1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*** NGUYỄN MAI LAN
VẤN ĐỀ SẢN XUẤT TIN VÀ PHÓNG SỰ
TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH ĐỐI NGOẠI VTV4
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Chuyên ngành Báo Chí học
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN
***
Bảng 1.1: Tỷ lệ tin tức trong tổng thời lượng phát sóng một ngày của kênh
truyền hình VTV1, HTV9 từ năm 2010-2012 26
Bảng 2.1: Tỷ lệ tin tức phù hợp mục đích tuyên truyền của VTV4 43
Bảng 2.2: Mức độ kịp thời của tin VTV4 45
Bảng 2.3: Nội dung thông tin của tin VTV4 47
Bảng 2.4: Nội dung thông tin công chúng người Việt Nam ở nước ngoài
quan tâm trong các bản tin VTV4 49
Bảng 2.5: Chất lượng hình ảnh trong tin tức VTV4 52
Bảng 2.6: Sở thích của khán giả VTV4 về giọng đọc tin 54
Bảng 2.7: Nội dung thông tin của phóng sự ngắn thời sự VTV4 58
Bảng 2.8: Tỷ lệ sử dụng tin, bài từ các nguồn trên thời sự VTV4 61
Bảng 3.1: Mức độ đáp ứng nhu cầu khán giả của tin, phóng sự VTV4 70
Bảng 3.2: Mức độ sử dụng đồ họa trong tin và phóng sự VTV4 71
Bảng 3.3: Đánh giá cách thể hiện của người dẫn tin tức của VTV4 73
Bảng 3.4: Tỷ lệ người xem các bản tin của VTV4 83
Bảng 3.5: Cách sắp xếp nội dung thông tin trong bản tin 0 giờ của VTV4 85
Bảng 3.6: Cách sắp xếp nội dung thông tin trong bản tin 0 giờ đề nghị 86
1
MỤC LỤC
Tiểu kết chƣơng 2 62
CHƢƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO VIỆC SẢN XUẤT TIN VÀ
PHÓNG SỰ CHO NGƢỜI VIỆT NAM Ở NƢỚC NGOÀI 64
3.1. Những vấn đề đặt ra từ thực trạng sản xuất tin và phóng sự của VTV4 64
3.1.1. Nội dung thông tin của VTV4 có độ chênh khá lớn so với nội dung
khán giả quan tâm. 64
3.1.2. VTV4 sử dụng lại nhiều tin và phóng sự từ các nguồn khác nên thông
tin chưa đáp ứng đúng nhu cầu của người Việt Nam ở nước ngoài 65
3.1.3. Cách thể hiện còn nhiều vấn đề chưa phù hợp với tâm lý tiếp nhận của
đối tượng người Việt Nam ở nước ngoài 67
3.1.4. Phóng sự quá ít, thể loại chưa rõ ràng. 71
3.2. Làm thế nào để có tin và phóng sự tốt cho ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài 71
3.2.1. Kỹ năng và tính chuyên nghiệp của đội ngũ phóng viên-biên tập viên. 72
3.2.2. Cần tạo môi trường thuận lợi để phát triển thể loại tin và phóng sự 73
3.2.3. Nghiên cứu về nhóm công chúng người Việt Nam ở nước ngoài 74
3.3. Tiêu chí cho tin, phóng sự truyền hình có chất lƣợng cho công chúng ngƣời
Việt Nam ở nƣớc ngoài. 75
3.3.1. Đáp ứng chức năng giáo dục tư tưởng 75
3.3.2. Đáp ứng nhu cầu thông tin thời sự 76
3.3.3. Cách thể hiện phù hợp tâm lý tiếp nhận của công chúng người Việt
Nam ở nước ngoài. 77
3.4. Thử đề xuất một kiểu làm mới cho bản tin thời sự 0 giờ cho cộng đồng
ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài tại Mỹ 78
Tiểu kết chƣơng 3 87
KẾT LUẬN 88
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
3
cung cấp cho người xem một cái nhìn tổng thể về sự kiện. Hai là, tin và phóng sự
4
thu hút sự quan tâm của khán giả, do phản ánh nhanh chóng, đầy đủ những sự kiện,
vấn đề của cuộc sống, đáp ứng nhu cầu nhận thức thời sự cập nhật của con người.
