ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM THỊ MAI
NGÔN NGỮ THỂ LOẠI TIN TRÊN BÁO
MẠNG ĐIỆN TỬ VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: BÁO CHÍ HỌC
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60 32 01 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. HOÀNG ANH
Hà Nội - 2008
1
Mục lục
Phần mở đầu 3
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 11
1.1. Khái quát về báo mạng điện tử 11
1.1.1. Các loại hình báo chí 11
1.1.2. Khái niệm báo mạng điện tử 12
1.1.3. Lịch sử hình thành và phát triển báo mạng điện tử 15
1.1.4. Đặc điểm của báo mạng điện tử 16
1.1.5. Đặc điểm ngôn ngữ báo mạng điện tử 20
1.2. Thể loại tin trên báo mạng điện tử 24
Chương 3 Các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
ngôn ngữ thể loại tin trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay 74
3.1. Cần giảm thiểu tình trạng mắc lỗi trên tin báo mạng điện tử 74
3.2. Tiếp tục phát huy tính ngắn gọn của ngôn ngữ tin 74
3.3. Nâng cao nhận thức của phóng viên trong việc sử dụng hiệu quả ngôn
ngữ trong thể loại tin 75
3.4. Nâng cao trình độ sử dụng ngôn ngữ của đội ngũ người làm báo mạng
điện tử 78
3.4.1. Tăng cường việc đào tạo về ngôn ngữ và báo mạng điện tử trong các
chương trình đào tạo nhân lực báo chí 78
3.4.2. Đưa khả năng sử dụng ngôn ngữ trở thành một trong những tiêu chí
quan trọng khi tuyển dụng phóng viên, biên tập viên 81
3.4.3. Chú trọng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng về năng lực sử dụng ngôn từ
cho đội ngũ người làm báo mạng điện tử 83
3.4.4. Đẩy mạnh sự tự trau dồi kiến thức của người làm báo mạng điện tử 84
3.5. Cần sự phối hợp tốt giữa phóng viên và biên tập viên 87
3.6. Tạo điều kiện thuận lợi cho phóng viên, biên tập viên làm việc 88
Kết luận 91
Tài liệu tham khảo 95
3
Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Năm 1992, phiên bản điện tử của tờ Chicago “ra mắt” ở Mỹ, đánh dấu
sự ra đời của loại hình báo chí hoàn toàn mới trên thế giới: loại hình báo
mạng điện tử, hay còn gọi là báo trực tuyến, báo internet.
Đây cũng là loại hình báo chí du nhập vào nước ta trong khoảng thời
gian ngắn nhất. Nếu như báo in ở nước ta xuất hiện sau các nước trên thế giới
hàng trăm năm, với phát thanh, truyền hình là hàng chục năm thì với báo điện
tử, khoảng thời gian này chỉ mất 5 năm. Tháng 12/1997, tạp chí Quê hương
toàn cầu nên tốc độ chuyển tải thông tin gần như đồng thời, ngay khi tòa soạn
phát tin thì ở tận bên kia Trái Đất, người ta đã có thể tiếp nhận thông tin. Sau
khi người phụ trách đưa tin bài lên trang quyết định phát tin và ấn phím enter
thì lập tức, hàng triệu người trên toàn cầu có thể tiếp nhận thông tin cùng một
lúc. Vì thế, đăng tải thông tin sai sẽ làm cho hàng triệu triệu người ở khắp nơi
thu nhận sai, dẫn tới nhận thức sai và có thể có hành động sai. Xét ở một góc
độ khác, việc dùng ngôn ngữ chữ viết không chuẩn cũng làm giảm sút sự
trong sáng của ngôn ngữ tiếng Việt.
Là một thể loại xung kích đặc biệt quan trọng của báo điện tử (vì mang
tính thời sự cao), thể loại tin cũng chịu sự chi phối của các yếu tố trên. Tin
chiếm tới 80% lượng tin bài trên các báo điện tử [2, 66]. Vì thế, việc nâng cao
chất lượng chuyển tải thông tin của thể loại này có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng trong nâng cao chất lượng báo mạng điện tử. Bên cạnh đó, cũng giống
5
như các thể loại báo chí khác của báo mạng điện tử, ngôn ngữ chữ viết là
thành tố chính của ngôn ngữ thể loại tin. Vì thế, để nâng cao chất lượng thể
loại tin thì nâng cao hiệu quả sử dụng ngôn ngữ chữ viết là yếu tố quyết định
đầu tiên.
