ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ LAN
NGHIÊN CỨU VỀ CÂU SAI TRÊN BÁO IN
TIẾNG VIỆT NĂM 2005
(Khảo sát các báo Thanh Niên, Tiền Phong, Hoa Học Trò, năm 2005) LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ
CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
MÃ SỐ: 60.32.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. HOÀNG TRỌNG PHIẾN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Hoa Học Trò
HHT
Thanh Niên
TN
Tiền Phong
theo một số công trình nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí trong những năm gần
đây, việc sử dụng tiếng Việt thiếu chuẩn xác trên báo chí là khá phổ biến. Đề
2
tài Khảo sát lỗi sử dụng tiếng Việt hiện nay trên một số báo chí từ năm 2000 –
2004 của PGS.TS. Đào Thanh Lan, Khoa Ngôn ngữ học Trường ĐHKHXH
&NV đã chỉ ra rằng: Việc mắc lỗi dùng tiếng Việt trên báo chí hiện nay là khá
phổ biến. Tuyệt đại đa số các lỗi đều là lỗi thuộc phạm vi câu. Trong quá trình
tiếp cận với các ấn phẩm báo in, bản thân người viết luận văn này cũng nhận
thấy việc mắc lỗi dùng tiếng Việt nói chung, viết câu sai nói riêng là hiện
tượng xuất hiện thường xuyên trên báo in Việt Nam trong những năm gần
đây. Đó là một thực trạng đáng báo động không chỉ cho những người viết
báo, mà đó còn là một thực tế rất đáng quan tâm đối với bộ phận biên tập tại
các tòa soạn báo, nơi được coi là “bộ lọc” mọi bài viết trước khi được “lên
trang” và xuất bản, nhằm đảm bảo chất lượng thông tin của mỗi tờ báo.
Chính bởi sự mâu thuẫn giữa yêu cầu sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực
trên báo chí và thực trạng mắc lỗi dùng tiếng Việt trên báo chí hiện nay nên
việc nghiên cứu câu sai trên báo in là một việc làm cần thiết, góp phần nâng
cao chất lượng của công tác biên tập, cũng như nâng cao chất lượng của sản
phẩm báo in.
Trong xã hội hiện đại, báo chí là một phần quan trọng trong cuộc sống
của đông đảo người dân. Nhu cầu tiếp nhận thông tin từ báo chí trở thành một
nhu cầu thiết yếu, hàng ngày, đều đặn và liên tục. Đông đảo các tầng lớp nhân
dân ở mọi lứa tuổi, giới tính, vùng miền khác nhau đều là công chúng của báo
chí. Họ tiếp xúc với báo chí một cách thường xuyên, mọi lúc, mọi nơi nhằm
cập nhật thông tin phục vụ cho đời sống tinh thần, nhu cầu học tập, nâng cao
dân trí Nói một cách khác, báo chí nói chung, báo in nói riêng có ảnh
hưởng rất mạnh mẽ và thường xuyên đến đông đảo công chúng. Do vậy, báo
chí nói chung, báo in nói riêng là một kênh, một phương tiện giáo dục ngôn
ngữ rất quan trọng và có vai trò rất lớn trong việc giữ gìn và bảo vệ sự trong
bộ phận cấu thành câu” [1, tr.157].
4
Đầu năm 2005, PGS.TS. Đào Thanh Lan và các cộng sự thuộc Khoa
Ngôn ngữ học, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội công
bố đề tài NCKH cấp ĐHQG Khảo sát lỗi sử dụng tiếng Việt hiện nay trên một
số báo chí từ năm 2000 – 2004. Toàn bộ chương III – chương quan trọng nhất
của đề tài, đã chỉ ra, phân tích và sửa nhiều loại câu sai trên báo chí. Đây thực
sự là một công trình công phu về câu sai trên báo chí. Công trình này nhìn và
lý giải câu sai dưới góc độ ngôn ngữ học thuần túy chứ chưa nhìn nhận hiện
tượng câu sai trên báo in với những đặc trưng loại hình của nó.
Trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Khoa Báo chí,
Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội đã có một số đề tài
nghiên cứu về lỗi sử dụng tiếng Việt nói chung, lỗi viết câu sai nói riêng như:
- “Về những khiếm khuyết của một số tít báo tiếng Việt theo cách nhìn
của ngôn ngữ” (Khóa luận tốt nghiệp, thực hiện: sinh viên Nguyễn Thu
Hà, hướng dẫn: PGS.TS Vũ Quang Hào).
- “Sơ bộ khảo sát hiện tượng mơ hồ của tít và của câu trên báo chí tiếng
Việt” (Khóa luận tốt nghiệp, thực hiện: sinh viên Bùi Thị Thu Hằng,
K40; hướng dẫn: PGS.TS Vũ Quang Hào).
Các khóa luận này chỉ tập trung khảo sát hiện tượng mơ hồ ở tít chứ
chưa đi sâu vào hiện tượng câu sai trong chính văn.
Với mong muốn tìm hiểu về lỗi viết câu sai trên báo in tiếng Việt hiện
nay nhằm góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt,
góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tiếng Việt trên báo in cũng như nhằm
nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ của bản thân, chúng tôi chọn “Nghiên
cứu về câu sai trên báo in tiếng Việt năm 2005” làm đề tài luận văn của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Nhận diện, phân tích, phân loại câu sai trên báo in.
Chƣơng II: Nhận diện và phân tích câu sai ngữ pháp trên báo in.
6
Chƣơng III: Hiện tượng câu mơ hồ trên báo in và cách khắc phục.
7
CHƢƠNG I
MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Chương I của luận văn sẽ tập trung trình bày một vài khái niệm cần yếu
có liên quan đến lỗi sử dụng tiếng Việt. Đó là vấn đề giữ gìn sự trong sáng
của tiếng Việt và chuẩn mực tiếng Việt.
Đồng thời, chương này cũng sẽ trình bày đặc điểm của loại hình báo in,
đặc trưng của ngôn ngữ báo chí cũng như các xu hướng truyền thông mới –
những yếu tố có tác động quan trọng đến việc sử dụng ngôn ngữ trên các loại
hình báo chí nói chung, các sản phẩm báo in nói riêng.
Một trong những mục đích của luận văn là góp phần vào việc nâng cao
chất lượng của công tác biên tập tại tòa soạn báo in. Do vậy, phần cuối của
chương này sẽ làm rõ vai trò, nhiệm vụ của công tác biên tập đối với hoạt
động của tòa soạn báo in nói chung, với chất lượng sử dụng ngôn ngữ trên
báo in nói riêng.
1.1. Vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
1.1.1. Về vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, nguyên Thủ
tướng Phạm Văn Đồng đã nêu rõ 4 điểm cốt lõi, tạo thành nội dung cơ bản
của việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc:
1. “Xây dựng ý thức và thái độ quý trọng tiếng ta, giữ gìn vốn từ ngữ và
ngữ pháp tiếng ta.
2. “Xây dựng thói quen nói, viết đúng, sáng sủa, rõ ràng ý định diễn đạt,
làm người nghe, người đọc dễ hiểu và hiểu đúng ý định đó”.
3. “Phát triển, làm giàu tiếng ta về từ ngữ và ngữ pháp”.
Như vậy, theo GS. Hoàng Tuệ, giữ gìn, bảo vệ và phát triển tiếng Việt
thực sự là một sự nghiệp lớn, có ý nghĩa văn hóa cao cả. Thực hiện sự nghiệp
đó là trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam. Từ đó, có thể hiểu rộng ra
9
rằng: Trước hết với tư cách là người dân Việt Nam, hơn thế nữa là người cầm
bút tạo nên các tác phẩm báo in, những tác phẩm có ảnh hưởng thường xuyên
và mạnh mẽ đến cách sử dụng ngôn ngữ của toàn dân, những người viết báo
càng cần xác định rõ ý thức, cũng như xây dựng bản lĩnh vững vàng để góp
phần xứng đáng trong sự nghiệp giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Và thực
tế, báo chí chữ quốc ngữ của chúng ta đã làm giàu và phổ biến, thống nhất
tiếng Việt. Đó là đóng góp to lớn của báo chí Việt Nam hơn một thế kỷ qua.
Những quan niệm trên đây làm cơ sở nhận thức cho đề tài này.