Ba là, với đặc trưng thể loại của mình, tin và phóng sự là hai “chiến sĩ” xung kích
trong việc thực hiện nhiệm vụ thông tin đối ngoại của VTV4, kịp thời tuyên truyền
những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và phản bác các thông tin sai
lệch, có hại cho đất nước. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, những sản phẩm tin và
phóng sự của VTV4 do nhiều nguyên nhân, cả về lý luận và thực tiễn, còn nhiều
điểm chưa đáp ứng đúng nhu cầu của người Việt Nam ở nước ngoài, khiến việc
thông tin tuyên truyền cho nhóm công chúng này bị hạn chế.
Về góc độ lý luận, số lượng công trình nghiên cứu của ngành Báo chí-
Truyền thông về thể loại phóng sự truyền hình, về đặc điểm và nhu cầu thông tin
của nhóm công chúng người Việt Nam ở nước ngoài chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Trong khi đó, thực tiễn sản xuất tin và phóng sự truyền hình trên kênh truyền hình
đối ngoại VTV4 đặt ra nhiều vấn đề như: đối tượng công chúng người Việt Nam ở
nước ngoài có đặc điểm gì, nhu cầu thông tin và thị hiếu hưởng thụ thông tin của họ
ra sao, môi trường chính trị và văn hóa bản địa ảnh hưởng đến việc tiếp nhận thông
tin như thế nào….Tất cả đòi hỏi mục tiêu và cách thức sản xuất chương trình truyền
hình nói chung và tin-phóng sự truyền hình nói riêng dành cho nhóm công chúng
này phải có những đặc thù. Các kết quả nghiên cứu của luận văn này, bước đầu như
một sự “thẩm định” hai thể loại quan trọng là tin và phóng sự của kênh truyền hình
đối ngoại VTV4, dựa trên nền tảng này để đánh giá, phân tích, đề nghị những cách
thức làm sao để công tác tuyên truyền cho người Việt Nam ở nước ngoài đạt hiệu
quả tốt nhất, thông qua tin và phóng sự truyền hình.
Từ gợi ý của Thầy hướng dẫn, cộng với kinh nghiệm bản thân trong quá trình
làm truyền hình, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Vấn đề sản xuất tin và phóng sự
truyền hình trên kênh truyền hình đối ngoại VTV4” (khảo sát Tin và Phóng sự trên
đề tài. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Hồng Hải (2005), Chương trình truyền hình
dành cho người Việt Nam ở nước ngoài, đã đánh giá về chất lượng của chương trình
truyền hình VTV4 một cách khá toàn diện. Tuy nhiên, luận văn đi sâu vào phân tích
về kết cấu các chương trình trên VTV4, nhiệm vụ thông tin đối ngọai của VTV4,
chứ chưa đề cập đến việc sản xuất tin và phóng sự trên VTV4. Luận văn Thạc sĩ
6
Báo chí học của Lý Thị Hải Yến (2011), Kênh VTV4, báo trực tuyến trong nước và
công chúng người Việt Nam ở nước ngoài [38], nghiên cứu về hoạt động giao tiếp
đại chúng của công chúng người Việt Nam ở nước ngoài qua kênh VTV4 và báo
trực tuyến trong nước, cung cấp số liệu, thông tin về sự quan tâm của công chúng
người Việt Nam ở Hàn quốc, Nga, Mỹ với các vấn đề trong nước được truyền tải
trên hai nguồn phát nêu trên. Khóa luận tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Báo chí
của Đào Huy Hoàng (2004), Nâng cao hiệu quả chương trình thời sự đối ngoại của
Đài truyền hình Việt Nam, đề cập đến các bản tin tiếng nước ngoài của VTV…cũng
đưa ra nhiều luận điểm về cách thức tổ chức hoạt động kênh truyền hình đối ngoại
VTV4.
