắn liền với xã
hội có giai cấp, có nhà nước và các thể chế chính trị. Dân tộc có thể từ một bộ
tộc phát triển lên, song, đa số trường hợp được hình thành trên cơ sở nhiều bộ
tộc và tộc người hợp nhất lại. Từ hình thức cộng đồng trước dân tộc phát triển
lên dân tộc là một quá trình vừa có tính liên tục vừa là bước nhảy vọt lớn”.
3
triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta. Sự tăng cường tính cộng đồng,
tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật, nhưng tính cộng đồng, tính thống
nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo trong bản sắc
của mỗi dân tộc”.
6 1.1.2. Vị trí
Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc. Trong suốt quá trình lịch
sử, các dân tộc Việt Nam luôn kề vai, sát cánh bên nhau trong các cuộc đấu tranh
sinh tồn, chống lại thách thức khắc nghiệt của thiên nhiên, chống giặc ngoại
xâm, tương trợ giúp nhau cùng đi lên trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.
4
. Đặng Nghiêm Vạn: Quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993
5
. Từ điển Bách khoa Việt Nam, Sđd, tr. 529
6
. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.98
20
Nhận thức được sức mạnh to lớn của việc đoàn kết các dân tộc ở nước ta, ngay
từ khi mới ra đời, vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc đã được nhà nước ta đặt
ở vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng. Trên cơ sở vận dụng sáng
tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt
Nam, Đảng ta đã đề ra chính sách dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta phù hợp
với từng giai đoạn lịch sử và đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần
vào thắng lợi chung của cả nước.
Cùng với sự phát triển của cách mạng, báo chí nước ta ngày càng khẳng
định được vai trò là cầu nối tin cậy giữa Đảng với dân, dân với Đảng. Nước ta có
đặc điểm sự phát triển không đồng đều giữa các dân tộc, các vùng ở nước ta. Do
vậy, cùng với thành lập Nha Dân tộc thiểu số, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho
thành lập “Ban tuyên truyền” để thực hiện công tác dân tộc. Đến nay công tác
tuyên truyền luôn được coi trọng như một đặc trưng của công tác dân tộc của
Đảng và Nhà nước ta. Phải sát dân, sát cơ sở, hiểu đúng dân thì mới nói cho dân
hiểu đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Cách mạng xã hội, đó là sự nghiệp của quần chúng. Vì vậy về cơ bản mọi
chính sách của Đảng và Nhà nước đến với các vùng và đồng bào các dân tộc là
nhằm hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc phát huy được nội
lực, phấn đấu vượt qua đói nghèo, vươn lên từng bước hoà nhập vào sự phát
triển chung của cả nước.
Nhằm phát triển nhanh kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và
miền núi, Nghị quyết 22/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 27/11/1989 “Về chủ
trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi” đánh dấu bước
chuyển biến mạnh mẽ trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc và
miền núi của Đảng và Nhà nước. Để thể chế hoá Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị,
Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã có Quyết định số 72/QĐ-HĐBT,
8
60 năm công tác dân tộc, NXB Chính trị Quốc gia, 2006
22
ngày 13/3/1990 “Về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã
hội miền núi” quy định rõ những nội dung đổi mới cơ cấu kinh tế và tổ chức sản
xuất ở miền núi theo hướng chuyển sang kinh tế hàng hoá phù hợp với đặc điểm
từng vùng, từng tiểu vùng, từng dân tộc. Gắn phát triển kinh tế với giải quyết các
vấn đề dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và củng cố an ninh, quốc
phòng.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế, ngày 31 tháng 12 năm 2001, Thủ tướng
Chính phủ đã ký Quyết định số 1637/QĐ-TTg về việc cấp một số loại báo, tạp
cơ quan báo chí và sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân. Từ khi đất nước còn
đang trong thời kỳ chiến tranh và trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
ngày nay, thông tin về lĩnh vực này luôn được coi trọng và góp phần vào sự
thành công chung của cả nước. Thông tin đã góp phần rút ngắn khoảng cách địa
lý giữa miền ngược và miền xuôi. Thông tin giúp đồng bào nắm bắt được những
chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; giúp đồng bào nhanh
chóng xoá đói, giảm nghèo, từng bước vươn lên làm giàu, phê phán những hủ
tục lạc hậu
1.1.3. Mục tiêu
Tư tưởng có tính nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, mọi quan
điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân
tộc thiểu số là một chiến lược lâu dài chứ không phải là nhất thời. Ngay sau khi
Chính phủ được thành lập, trong cơ cấu của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã không quên các thành phần là những người dân tộc, tín hữu.