1.1.2. Vai trò của báo chí và nhà báo trong việc giữ gìn sự trong sáng
của tiếng Việt.
Báo chí là một phương tiện thông tin đại chúng, một “kênh giáo dục”
ngôn ngữ thường xuyên, liên tục nhất đối với nhiều đối tượng đa dạng trong
xã hội, nên báo chí cần phải đảm bảo tính chuẩn mực về ngôn ngữ. Những sai
sót về diễn đạt ngôn từ không chỉ khiến hiệu quả thông tin kém, có khi sai
lệch mà còn làm vẩn đục ngôn ngữ toàn dân.
Trên báo chí hiện nay, hiện tượng sử dụng ngôn ngữ không hoặc thiếu
trong sáng là khá phổ biến. Các hiện tượng đặt câu sai ngữ pháp, dùng từ sai
nghĩa, …thường thấy trên báo viết, ngay cả các báo lớn. Khảo sát các hiện
tượng trong mục “Dọn vườn” của tạp chí Nghề báo cho thấy các lỗi ngữ pháp
rất phổ biến trên báo trung ương và địa phương. Nhận định về nguyên nhân
của thực trạng này, tác giả Trần Dĩ Hạ trong bài Cần sử dụng đúng tiếng mẹ
đẻ trên các phương tiện thông tin đại chúng viết: “Lớp nhà báo trước đây có
nhiều người rất giỏi sử dụng ngôn ngữ, vừa biết lý thuyết, vừa biết thực hành
(thể hiện trong cách hành văn) tuy họ không phải là nhà ngôn ngữ học. Lớp nhà
báo ngày nay, nhiều người rất dầy công rèn luyện vi tính, ngoại ngữ… nhưng
ngoài mà cả ở Việt Nam” [17, tr.22]. Cho đến nay, chúng ta cũng chưa có
quan điểm chung về những nội dung cốt lõi hay những tiêu chí để xác định
11
chuẩn mực trong việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt. Dưới đây chúng tôi nêu
một số quan niệm tiêu biểu:
1.2.1. Bàn về khái niệm chuẩn mực ngôn ngữ, Giáo sư Nguyễn Hàm
Dương cho rằng: Chuẩn của ngôn ngữ cần được quan niệm trên hai diện:
+ Chuẩn phải mang tính chất quy ước xã hội, tức là phải được xã hội
chấp nhận và sử dụng.
+ Mặt khác, chuẩn phải là một hiện tượng thuộc kết cấu ngôn ngữ, tức
là phải phù hợp với quy luật phát triển nội tại của ngôn ngữ trong từng giai
đoạn lịch sử.
Theo Giáo sư Nguyễn Hàm Dương, quan niệm về chuẩn như vậy sẽ
“cho phép kết hợp các yếu tố xã hội ngoài ngôn ngữ với các yếu tố kết cấu
trong ngôn ngữ khi xác định cái chuẩn để điều chỉnh sự hoạt động của ngôn
ngữ trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội” [9, tr.28]. Từ quan
niệm như vậy về khái niệm chuẩn mực ngôn ngữ, Giáo sư đã chỉ là những
việc làm cụ thể để thực hiện nhiệm vụ chuẩn hóa tiếng Việt:
+ “Một mặt là phải dựa vào những cứ liệu thực tế ngôn ngữ để nắm
được quy luật biến đổi và phát triển của tiếng Việt trên tất cả các bậc ngữ âm,
từ vựng, ngữ pháp và ngữ nghĩa.
+ Mặt khác, phải xét đến những lý do phi ngôn ngữ ảnh hưởng đến sự
phát triển của tiếng Việt” [9, tr.28].
Những lý do phi ngôn ngữ có ảnh hưởng đến sự phát triển của tiếng
Việt có thể hiểu rộng là các đặc trưng của mỗi loại hình phong cách chức
năng: báo chí chính luận, văn học nghệ thuật, khoa học kỹ thuật Mỗi loại
phong cách theo chức năng tải nghĩa của mình mà có đặc trưng ngôn ngữ và
các biện pháp ngôn từ khác nhau. Quan niệm này được chúng tôi tiếp thu
trong luận văn làm cơ sở khảo sát, bàn luận. Theo đó, các câu sai không chỉ
quy ước, chỉ dẫn về phát âm, viết chữ, dùng từ, đặt câu. Tóm lại, hiểu theo
13
nghĩa hẹp thì chuẩn ngôn ngữ là cơ sở cho cộng đồng ngôn ngữ xác định là
nên nói và viết như thế nào.