Ngoài ra, còn một số tài liệu quý có nội dung liên quan đến vấn đề nghiên
cứu như: Cơ sở lý luận báo chí truyền thông của nhóm tác giả Đinh Hường, Dương
Xuân Sơn, Trần Quang; Đinh Văn Hường- Các thể loại thông tấn báo chí, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội; Vũ Quang Hào, Ngôn ngữ báo chí, Nxb Đại học Quốc gia,
Hà Nội, 2001;Vũ Quang Hào, Báo chí và đào tạo báo chí Thụy điển, Cơ quan hợp
tác phát triển, Bộ Văn hoá Thông tin, 2004; Trần Hữu Quang - Chân dung công
chúng truyền thông, Nxb Thông tấn 2007….
Những tài liệu vừa nêu trên đã giúp chúng tôi có cái nhìn tổng quan hữu ích
về tin và phóng sự truyền hình nói chung, giúp chúng tôi có phương hướng để kế
thừa và khai thác đề tài theo thực tế và quan điểm riêng của mình. Tuy nhiên, đến
nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề sản xuất tin và phóng sự
truyền hình bằng tiếng Việt trên VTV4.
vấn đề lý luận chung về tin và phóng sự truyền hình, về thông tin đối ngọai cho người
Việt Nam ở nước ngoài. Đây chính là những lý thuyết cơ sở cho việc đánh giá các kết
quả khảo sát thực tế và tìm kiếm những giải pháp cho vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích nội dung: Được sử dụng đối với tin và phóng sự được
chọn lựa trên VTV4 trong thời gian từ tháng 5/2012 đến tháng 10/1012. Người viết
đã sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, để chọn ra phân tích 1260
tin, 71 phóng sự (bao gồm 38 phóng sự có mũ chương trình riêng, 33 phóng sự
trong các chương trình tổng hợp) và nhiều phóng sự ngắn trong chương trình thời
sự VTV4.
8
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (an-két): Phương pháp điều tra bằng
bảng hỏi nhằm thu thập những ý kiến của khán giả người Việt Nam ở nước ngoài
về việc tin và phóng sự trên VTV4 đáp ứng nhu cầu thông tin của họ như thế nào.
Do điều kiện khó khăn về vị trí địa lý nên chúng tôi tiến hành điều tra qua thư điện
tử. Dung lượng mẫu là 300, số phiếu trả lời chúng tôi nhận được là 239 phiếu, mẫu
được lựa chọn ở các châu lục có đông người Việt Nam sinh sống. Phân bố theo địa
bàn cư trú là: châu Mỹ có 42%, châu Âu có 28%, châu Á 7,5%, châu Úc có 8,4%.
Mẫu theo giới tính là: nam: 49%, nữ: 51%. Mẫu theo độ tuổi, dưới 22 tuổi có 2%,
từ 22 đến 50 tuổi có 72%, trên 50 tuổi có 26%. Mẫu theo nơi sinh: sinh ở Việt Nam
chiếm 66%, sinh ở nước ngoài 26%. Mẫu theo trình độ: phổ thông chiếm 42%, đại
học là 36% và trên đại học 22%.
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Được tiến hành với 2 nhóm đối tượng. Một là, lãnh đạo và phóng viên Phòng Thời
sự VTV4. Hai là, các phóng viên, biên tập viên có kinh nghiệm của một số đài truyền
hình trong nước về sản xuất tin và phóng sự truyền hình.
6. Đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn
Trong tình hình còn thiếu những khảo sát, nghiên cứu có hệ thống về các vấn
đề liên quan đến tin và phóng sự truyền hình nói chung, người viết mong muốn có
Việt Nam ở nước ngòai: chương này nêu rõ những vấn đề đặt ra từ thực trạng sản
xuất tin và phóng sự của VTV4 hiện nay, từ đó giải quyết vấn đề làm thế nào để có
tin và phóng sự tốt cho người Việt Nam ở nước ngòai, đưa ra tiêu chí cho tin, phóng
sự truyền hình có chất lượng cho công chúng người Việt Nam ở nước ngòai; sau
cùng là đề xuất một kiểu làm mới cho bản tin thời sự 0 giờ cho cộng đồng người
Việt Nam tại Mỹ. 10
CHƢƠNG 1
KÊNH VTV4 VÀ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI
CHO NGƢỜI VIỆT NAM Ở NƢỚC NGOÀI
1.1. VTV4 và hoạt động thông tin đối ngọai
1.1.1. Một số vấn đề về thông tin đối ngọai
1.1.1.1. Khái niệm thông tin đối ngọai
Ngày nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng, chúng ta thường thấy
xuất hiện các thuật ngữ như “thông tin đối ngọai”, “công tác thông tin đối ngọai”,
“thông tin đối ngọai cho người Việt Nam ở nước ngoài ”…Tuy nhiên, cho đến nay,
vẫn chưa có khái niệm thống nhất về thông tin đối ngọai.