Như đã phân tích ở trên, việc sử dụng sai ngôn ngữ chữ viết trên báo
mạng điện tử nói chung và ngôn ngữ chữ viết của thể loại tin trên loại hình
báo chí này nói riêng sẽ gây ra những tác động xấu khó lường. Tuy nhiên,
hiện nay, việc sử dụng chưa hiệu quả ngôn ngữ chữ viết vẫn xảy ra khá nhiều
trên các tin của báo mạng điện tử Việt Nam.
Trên các trang báo mạng điện tử, công chúng có thể gặp không ít các
lỗi như sai chính tả, dùng từ sai, ngữ pháp không chuẩn, câu mơ hồ… Những
hiện tượng này đã làm lệch lạc thông điệp mà tòa soạn muốn chuyển tải, đồng
thời làm sai lệch ngôn ngữ tiếng Việt.
Trong bối cảnh như vậy, việc nghiên cứu ngôn ngữ thể loại tin trên báo
mạng điện tử là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, theo khảo sát của chúng tôi,
viết như thế nào, sử dụng ngôn từ như thế nào để phù hợp với việc thông tin
trên báo mạng điện tử nói chung chứ không đi sâu vào một thể loại báo chí cụ
thể.
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ báo điện tử rất ít.
Hiện có một số cuốn sách chuyên sâu về ngôn ngữ báo chí là “Ngôn ngữ báo
chí” của tác giả Nguyễn Tri Niên (năm 2006), “Một số vấn đề về sử dụng
ngôn từ trên báo chí” (năm 2003) và “Những kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ
7
trong truyền thông đại chúng” (năm 2008) của PGS.TS. Hoàng Anh, giảng
viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền, “Ngôn ngữ báo chí” của PGS.TS. Vũ
Quang Hào, giảng viên Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn (ĐH
KHXH&NV), Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐH QGHN) in năm 2004 (tái bản
năm 2007, 2010). Tuy nhiên, các cuốn sách này đều không bàn về ngôn ngữ
báo mạng điện tử mà chỉ nói tới ngôn ngữ báo chí nói chung.
Cuốn “Các thủ thuật làm báo điện tử” trong bộ sách “Sổ tay phóng
viên” được nhà xuất bản Thông tấn in năm 2007 có thể coi là cuốn đầu tiên
bàn sâu về vấn đề ngôn ngữ báo mạng điện tử. Tuy nhiên, giống như hai tác
giả Kilian Crawford và Mike Ward đã nói ở trên, cuốn sách này chỉ tập trung
đi vào hướng dẫn cách đặt tít như thế nào, viết sapô làm sao, dung lượng câu
bao nhiêu… chứ không đi theo thể loại.
Trên website Vietnamjournalism.com, tác giả Lê Quốc Minh có một số
bài viết về vấn đề sử dụng ngôn ngữ trên báo mạng điện tử như “Giật tít trên
báo điện tử”, “Nguyên tắc viêt bài cho báo điện tử”, “Đặt tít ngắn”, “Thủ
thuật biết bài cho website”. Loạt bài này cũng giống như cuốn “Các thủ thuật
làm báo điện tử”, thiên về kỹ năng nghề nghiệp chung cho báo mạng điện tử
trên cơ sở kinh nghiệm và không đi vào nghiên cứu trên một thể loại cụ thể
với những khảo sát mang tính cứ liệu khoa học.