+ Theo nghĩa rộng, chuẩn mực ngôn ngữ là toàn bộ những cách phát âm,
viết chữ, dùng từ, đặt câu được mọi người trong xã hội chấp nhận và sử dụng.
Cũng bàn về chuẩn ngôn ngữ, Giáo sư Hoàng Phê cho rằng: “Chuẩn là
mẫu ngôn ngữ đã được xã hội đánh giá, lựa chọn, sử dụng trong trường hợp
lưỡng khả. Kết quả lựa chọn có thể là chọn một mẫu này, thu hẹp phạm vi sử
dụng, đi đến loại bỏ mẫu kia” [25, tr.12].
Trong đề tài Khảo sát lỗi sử dụng tiếng Việt hiện nay trên một số báo
chí từ năm 2000 – 2004, PGS.TS. Đào Thanh Lan cho rằng : Chuẩn mực
ngôn ngữ là việc sử dụng thống nhất các phương tiện của một thứ tiếng từ
một thói quen diễn đạt chung của cộng đồng ngôn ngữ. Thói quen diễn đạt
chung của cộng đồng ngôn ngữ thể hiện quy luật khách quan và đặc thù của
ngôn ngữ trong cách phản ánh tư duy được cộng đồng ngôn ngữ sử dụng. Sự
chuẩn mực này đã hình thành tự nhiên trong quá trình phát triển của ngôn
ngữ, trở thành quy tắc, cần được ghi nhận, không nên tùy ý thay đổi. Chuẩn
mực ngôn ngữ có thể biến đổi theo sự biến đổi tự nhiên của ngôn ngữ [22,
tr.5].
1.2.5. PGS. TS Vũ Quang Hào trong cuốn Ngôn ngữ báo chí đã khái
quát các quan niệm về chuẩn mực ngôn ngữ của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ
Việt Nam như sau: “Phần lớn ý kiến được hệ thống hoá trong các tài liệu
ngôn Việt ngữ học Việt Nam đều cho rằng chuẩn ngôn ngữ là mẫu ngôn ngữ
đã được xã hội đánh giá, lựa chọn và sử dụng. Cố nhiên sự đánh giá lựa chọn
đó không thể đạt đến sự nhất trí hoàn toàn và do vậy tính chất bắt buộc cũng
như tính chất ổn định của chuẩn chỉ là tương đối. Mặt khác, chuẩn không phải
là quy định mà là quy ước, không phải là luật mà là chỉ dẫn” [17, tr.23].
Từ quá trình tìm hiểu về những quan điểm xung quanh vấn đề chuẩn
tố hạt nhân, quan trọng nhất đảm bảo cho quá trình giao tiếp đúng như nhà văn
15
Lép Tôn – xtôi đã từng nhấn mạnh: “ trước hết cần phải quan tâm sao cho
công cụ truyền đạt các khái niệm, tức là ngôn ngữ, phải đúng” [17, tr.23].
Tuy nhiên, vẫn theo quan điểm của PGS. TS Vũ Quang Hào thì cái
đúng mới chỉ là cơ sở tạo nên chuẩn chứ không phải là toàn bộ nội hàm của
khái niệm chuẩn. Cái đúng chỉ là một trong những yếu tố, nhưng là yếu tố
quan trọng tiên quyết để xác lập giá trị của chuẩn. Cái đúng phải đi kèm với
sự thích hợp mới làm nên chuẩn. “Cái đúng mới chỉ là một mặt của chuẩn
mực. Chuẩn mực còn cần phải thích hợp bởi vì thông tin đúng mà không thích
hợp thì hiệu quả thông tin kém” [17, tr.25].