Nếu xét về mặt ngôn ngữ, thông tin là “truyền tin, đưa tin báo nhau biết” [37,
tr.1587], đối ngoại là “(chủ trương, chính sách về quan hệ mang tính quốc gia) đối
với nước khác” [37, tr 658]. Từ đó ta có thể hiểu thông tin đối ngọai là những tin
tức, thông báo về một sự vật hiện tượng được chọn lựa và sử dụng để truyền tải
thông điệp ra bên ngoài lãnh thổ một quốc gia nhằm mục đích cung cấp thông tin
chính thống, nâng cao hình ảnh quốc gia.
Theo website Từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia phiên bản tiếng Việt
nhấn mạnh về yếu tố thực tiễn của thông tin đối ngọai khi đưa ra khái niệm: “Thông
thông tin đối ngọai đã đặt nền tảng cho sự phát triển của công tác thông tin đối
ngọai trong thời kỳ đổi mới. Trên cơ sở đó, công tác thông tin đối ngọai ngày càng
xác định rõ ràng về nội dung thông tin, đối tượng thông tin và lực lượng thông tin.
Nội dung cơ bản của của thông tin: thông tin về chủ trương đường lối, chính
sách của Đảng, Nhà nước, những thành tựu trong công cuộc đổi mới của Việt Nam;
quảng bá hình ảnh, đất nước, con người, lịch sử, văn hoá Việt Nam và những thành
tựu đổi mới của Việt Nam ra thế giới; đấu tranh với những thông tin sai lệch về Việt
Nam, bảo vệ chủ quyền quốc gia và tăng cường thông tin quốc tế cho nhân dân.
12
Đối tượng thông tin đối ngọai có thể chia làm 4 nhóm, bao gồm: nhân dân,
chính phủ các nước trên thế giới; người nước ngoài ở Việt Nam; cộng đồng người
Việt Nam ở nước ngoài và nhân dân trong nước. Trong đó, đối tượng cộng đồng
người Việt Nam ở nước ngoài với số lượng hơn 4,5 triệu người, sống tại những địa
bàn khác nhau, nhưng vẫn giữ sợi dây liên hệ với quê hương, mong muốn đất nước
phát triển phồn vinh, là đối tượng quan trọng của công tác thông tin đối ngoại. Nghị
quyết 36/NQ-TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị đã xác định: “Người Việt Nam
ở nước ngoài bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc
Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị
giữa nước ta với các nước”.