Bên cạnh đó, có thể kể tới một số luận văn, khoá luận tốt nghiệp của
học viên, sinh viên chuyên ngành báo chí. Tác giả Nguyễn Thu An trong
9
- Đánh giá thực trạng sử dụng ngôn ngữ thể loại tin trên các báo mạng
điện tử Việt Nam hiện nay, cụ thể là trên các báo Vietnamnet và Vnexpress,
xét trên hai bình diện là nội dung và hình thức (kết cấu tin), chỉ ra những điểm
còn hạn chế.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng ngôn
ngữ thể loại tin trên báo mạng điện tử.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Ngôn ngữ thể loại tin trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay, khảo
sát trên các báo mạng điện tử Vietnamnet và Vnexpress.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Các tin đã đăng tải trên báo mạng điện tử Vietnamnet và Vnexpress từ
tháng 3 đến tháng 5 năm 2010.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phuơng pháp luận: Đề tài được tiến hành dựa trên phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Phương pháp chung: Khảo sát thực tiễn, xử lý tài liệu, phân tích, tổng
hợp, so sánh, thống kê…
6. Ý nghĩa của đề tài
Về lý luận: Trên cơ sở khảo sát thực tiễn, đề tài góp phần làm rõ hơn
những vấn đề lý luận về ngôn ngữ báo chí được nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm như ngôn ngữ báo mạng điện tử, ngôn ngữ tin trên báo mạng điện tử…
10
Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là căn cứ đáng tin cậy để
các toà soạn báo, các phóng viên và biên tập viên báo mạng điện tử tham
khảo. Trên cơ sở đó, giúp họ có ý thức sâu sắc hơn về việc sử dụng ngôn ngữ
đối với thể loại tin, có những điều chỉnh phù hợp theo hướng tích cực trong
thông tin truyên truyền có tính chất đại chúng, được thể hiện qua các ấn phẩm
định kỳ hoặc qua các phương tiện thông tin đại chúng khác như truyền thanh,
truyền hình, internet” [29, 54].
Theo Điều 3, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm
1989 được Quốc hội khoá X thông qua năm 1999, các loại hình báo chí gồm
“báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói (chương trình
phát thanh), báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe – nhìn
thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo mạng
điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng
các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài”.
12
Như vậy, ngoài báo in, tạp chí, báo chí còn bao gồm báo phát thanh,
truyền hình, báo ảnh, tạp chí, và báo mạng điện tử.
Trong các loại hình báo chí trên thì báo mạng điện tử trẻ nhất, ra đời
muộn nhất nhưng có tốc độ phát triển mạnh mẽ nhất
1
.
1.1.2. Khái niệm báo mạng điện tử
Do báo mạng điện tử mới ra đời nên các nhà nghiên cứu hiện vẫn chưa
có cách gọi thống nhất đối với loại hình báo chí này. Vì thế, dù thiếu tên quy
chuẩn nhưng báo mạng điện tử đồng thời cũng là loại hình báo chí nhiều tên
nhất.
Trên thế giới, loại hình báo chí này có những tên gọi như online
newspaper (báo chí trên mạng, báo trực tuyến), electronic-journal (báo điện
tử)…
Ở Việt Nam cũng có nhiều cách gọi như báo điện tử, báo mạng, báo
internet, báo trực tuyến…. Trong đó, báo điện tử là thuật ngữ được sử dụng
phổ biến nhất như báo Lao động điện tử, Nhân dân điện tử, báo điện tử
Vietnamnet, báo điện tử Vnexpress… Ngoài ra còn có thuật ngữ báo online
tuyến hiểu theo nghĩa phổ biến nhất dùng để chỉ trạng thái của một máy tính
khi đã kết nối với mạng máy tính và sẵn sàng hoạt động. Thuật ngữ này rất
phù hợp với việc đọc báo phát hành trên mạng. Để đọc được báo, người đọc
phải có một máy tính có khả năng kết nối vào mạng và ở tình trạng trực
tuyến. (…) Ở Việt Nam, khái niệm điện tử một thời gian được sử dụng để chỉ
phát thanh và truyền hình. Nếu sử dụng lại có thể gây ra sự nhầm lẫn” [13,
40].
Đồng quan điểm này, tác giả Phan Văn Tú trong luận văn thạc sĩ Báo
chí học, năm 2006, ĐH KHXH&NV - ĐH QGHN, với đề tài “Báo chí trực
tuyến ở Việt Nam: một số vấn đề lý luận và thực tiễn” cho rằng, khái niệm
báo trực tuyến là hợp lý. Tác giả viện giải, thuật ngữ “điện tử” không làm rõ
đặc điểm của báo chí phát hành trên mạng như thuật ngữ trực tuyến, nghĩa là
không làm rõ tính chất yêu cầu phải kết nối mạng của loại hình báo chí này.