Cái thích hợp trong chuẩn ngôn ngữ không chỉ có giá trị đảm bảo tính
trọn vẹn của thông tin mà còn có vai trò quan trọng trong việc làm tăng giá trị
thẩm mỹ của ngôn từ. Từ cách đây gần 2000 năm, một nhà sử học La Mã đã
từng khẳng định: “Giá trị quan trọng nhất và hoàn mỹ nhất của ngôn từ là sự
thích hợp”. Cái thích hợp có thể hiểu là sự phù hợp của việc sử dụng ngôn từ
trong từng lĩnh vực nhất định, trong từng bối cảnh giao tiếp, từng trường hợp
giao tiếp cụ thể, sao cho các thành viên trong cộng đồng ngôn ngữ có thể tiếp
nhận thông tin một cách chính xác nhất, đạt hiệu quả cao nhất. Chẳng hạn,
việc sử dụng các thuật ngữ khoa học trên các phương tiện thông tin đại chúng
hiện nay với tần xuất lớn, trong đó có nhiều thuật ngữ thuộc các chuyên
ngành hẹp, vượt quá tầm hiểu biết của đại bộ phận công chúng là một trường
hợp sử dụng ngôn ngữ đúng nhưng không thích hợp. Có thể nói đây là trường
hợp sử dụng ngôn ngữ đúng nhưng không thích hợp bởi vì: Sử dụng các thuật
ngữ khoa học khi chuyển tải thông tin thuộc các chủ đề mang tính khoa học
và công nghệ là đúng. Tuy nhiên, trong bối cảnh trình độ dân trí của phần lớn
công chúng báo chí Việt Nam hiện nay chưa thật cao, nhiều độc giả, khán giả,
thính giả không thể hiểu được các thuật ngữ này, gây nên hiện tượng “nhiễu”,
làm giảm đáng kể hiệu quả thông tin. Như vậy, việc sử dụng các thuật ngữ
1.3. Các nhân tố ngoài ngôn ngữ ảnh hƣởng đến ngôn ngữ của báo in
17
Trên cơ sở tiếp nhận những quan điểm về chuẩn ngôn ngữ của các nhà
nghiên cứu nêu trên, chúng tôi muốn chỉ ra các nhân tố ngoài ngôn ngữ ảnh
hưởng đến ngôn ngữ báo chí nói chung, báo in nói riêng. Các nhân tố này là
cơ sở để chúng tôi nhìn nhận câu sai dưới góc độ báo chí và lý giải nguyên
nhân dẫn đến hiện tượng câu sai trên báo in hiện nay. Các nhân tố ngoài ngôn
ngữ có nhiều, nhưng tác dụng trực tiếp đến báo in là các nhân tố chức năng,
thể loại và xu hướng.
1.3.1. Vai trò, chức năng của báo chí và yêu cầu về tính đơn nghĩa
của ngôn ngữ báo chí
Báo chí có vai trò, chức năng riêng. Điều này chi phối rất rõ và tạo ra
những yêu cầu riêng đối với ngôn ngữ báo chí. Có thể thấy rõ điều này khi so
sánh giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ báo chí.
Báo chí và văn học đều dùng ngôn ngữ văn tự làm vật liệu xây dựng tác
phẩm. Tuy nhiên, ngôn ngữ báo chí và văn học không đồng nhất, bởi báo chí
và văn học có vai trò, chức năng khác nhau. Chức năng của văn học là tái hiện
hiện thực thông qua các hình tượng nghệ thuật, đáp ứng nhu cầu thưởng thức
cái đẹp của người đọc còn báo chí có chức năng phản ánh người thật, việc
thật, những sự kiện có thật đang diễn ra trong cuộc sống hàng ngày nhằm đáp
ứng nhu cầu nắm bắt thông tin thời sự hàng ngày hàng giờ của công chúng.
Mục đích cuối cùng của nhà văn là bằng ngôn ngữ, làm sao để cống
hiến cho người đọc những hình tượng điển hình với sự kết hợp của vốn sống,
trí tưởng tượng và tài hư cấu. Mục đích cuối cùng của người viết báo là bằng
ngôn ngữ, làm sao để chuyển tải được một cách chính xác nhất, đầy đủ nhất,
nhanh nhất những tin tức về sự kiện thời sự tới công chúng. Đối tượng tiếp
nhận thông tin báo chí là mọi lớp người với cương vị xã hội, trình độ văn hóa
và lợi ích khác nhau.