Lực lượng thông tin đối ngoại: Đảng và Nhà nước khẳng định thực hiện
thông tin đối ngọai là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trong đó có các phương
tiện truyền thông đại chúng là lực lượng chủ yếu, nòng cốt. Truyền hình, với khả
năng truyền tải thông tin bằng ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh sinh động, hấp dẫn,
có thể vượt qua rào cản của ngôn ngữ, của biên giới quốc gia, luôn có sức hấp dẫn
lớn với công chúng. Nhìn rõ vai trò của truyền hình trong thông tin đối ngọai, trong
chỉ thị 11, Đảng xác định cần “Nâng cao chất lượng chương trình truyền hình của
Đài Truyền hình Việt Nam, mở rộng việc trao đổi chương trình và hợp tác với đài
truyền hình các nước” [1], xem đây là một trong các giải pháp để nâng cao hiệu quả
Hiện nay, kênh truyền hình đối ngọai VTV4 của Đài truyền hình Việt Nam
phát sóng 24/24 giờ mỗi ngày, phủ sóng hầu hết các khu vực có kiều bào ta sinh
sống ở châu Á, châu Âu, châu Phi, khu vực Bắc Mỹ-Canada và một phần tây bắc
Australia. Đài truyền hình Việt Nam đã đưa VTV4 vào hệ thống truyền hình cáp và
qua internet thông qua phương thức chuyển nhượng bản quyền VTV4, giúp người
xem trên toàn cầu có thể theo dõi chương trình VTV4. Riêng tại Mỹ, từ ngày
1/8/2012, kênh VTV4 được quảng bá với thương hiệu VTV America, được phát
sóng trên 3 kênh của Đài truyền hình Mhz Networks có trụ sở tại Falls Church,
Virginia, Hoa Kỳ. Thỏa thuận mới này giúp khán giả xem truyền hình tại Thủ đô
Washington D.C và các vùng phụ cận tại Maryland, Virginia có thể xem được toàn
bộ chương trình của VTV4 trên hệ thống truyền hình số mặt đất tại kênh 30.11. Trả
lời phỏng vấn đăng trên VnEconomy ngày 1-8-2012, ông Bạch Ngọc Chiến,
14
Trưởng ban Truyền hình Đối ngoại VTV4 cho biết "Với thỏa thuận này, VTV4 sẽ
đến được với hàng chục triệu gia đình Mỹ và người Việt và đây là bước khởi đầu
cho sự hợp tác giữa VTV và Mhz Networks trong việc cung cấp dịch vụ truyền hình
tới khán giả trên các nền tảng kỹ thuật số, băng thông rộng, hình ảnh theo yêu cầu
(video on demand) và các ứng dụng cho các thiết bị cầm tay như máy tính bảng và
điện thoại di động".
Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, VTV4 luôn xác định rõ
chức năng, nhiệm vụ của mình là một kênh truyền hình chuyên về thông tin đối
ngoại. Qua nghiên cứu và khảo sát thực tiễn, chúng tôi xác định VTV4 có các vai
trò, nhiệm vụ sau:
* VTV4 có vai trò lớn trong việc tuyên truyền chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước đến với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Phát sóng đến
hầu hết các khu vực có người Việt Nam sinh sống trên thế giới, VTV4 đã đáp ứng
một phần quan trọng nhu cầu thông tin về đất nước cho cộng đồng người Việt Nam
ở nước ngoài. Những hình ảnh, thông tin cập nhật về tình hình mọi mặt của đất
nhân dân thế giới với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
* VTV4 giúp người Việt Nam ở nước ngoài giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc. Các chương trình giới thiệu về văn hoá, lễ hội, phong tục tập quán,
nghệ thuật…chiếm một thời lượng khá lớn trên VTV4, vừa đáp ứng nhu cầu giải trí,
vừa giúp kiều bào hiểu biết và tự hào về truyền thống văn hóa dân tộc. Đặc biệt,
với phần lớn các tiết mục được phát sóng bằng tiếng Việt, VTV4 là một phương
tiện quan trọng giúp người Việt Nam ở nước ngoài học tiếng Việt, giữ gìn và phát
huy tiếng mẹ đẻ.
Trong quá trình hội nhập quốc tế và phát triển đất nước hiện nay, thông tin
đối ngọai phát huy tác dụng quan trọng của mình trong việc làm cho thế giới và
cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiểu rõ, hiểu đúng về Việt Nam, từ đó ủng
hộ và góp phần vào cộng cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Đài truyền hình Việt
Nam, đặc biệt là kênh truyền hình đối ngọai VTV4, là một trong những lực lượng
giữ vai trò nòng cốt trong công tác thông tin đối ngọai. Việc phát sóng chương
trình truyền hình quốc gia bằng tiếng Việt ra nước ngoài là một tín hiệu vui mừng
với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, điều này cũng khẳng định sự quan
16
tâm và chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước của với công tác thông tin đối
ngọai.
1.2. Ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài- nhóm công chúng mục tiêu của VTV4
1.2.1. Quá trình hình thành cộng đồng ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài
Với hơn 4 triệu người ở nước ngoài, Việt Nam là một trong những quốc gia
có số kiều dân đông trên thế giới. Quá trình hình thành cộng đồng người Việt Nam
ở nước ngoài gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước và của thế
giới.