14
Theo Phan Văn Tú, cách gọi báo trực tuyến là hợp lý “bởi nó cho phép nắm
bắt và hiểu một cách rõ ràng, nhanh chóng về bản chất, đặc trưng cô đọng
nhất của loại hình báo chí mới được hình thành và phát triển gắn chặt với
mạng Internet” [44, 18].
Tuy nhiên, theo tác giả Nguyễn Thị Thoa, Học viên Báo chí và Tuyên
truyền, trong đề tài khoa học cấp cơ sở trọng điểm về Tổ chức và quản lý báo
mạng điện tử ở Việt Nam (năm 2007), lại cho rằng, cả hai thuật ngữ báo điện
tử và báo trực tuyến đều chưa chuẩn xác.
Cụ thể, theo tác giả Nguyễn Thị Thoa, báo trực tuyến không thể nói hết
được đặc điểm của tờ báo mạng điện tử là sử dụng tối đa nền tảng kỹ thuật
của dịch vụ Internet và sự sáng tạo của con người trong quy trình sản xuất
thông tin. Mặt khác, thuật ngữ báo trực tuyến chưa được Việt hoá. Còn thuật
ngữ báo điện tử dễ gây nhầm lẫn, đồng nhất loại hình báo chí thứ tư này với
hai loại hình báo điện tử trước đó là phát thanh và truyền hình. Hơn nữa, cách
gọi như vậy không chuẩn xác về thuật ngữ khoa học. [37, 3- 4]
nhưng mới chỉ với tính chất là phiên bản trên mạng Internet của tờ báo in
Chicago Tribune” [2, 60]. Sự xuất hiện của báo mạng điện tử đã mở đầu cho
thời đại thông tin mới: thời đại thông tin internet toàn cầu. Lập tức, một loạt
các tờ báo lớn của Mỹ đã xây dựng website của mình trên mạng như Los
Angeles Time, USA Today… Cùng trong năm đó, 11 tờ báo khác của châu Á
cũng xuất hiện trên mạng như China daily (Trung Quốc), Utusan (Malaysia),
Asahi Simbun (Nhật Bản)… [43, 16].
Tại Việt Nam, ngày 19/11/1997, nước ta chính thức mở cổng Internet
[45, 48]. Ngày 31/12/1997, tạp chí Quê hương của Uỷ ban về người Việt Nam
ở nước ngoài được đưa lên mạng, khởi đầu cho sự xuất hiện của hàng loạt báo
16
mạng điện tử khác của Việt Nam nối tiếp nhau ra đời như Vietnamnet,
Vnexpress… [2, 60; 18, 14].
Cùng với tốc độ phủ sóng nhanh chóng của Internet trên thị trường Việt
Nam, báo mạng điện tử cũng ngày càng chiếm lĩnh lực lượng công chúng
đông đảo hơn, nhất là với giới trẻ
1
. Nhận thức được điều này, hàng loạt các tờ
báo giấy cũng nhanh chóng cho ra phiên bản báo mạng điện tử như Tuổi trẻ
với địa chỉ tuoitre.com.vn, Tiền phong với tienphongonline.com.vn…, Nhân
dân với nhandan.com.vn, Lao động với laodong.com.vn, Người lao động có
nld.com.vn, Sài Gòn giải phóng có sggp.org.vn…
Sau hơn 10 năm hình thành và phát triển, hiện số lượng báo mạng điện
tử ở Việt Nam đã rất phong phú và được chia làm hai dạng. Thứ nhất là các
báo mạng điện tử hình thành và phát triển độc lập, không kèm báo giấy như
Vietnamnet, Vnexpress, Vnmedia, VietnamPlus… Đây cũng là những báo
mạng điện tử có lượng công chúng lớn.