24
Trong bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 khai sinh ra nước Việt Nam
dân chủ cộng hoà, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã viết: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo
hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong đó quyền được
sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Trong suốt cuộc đời hoạt động
của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trăn trở, làm sao cho dân tộc Việt Nam
hoàn toàn độc lập, tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành,
được sống trong hoà bình và hạnh phúc.
Mong muốn đó của Bác được Đảng, Nhà nước coi đó là mục tiêu phấn
đấu và trở thành phương châm: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Tất cả những cố gắng, những thành tựu đạt được trong công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc đều nhằm mục tiêu độc lập dân tộc, gắn với chủ nghĩa
xã hội.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá
dân tộc; quán triệt phương châm: chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế
nhị, vững chắc; sử dụng nhiều phương thức phù hợp với đặc thù của từng dân
tộc, từng địa phương. Cán bộ công tác dân tộc ở vùng dân tộc và miền núi phải
quán triệt và thực hiện thật tốt phong cách công tác dân vận: “Trọng dân, gần
dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân”.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nêu: “Phát triển
mạnh và nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin, báo chí, phát thanh,
26
truyền hình, xuất bản và phát hành sách trên tất cả các vùng, chú ý nhiều hơn
đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”.
9
Ngược lại thời điểm trước năm 1990, đời sống văn hoá của đồng bào các
dân tộc còn nhiều hạn chế, nhiều hủ tục lạc hậu vẫn tồn tại và có chiều hướng gia
tăng; báo viết, tạp chí, phát thanh, truyền hình chậm phát triển, chưa đáp ứng
được nhu cầu thụ hưởng của đồng bào.
Trong những năm gần đây, việc nâng cao mức hưởng thụ văn hoá tinh
thần cho nhân dân, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc luôn được Đảng
và Nhà nước, các cấp, các ngành quan tâm hơn, thể hiện trong việc ban hành các
chủ trương, đường lối, chính sách, xây dựng, phát triển bộ máy ngành văn hoá –
thông tin, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và phát triển các loại hình văn hoá.
Chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình được triển khai khắp các địa
phương miền núi, kể cả các vùng xa xôi hẻo lánh. Hiện nay, tỷ lệ phủ sóng phát
thanh đạt hơn 90% lãnh thổ, truyền hình khoảng 85%. Các xã miền núi đã từng
bước được trang bị các thiết bị thông tin hiện đại như video, máy thu hình, thu
thanh, điện thoại, và có thêm nhiều loại hình văn hoá tuyên truyền phù hợp với
nhân dân các dân tộc như các ấn phẩm văn hoá dân gian các dân tộc, Bản tin ảnh
Dân tộc và Miền núi (TTXVN), Tuyển tập văn học các dân tộc ít người, Tạp chí
Dân tộc học, báo Dân tộc và phát triển ; mở rộng chương trình phát thanh,
thay đổi diện mạo nông thôn miền núi. Mục tiêu của Đảng và Nhà nước đối với
đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi rất rõ, đó là ngày càng nâng cao đời sống
vật chất, tinh thần của đồng bào. Thông qua đường lối, chính sách và các chương
trình, dự án cụ thể để thực hiện mục tiêu này. Các phương tiện thông tin đại
chúng nhận thức được tầm quan trọng đó cũng đã vào cuộc tích cực tuyên truyền