Lịch sử ghi rõ là vào đầu thế kỷ thứ XII, con vua Lý Anh Tông là Lý Anh
Tường đã sang Cao Ly (Triều Tiên) tỵ nạn. Trải qua nhiều thế kỷ, số người Việt
Nam đến làm ăn, sinh sống tại các nước có gia tăng, nhưng rất chậm, cho đến thời
Hàn quốc:75 nghìn, Nhật Bản: 31 nghìn, Đài Loan 200 nghìn…) và châu Đại
Dương 255 nghìn người” ”[32, tr.92].
Người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng ổn định cuộc sống và hòa nhập xã hội nơi
cư trú, một số có vị trí nhất định trong đời sống kinh tế chính trị-xã hội ở nước sở
tại. Do hòan cảnh và điều kiện di cư khác nhau nên cộng đồng Người Việt Nam ở
nước ngoài đa dạng về tầng lớp xã hội, nghề nghiệp, tôn giáo và đặc biệt là họ chịu
ảnh hưởng của các xu hướng chính trị khác nhau.
Những số liệu trên cho chúng ta thấy được sự phức tạp của quá trình hình
thành cộng đồng Người Việt Nam ở nước ngoài. Chính sự phức tạp ấy đã góp phần
tạo nên tính đa dạng và những đặc thù của cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài.
1.2.2. Nhóm công chúng mục tiêu của VTV4
Với tác giả Trần Hữu Quang, “công chúng là một tập hợp xã hội được cấu
thành một cách phức tạp bởi nhiều giới, nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, và mỗi
người đều đang sống trong những mạng lưới xã hội nhất định và những mối quan hệ
xã hội nhất định” [29, tr.267]. Ở đây, chúng tôi hiểu “công chúng” là đối tượng của
các phương tiện truyền thông đại chúng. Mỗi kênh thông tin đại chúng khi xây dựng
chương trình phải xác định công chúng của mình. Để quá trình thông tin đạt hiệu
quả, mỗi kênh chỉ có thể hướng tới một hoặc một số nhóm công chúng đặc thù, chứ
không phải toàn bộ công chúng.
18
VTV4 là kênh truyền hình đối ngọai của Đài truyền hình Việt Nam, có đối
tượng thông tin gồm 4 nhóm, như đã trình bày tại mục 1.1.1.2. Trong đó, người
Việt Nam ở nước ngoài được xem như nhóm công chúng mục tiêu. Ngay từ khi
thành lập cho đến nay, VTV4 luôn đặt ra mục tiêu hướng tới nhóm công chúng
người Việt Nam ở nước ngoài. Điều này được thể hiện trong các chủ trương, chính
sách của Đảng cũng như trong nhiệm vụ của VTV4. Nghị quyết 36 của Bộ Chính
trị nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ và toàn diện công tác thông tin, tuyên truyền, giúp
người về đầu tư, kinh doanh. Hiện có trên 3500 doanh nghiệp trong nước có vốn
góp của kiều bào. Kiều hối gửi về nước tăng trung bình 10-15%/năm, năm 2009 đạt
trên 9 tỷ USD, chiếm gần 1/10 GDP, đưa Việt Nam trở thành một trong số 10 quốc
gia nhận kiều hối nhiều nhất. Trong 6 tháng đầu năm 2012, nguồn kiều hối đạt
khoảng 6,4 tỷ USD, đóng góp quan trọng vào việc ổn định cán cân thanh toán và
kinh tế của đất nước. Mỗi năm có hàng trăm chuyên gia trì thức kiều bào về nước
hợp tác với các trường đại học, các viện nghiên cứu trong nước. Các hội đoàn người
Việt Nam ở nước ngoài tham gia tích cực vào các hoạt động mang tính nhân đạo,
trợ giúp đồng bào trong nước.