Loại thứ hai là các báo mạng điện tử ra đời gắn liền với các tờ báo
“mẹ” là báo giấy như Tuổi trẻ, Tiền phong, Thanh niên, Lao động… Các báo
vấn đề mình quan tâm thông qua hệ thống mạng. Có thể nói, không có loại
hình báo chí nào hiện nay có thể cạnh tranh với báo điện tử về khả năng tương
tác. Nhiều khi, một bài báo nhưng có tới hàng trăm ý kiến phản hồi gửi về toà
soạn, trong đó có hàng chục ý kiến được đăng tải và có lúc, ý kiến phản hồi
của độc giả cuối bài báo còn dài hơn dung lượng tác phẩm, thậm chí được toà
soạn biên tập, cấu thành các bài báo độc lập.
Lợi thế này cũng được các toà soạn báo mạng điện tử khai thác triệt để
để thực hiện các cuộc giao lưu trực tuyến, tư vấn trực tuyến hoặc tổ chức các
chuyên trang riêng dành cho bạn đọc cùng tham gia làm báo (như báo Tuổi
trẻ, Vnexpress). Chính khả năng tương tác cao của báo mạng điện tử đã là
một cầu nối kéo công chúng lại gần hơn.
Một lợi thế vượt trội khác của báo mạng điện tử mà các loại hình báo
chí khác khó có thể cạnh tranh là tính thời sự của thông tin. Nếu báo in bị giới
18
hạn bởi thời gian in, phát hành báo, báo mới hôm nay chỉ có thể đăng tải
những thông tin của hôm qua thì báo mạng điện tử có thể cập nhật thông tin
tới từng giây. Ngay khi sự kiện xảy ra, phóng viên đã đưa thông tin ban đầu
lên mạng, có thể chỉ là tít và một câu thông báo sự kiện, sau đó liên tục cập
nhật các thông tin mới.
Đội ngũ người làm báo vẫn thường có câu nhận định về vai trò cũng
như thế mạnh của các loại hình báo chí trước một sự kiện là “phát thanh đưa
tin, truyền hình phản ánh, báo in bình luận”. Tuy nhiên, “đối với các sự kiện
lớn được công chúng quan tâm, báo điện tử có thể tường thuật trực tiếp sự
kiện bằng hình ảnh, bằng âm thanh (web TV) kết hợp với chữ viết để độc giả
có thể theo dõi thông tin liên tục và đa chiều ngay khi sự kiện đang diễn ra”
[27, 11]. Phát thanh, truyền hình mặc dù cũng có thể đưa thông tin nóng,
nhanh nhưng lại bị lệ thuộc nhiều vào hệ thống máy móc trong khi phóng
viên báo mạng điện tử có thể tác nghiệp khá linh hoạt, chỉ cần một máy tính
kết nối mạng hoặc gọi điện về cho người ở toà soạn cập nhật, phát tin bài.
càng cực nhọc hơn nếu các thông tin liên quan đến sự kiện đó kéo dài từ năm
này qua năm khác thì với báo mạng, chỉ cần một nháy chuột hoặc gõ cụm từ
cần tìm kiếm và ấn phím enter.
Tuy có nhiều lợi thế nhưng báo mạng điện tử cũng có không ít hạn chế.
Mặc dù báo điện tử có số trang không hạn chế nhưng việc tiếp xúc tin
của độc giả lại chỉ bó hẹp trong giao diện màn hình máy tính, vì thế, việc đọc
thông tin trên máy tính cũng dễ gây mỏi, nhức mắt.
Tốc độ thông tin nhanh chóng là một lợi thế nổi trội của báo điện tử
nhưng nó cũng đặt ra thách thức về độ tin cậy của thông tin. Do khối lượng
thông tin đăng tải lớn, yêu cầu về tính thời sự của thông tin cao nên thời gian
20
để kiểm định thông tin khá hạn chế. Vì thế, nhiều khi chất lượng thông tin
trên báo điện tử chưa được cao như mong đợi. Các lỗi về diễn đạt hoặc chính
tả trên báo mạng điện tử hơn so với báo in. Theo nghiên cứu của tác giả
Nguyễn Thu Giang, công chúng nhận định: mặc dù độ cập nhật tin tức của
báo mạng điện tử hơn nhiều so với báo in nhưng mức độ tin cậy của tin tức
trên báo mạng điện tử lại “kém nhiều” [10, 95].