Sự khác biệt về chức năng của văn học và báo chí đã dẫn đến những
các ấn phẩm và có thể đọc đi đọc lại nhiều lần. Khả năng lưu trữ được của
19
báo in cũng đồng nghĩa với khả năng tác động mạnh mẽ của ngôn ngữ trên
báo in đối với thói quen sử dụng ngôn ngữ của công chúng, đối với sự nghiệp
giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Điều này đặt ra cho báo in một yêu cầu
rất khắt khe về mặt ngôn ngữ. Đó là ngôn ngữ trên báo in phải tuân thủ chuẩn
mực văn tự và cần luôn luôn được trau dồi, được làm giàu thêm một cách có ý
thức. Nói như vậy không có nghĩa rằng, ngôn ngữ trên các loại hình khác
không cần đáp ứng yêu cầu khắt khe nêu trên. Báo in có khả năng tác động
mạnh mẽ đến việc sử dụng tiếng Việt của đông đảo công chúng và sự nghiệp
giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, nên việc tuân thủ chuẩn mực ngôn ngữ
khi sử dụng tiếng Việt trên báo in có ý nghĩa rất lớn và rất cần được quan tâm.
Đối với nhà báo, việc sử dụng ngôn ngữ không chỉ là sử dụng một phương
tiện chuyển tải thông tin mà việc đó còn đòi hỏi ở họ trách nhiệm, nghĩa vụ
của một người làm văn hóa ngôn từ.
1.3.3. Các xu hướng truyền thông mới
Ngôn ngữ là một thực thể sống động trong mọi lĩnh vực đời sống – xã
hội của một cộng đồng. Do vậy, cùng với những biến đổi nội tại của ngôn ngữ
thì những yếu tố ngoài ngôn ngữ, đặc biệt là những thay đổi về chính trị, xã
hội, nghề nghiệp trong xã hội hoặc trong một lĩnh vực nhất định (trong trường
hợp này là lĩnh vực báo chí) có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của
ngôn ngữ. Những yếu tố ngoài ngôn ngữ như vậy cũng có những tác động
nhất định tới chuẩn mực ngôn ngữ của cộng đồng nói chung, của mỗi phong
cách chức năng nói riêng. Trong lĩnh vực báo chí – truyền thông, một trong
những yếu tố ngoài ngôn ngữ có tác động mạnh chính là các xu hướng truyền
thông mới được hình thành trong bối cảnh xã hội thông tin mới. Sự chế định
của các xu hướng truyền thông này đã tạo nên nhiều thay đổi lớn về mặt ngôn
ngữ trên báo chí hiện đại. Dưới đây, chúng tôi xin trình bày rõ về các xu
hướng truyền thông mới trong xã hội hiện đại và sự tác động của các xu
21
cho các xu hướng truyền thông hiện đại dần được hình thành và ngày càng trở
nên rõ nét. Có thể kể đến các xu hướng cơ bản sau:
1. Xu hướng biến đổi từ truyền thống sang hiện đại. Đây là xu hướng
mang tính toàn cầu, tác động toàn diện đến lĩnh vực truyền thông. Đây cũng
chính là xu hướng có tính bao quát, tạo nên nhiều xu hướng căn bản dưới đây
trong lĩnh vực báo chí nói chung, báo in nói riêng.
2. Xu hướng thay đổi khổ báo (đối với báo in). Theo đó, phần lớn các
tờ báo hiện đại đều có xu hướng “co” khổ báo. Cụ thể, những tờ báo vốn in
khổ lớn, nay chuyển sang khổ vừa. Các tờ báo in khổ vừa, nay chuyển sang
khổ nhỏ. Phần lớn các tờ báo mới ra đời đều chọn khổ vừa hoặc khổ nhỏ, cá
biệt, có một số trường hợp còn xuất bản ấn phẩm nhỏ hơn kích thước của khổ
báo nhỏ theo quan niệm truyền thống.
