Tuyển tập Báo cáo “Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học” lần thứ 6 Đại học Đà Nẵng - 2008
319
NGHIÊN CỨU VỀ CÁCH DỊCH TÊN
CÁC MÓN ĂN VIỆT NAM SANG TIẾNG PHÁP
COMMENT ON THE TRANSLATION
OF THE NAMES OF HUE DISHES INTO FRENCH
SVTH: TRIỆU THỊ THANH HƢƠNG
NGUYỄN ĐẠI QUỐC DŨNG
Lớp : 04CNP03, Trường Đại học Ngoại Ngữ, Đại học Đà Nẵng.
GVHD: ĐOÀN THỊ NGỌC LAN
HUỲNH THỊ THANH THÚY
Khoa tiếng Pháp, Trường Đại học Ngoại Ngữ, Đại học ĐN
TÓM TẮT
Hiện nay, nhằm đáp ứng nhu cầu về ăn uống của du khách quốc tế, hầu hết thực đơn của các
nhà hàng đều được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau : Anh, Pháp, Trung...Nhưng bên cạnh
những thành công của công tác dịch thực đơn này vẫn còn tồn tại nhiều thiếu sót.Vì vậy, bài
báo cáo này được thực hiện với mục đích nghiên cứu về cách dịch tên các món ăn, đồng thời
cũng xin đề xuất một số bản dịch tiếng Pháp cho các món ăn Việt Nam.
SUMMARY
Nowadays, most menus of many restaurants are translated into many languages, like English,
French, Chinese, etc, to satisfy needs of foreign tourists. Beside the successes of this
translation, it still exists many shortcomings . Therefore, this report is made for many
purposes, to make objective comments about the translation of Vietnam dishes into French.
Moreover, we want to put forward some names of Vietnam dishes.
1. Mở đầu
Ngày nay, du lịch là ngành công nghiệp mới với khả năng phát triển vƣợt bậc và mang
lại lợi nhuận cao cho các nƣớc trên thế giới cũng nhƣ Việt Nam. Ngoài những chuyến tham
quan các danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử, du khách nƣớc ngoài còn muốn khám phá
nền Văn hóa đặc trƣng của Đất nƣớc, con ngƣời Việt Nam, trong đó có nghệ thuật ẩm thực.
tôi thuộc thể loại dịch thực hành gồm 3 phƣơng pháp tiếp cận nghĩa khác nhau : Tiếp cận
nghĩa trực tiếp theo từng từ, tiếp cận nghĩa theo cấu trúc của từ, tiếp cận nghĩa theo ngữ cảnh (
ngôn ngữ, văn hóa,….).
Chúng tôi lấy ví dụ về món « Mực nhồi thịt băm » đƣợc trích ra từ thực đơn của nhà
hàng thuộc khách sạn Green ở Huế.
Ở phƣơng pháp tiếp cận nghĩa trực tiếp theo từng từ, theo từ điển, ta có nghĩa tiếng Pháp
tƣơng ứng với mỗi từ tiếngViệt nhƣ sau :
- Mực = seiche, calamar
- Nhồi = farcir, bourrer, gaver, pétrir,….
- Thịt băm = hachis de viande.
Ta thấy phƣơng pháp này gây nhiều khó khăn cho ngƣời dịch bởi hiện tƣợng đồng âm
khác nghĩa của tiếng Việt, từ một âm tiếng Việt ta có nhiều nghĩa khác nhau, nghĩa là có nhiều
bản dịch sang tiếng Pháp mang nghĩa khác nhau. Nếu ta chọn sai từ thì bản dịch sẽ đổi nghĩa
hoặc sai nghĩa hoàn toàn. Nhƣ vậy, không nên dùng phƣơng pháp này để dịch các món ăn.
Với phƣơng pháp tiếp cận nghĩa theo cấu trúc của từ, ta cần xem xét các từ đi kèm với
từ cần dịch để hiểu chinh xác nghĩa của từ đó trong tiếng Việt. Từ đó có thế chọn đúng bản
dịch tiếng Pháp. Ví dụ về động từ « nhồi », ta có thể nhận biết nghĩacủa nó qua các cấu trúc
sau :
- Nhồi nệm = bourrer un matelas
- Nhồi bột = empâter
- Nhồi vịt để vỗ béo = gaver des canards
- Nhồi một con chim để bày ở bảo tàng
- Nhồi nhân vào cà chua để nấu món ăn = facir des tomates
- …………
Món « Mực nhồi thịt băm » sẽ có bản dịch tiếng Pháp với độ chính xác nhất định là
« calamar farci d’hachis de viande ».
Nhƣng để có một bản dịch hoàn chỉnh hơn, ta nên sử dụng phƣơng pháp tiếp cận nghĩa
theo ngữ cảnh. Phƣơng pháp nay đòi hỏi ngƣời dịch có kiến thức văn hóa và xã hội rộng. Để
dịch tên các món ăn từ tiếng Việt sang tiếng Pháp, ngƣời dịch phải văn hóa, về nghệ thuật ẩm
thực, về cách chế biến các món ăn Việt và Pháp. Nhờ những kiến thức này mà dịch giả có thể
món Phở, Nem,…., ta vẫn giữ tên tiếng Việt và có thể viết không dấu nhƣ « Pho, Nem ». Khi
nhắc đến những món này, khách quốc tế hiểu ngay đó là món gì mà không cần phải dịch.
2.3. Tên một số món ăn Việt Nam được dịch sang tiếng Pháp :
- Bánh ƣớt thịt nƣớng = Galette de riz roulée au porc grillé et aux herbes arômatiques
- Bánh tráng = crêpe de riz séchée
- Bánh khoái = crêpe de Hué farci de viande, crevettes, pousses de soja.
- Bánh lọc gói = Papillote de pâte de manioc à la crevettes et aux lardons
- Bánh nậm = papillote de riz à la vapeur ãu hachis de crevette et de porc
- Bánh phu thê = Friandise de mariage
- Bún bò Huế = soupe des vermicelles de riz au bœuf
- Miến trộn hải sản = Vermicelles transparentes sautées aux fruits de mer
- Lẩu = fondue à la vietnamienne
- Gỏi thập cẩm = salade composée
- Cơm hến = riz aux coques
3. Kết luận
Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng :
Đối với các món ăn quá nổi tiếng và đã đƣợc bán rộng rãi trên thị trƣờng thế giới thì không
nên dịch mà vẫn giữ nguyên tên tiếng Việt.
Ví dụ :
Phở = pho
Nem = nem
Tuyển tập Báo cáo “Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học” lần thứ 6 Đại học Đà Nẵng - 2008
322
Đối với các bản dịch tên các món ăn đã in sâu vào tiềm thức của ngƣời Pháp thì ta vẫn
giữ nguyên bản dịch cũ, không chỉnh sửa.
Vd : Gỏi cuốn = rouleux de printemps
Yến sào = Nid d’hirondelle
Đối với các món ăn khác thì ta dịch theo trình tự các phƣơng pháp dịch nhƣ đã nêu trên.
Nhƣng cần chú ý đến yếu tố Văn hóa của từng nƣớc.