Tiềm lực kinh tế của cộng đồng người Việt Nam so với các cộng đồng kiều
dân các nước trên thế giới không phải là lớn. Dù được coi là thành đạt nhanh ở Mỹ
và phương Tây, thu nhập bình quân đầu người của kiều bào vẫn thấp so với mức
bình quân của người bản xứ. Trong cộng đồng không có nhà tài phiệt về tài chính
và ngân hàng, đa số có mức vốn vừa và nhỏ, chủ yếu nhờ quá trình tích lũy qua quá
trình làm công hoặc kinh doanh nhỏ. Theo thống kê, hiện chỉ có khoảng 55% người
Việt có cuộc sống ổn định, nhiều người ở Mỹ và Tây Âu vẫn phải sống nhờ vào trợ
cấp xã hội.
Tiềm năng kinh tế không cao, nhưng tiềm lực chất xám, trí tuệ của người
Việt Nam ở nước ngoài lại khá lớn, nhất là ở phương Tây, Nga, Đông Âu. Hiện
ước tính trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có khoảng 300.000 người
được đào tạo ở trình độ đại học, trên đại học và công nhân kỹ thuật bậc cao, có kiến
thức cập nhật về văn hoá, khoa học và công nghệ, về quản lý kinh tế.
* Từ quá trình hình thành và đặc điểm của cộng đồng, chúng tôi xếp người
Việt Nam ở nước ngoài thành những nhóm sau:
20
Nhóm thứ nhất là những người Việt sống xa Tổ quốc trước năm 1975. Đây là
số người ra đi trong hòan cảnh lịch sử của đất nước có chiến tranh hoặc vì lý do
hòan cảnh kinh tế của từng cá nhân, gia đình. Số người này sống chủ yếu ở các
với nước sở tại, có trình độ học vấn trung bình và tiềm lực kinh tế không cao, giữ
thái độ gắn bó với đất nước.
Chia thành nhiều tiểu nhóm và có đặc điểm, thái độ chính trị và nhu cầu
thông tin khác nhau chính là đặc điểm lớn nhất cần phải được nghiên cứu về cộng
đồng người Việt Nam ở nước ngoài với tư cách là nhóm công chúng đặc biệt của
VTV4. Bởi vì, chính đặc điểm này quy định thái độ và tâm lý tiếp nhận chương
trình của từng nhóm công chúng. Điều này thể hiện ra ở chỗ những kiều bào mong
muốn đóng góp công sức xây dựng quê hương luôn quan tâm theo dõi, tìm hiểu
thông tin về tình hình đất nước qua các chương trình của VTV4, tiếp nhận thông tin
với thái độ khách quan. Còn những người có tư tưởng hận thù dân tộc, giữ mặc cảm
quá khứ thì có thái độ hoài nghi, ngờ vực, tẩy chay thậm chí xuyên tạc những thông
tin từ trong nước đưa ra.
Qua những phân tích trên, có thể thấy người Việt Nam ở nước ngoài là đối
tượng quan trọng của công tác thông tin đối ngọai. Với hơn 4 triệu người, không
sống trong lãnh thổ Việt Nam, có những đặc điểm khác nhau về thành phần, học
vấn, điều kiện kinh tế, quan điểm chính trị…người Việt Nam ở nước ngoài là nhóm
công chúng đặc biệt của VTV4. Việc nghiên cứu những đặc điểm cơ bản, tâm lý tiếp
nhận thông tin của nhóm công chúng này là cơ sở khách quan, khoa học để những
các nhà quản lý, những người làm truyền hình có thể xây dựng những tiêu chí phù
hợp nhằm không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả của chương trình truyền
hình dành cho người Việt Nam ở nước ngoài.
1.3. Tin và phóng sự trong chƣơng trình VTV4
1.3.1. Tầm quan trọng của tin và phóng sự trong chƣơng trình VTV4
Chương trình truyền hình của VTV4 có nhiều thể loại phong phú, từng thể
loại có những đặc điểm riêng biệt, hoà chung vào một tổng thể thống nhất tạo nên
sự hấp dẫn cho VTV4. Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chọn
nghiên cứu tập trung về tin và phóng sự, bởi hai thể loại này có tầm quan trọng đặc
biệt trong chương trình VTV4. Tầm quan trọng đó là do:
22