3. Xu hướng cân bằng giữa phần nội dung có tính thông tin và phần nội
dung mang tính giải trí trên báo in. Xu hướng này thể hiện rõ vào đầu thế kỷ
XXI. Theo đó, bên cạnh những bài viết đáp ứng nhu cầu về thông tin kinh tế,
chính trị, xã hội của công chúng còn có lượng bài viết đáp ứng các nhu cầu
giải trí của công chúng, như các trò chơi ô chữ, các phần trắc nghiệm, các bài
viết về văn hóa, nghệ thuật… dần trở nên cân bằng với nhau. Các chuyên mục
ra đời rất phong phú, đa dạng và thay đổi thường xuyên. Các mục xã luận khô
khan, dài dòng với bao triết lý “sáo mòn” được thay thế bằng các mục “Sự
kiện – bình luận”, “Chào buổi sáng”, “Câu chuyện thứ 4”, “Phóng sự”, “Góc
văn hóa - thể thao”, “Thị trường”, “Thời trang” Đó là các chuyên trang,
chuyên mục sát với nhu cầu của đời sống mới. Tất cả làm nên “dòng thác
thông tin”, làm nên “thời đại bùng nổ thông tin”.
4. Xu hướng truyền thông ngày càng gắn bó với hoạt động kinh tế.
Theo đó, trong xã hội hiện đại, giới doanh nhân ngày càng nhận thức được vai
trò quan trọng của truyền thông. Họ ngày càng chú trọng tới việc sử dụng
22
thông ở nước ta hiện nay. Trước hết, đó là việc sử dụng những khổ báo nhỏ
gọn trong hệ thống báo in Việt Nam. Hiện nay, phần lớn báo in nước ta đều ra
khổ vừa (Thời báo Kinh tế Việt Nam, Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh,
Thanh niên, Tiền Phong, Giáo dục thời đại, Nông thôn ngày nay …) hoặc khổ
nhỏ (Thể thao & văn hóa). Khổ báo vừa và nhỏ dẫn đến diện tích trang báo
hẹp, từ đó chế định dung lượng của bài viết. Trang báo khổ vừa và nhỏ không
phù hợp với những bài viết quá dài, chiếm trọn vẹn hoặc phần lớn diện tích
trang báo. Do vậy, để tạo nên sự hài hòa của trang báo, các tòa soạn chỉ sử
dụng những bài viết có dung lượng vừa và ngắn (500 – 1.200 từ). Vì thế, để
chuyển tải được thông tin một cách đầy đủ, để “tiết kiệm” tối đa diện tích
trang báo, ngôn ngữ của các bài viết phải thật ngắn gọn, số câu và từ càng hạn
chế càng tốt. Có thể mô hình hóa yêu cầu đó như sau: Ký hiệu ngôn ngữ ít –
lượng thông tin lớn – hiệu quả thông tin nhanh.
Sự hạn chế, thu gọn dung lượng bài viết được thể hiện rất rõ trong thực
tiễn báo chí Việt Nam hiện nay. Cụ thể, nếu như trên các tờ báo Tuổi trẻ
Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản trong thập kỷ 80, số bài viết có dung lượng
trên 1500 từ xuất hiện khá thường xuyên ở 2/3 số trang của tờ báo thì hiện
nay, cũng trên chính báo này, số bài có dung lượng như vậy chỉ xuất hiện ở
trang Phóng sự & ký sự (trang 7) và đôi khi mới xuất hiện ở các chuyên trang
khác khi đề cập đến những vấn đề được công chúng đặc biệt quan tâm. Trên
các báo Lao Động và Người Lao động, các bài viết trên 1000 từ hầu như chỉ
xuất hiện ở các chuyên mục Phóng sự hay các trang Văn hóa - văn nghệ. Trên
các tạp chí mang tính giải trí rõ rệt như Văn hóa thông tin, Thế giới phụ nữ, số
bài viết có dung lượng trên 1000 từ rất hiếm khi xuất hiện mà phổ biến là
những bài viết từ 500 – 700 từ.
Hơn thế nữa, trong bối cảnh xã hội bùng nổ thông tin với lượng thông
tin luôn phong phú, dồi dào nhưng công chúng báo chí lại bị hạn chế về thời
gian tiếp nhận thông tin (do bị cuốn hút vào hoạt động kinh tế sôi động của