Bên cạnh đó, không phải ai cũng có điều kiện trở thành công chúng
của báo mạng điện tử. Để đọc báo điện tử, cần có máy tính kết nối mạng
internet, người đọc cũng phải biết sử dụng máy tính cũng như cách truy cập
internet. Đây cũng là lý do báo mạng điện tử chủ yếu phủ sóng ở các khu đô
thị và trong giới trẻ. Khu vực nông thôn, miền núi vẫn là thị trường gần như
độc quyền của báo giấy, phát thanh và truyền hình.
1.1.5. Đặc điểm ngôn ngữ báo mạng điện tử
Theo Giáo sư Hoàng Phê, ngôn ngữ là “hệ thống những âm, từ và
những quy tác kết hợp chúng, làm phương tiện để giao tiếp chung trong một
cộng đồng”, đồng thời cũng là “hệ thống ký hiệu dùng làm phương tiện để
diễn đạt, thông báo” [29, 885].
Như vậy, có thể thấy ngôn ngữ là một khái niệm khá rộng và được hiểu
do phông chữ trên báo điện tử được sử dụng đồng nhất.
Để phát huy được tính tương tác, các tác phẩm báo chí đăng tải trên báo
mạng điện tử thường có kết cấu mở. Yếu tố mở được thể hiện khá đa dạng, đó
là những cửa sổ thông tin đánh giá, phản hồi đặt ngay dưới từng bài báo để
công chúng có thể gửi ý kiến, là những chuyên trang dành riêng để đăng tải
thông tin độc giả gửi đến… Kết cấu mở còn thể hiện ở khả năng siêu liên kết
22
được gắn với từng từ hay cụm từ trong các bài báo, các đường dẫn đưa tới các
bài báo đã đăng tải trước đó có nội dung liên quan hoặc các chỉ dẫn “trở về”,
“xem tiếp” hay “chi tiết” để kéo người đọc tới các trang báo khác.
Đặc điểm tiếp theo của ngôn ngữ báo mạng điện tử là tính ngắn gọn, cô
đọng, súc tích trong chuyển tải thông tin. Do đặc thù đọc thông tin trên máy
tính dễ mỏi mắt, đối tượng công chúng lại là lực lượng trẻ, là những người
thường xuyên bận rộn, đọc lướt nhiều hơn là đọc toàn bộ tác phẩm nên ngắn
gọn là yêu cầu quan trọng của báo mạng điện tử. Thông thường, một tin chỉ ở
mức 200 đến 300 chữ, dung lượng một bài ở mức 700 đến 900 chữ. Đây cũng
là lý do các tác giả cuốn “Các thủ thuật làm báo điện tử” đã dành hẳn một bài
viết riêng “Giải pháp 10%” cho báo điện tử. Theo đó, nhà báo sau khi viết
xong nên đọc lại bản thảo của mình thì cố gắng cắt bớt từ ngữ thừa để “bản
thảo thứ 2 = bản thản thứ nhất – 10%” với tiêu chí “mất vài chữ, thêm nhiều
người đọc” [38, 49 – 50].
Do yêu cầu cô đọng của dung lượng nên câu từ báo điệu tử đặc biệt đơn
giản. Ngôn ngữ thông báo chiếm vai trò chủ đạo. Một câu không quá dài,
dùng ở thể chủ động và nên chỉ có một kết cấu chủ ngữ - vị ngữ. Khác với
báo giấy, việc tách đoạn trong báo mạng điện tử được phát huy tối đa.
Thường một bài báo được tách làm rất nhiều đoạn nhỏ, mỗi đoạn chỉ 2 – 3
câu với dung lượng 3 – 4 dòng. Khoảng cách giữa các đoạn lớn. Việc tách
đoạn nhỏ và tạo khoảng trống giữa các đoạn giúp cho độc giả đọc đỡ mỏi mắt
và dễ tiếp thu thông tin hơn.
đóng vai trò là đường dẫn đến tin tham khảo thì hầu như chỉ có sự hiện diện
của tít bài, trong trường hợp là thông tin mới, nóng thì có thêm vài dòng
thông tin tóm tắt. Vì thế, khi lướt qua một danh mục tin tức, người đọc