ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA BÁO CHÍ
oOo
Nguyễn Xuân Đức
VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ NGÀNH GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
(Khảo sát trên Báo Giáo dục & Thời đại, Tạp chí Giáo dục, mạng giáo
dục Edu.Net từ năm 2001-2005) Chuyên ngành: Báo chí
Mã số: 60.32.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Đăng Thao TP.HỒ CHÍ MINH – 2006
CHƢƠNG HAI: VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ NGÀNH GD&ĐT – NHỮNG
THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ
I. Vai trò của báo chí ngành giáo dục trong sự nghiệp đổi mới giáo dục 49
1. Khắc họa bức tranh tổng thể về sự nghiệp GD&ĐT Việt Nam 49
2. Góp phần giáo dục tƣ tƣởng, nâng cao dân trí, phát hiện và bồi
dƣỡng nhân tài 57
3. Phát hiện những yếu kém tồn tại trong hoạt động giáo dục 62
4. Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lƣợng, hiệu quả GD&ĐT 68
5. Cung cấp thông tin giáo dục các nƣớc trên thế giới 73
II. Những hạn chế của báo chí ngành GD&ĐT 79
2.1 Về nội dung 79
2.2 Về hình thức 84
2.3 Về hiệu quả tuyên truyền 88
2.4 Nguyên nhân của những hạn chế 92
CHƢƠNG BA: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG, HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN CỦA BÁO CHÍ NGÀNH
GD&ĐT
I. Đổi mới nội dung, hình thức các ấn phẩm báo chí ngành GD&ĐT 98
Về nội dung 98
Về hình thức 109
Về công tác phát hành, quảng cáo 114
II. Đầu tƣ cho yêu cầu làm báo hiện đại 120
1. Về đội ngũ 120
2. Cơ sở vật chất 124
3. Bộ máy tòa soạn 126
III. Cần có chính sách thỏa đáng cho báo chí của ngành 131
quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nƣớc, tổ chức xã hội; là
diễn đàn của nhân dân”. [1, 19]
Nhờ có công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xƣớng và lãnh đạo, báo
chí Việt Nam trong những năm qua đã có bƣớc tiến nhảy vọt về chất lƣợng
và số lƣợng. Từ vài chục cơ quan báo chí trong ngày đầu giành chính
2
quyền, đến nay cả nƣớc đã có “trên 500 cơ quan báo chí với gần 700 ấn
phẩm báo chí, 02 đài phát thanh và truyền hình quốc gia, hơn chục đài phát
thanh và truyền hình khu vực, 64 đài phát thanh, truyền hình ở các tỉnh,
thành phố. Số lƣợng báo chí điện tử phát triển mạnh mẽ cùng với các nhà
cung cấp dịch vụ Internet tạo nên một mạng thông tin báo chí điện tử sôi
động có sức thu hút hàng triệu lƣợt ngƣời truy cập hàng ngày. Đội ngũ
những ngƣời làm báo phát triển nhanh chóng, từ 300 ngƣời trong kháng
chiến chống Pháp lên hơn 15.000 hội viên nhà báo hiện nay, chƣa kể hàng
nghìn ngƣời mới tham gia đội ngũ báo chí nhƣng chƣa đủ điều kiện gia
nhập Hội nhà báo Việt Nam ”.[2, 44].
Trong những năm qua, báo chí nƣớc ta đã tập trung tuyên truyền một
cách có hiệu quả nhiều sự kiện quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế
xã hội của đất nƣớc, trong đó nổi bật nhất là họat động tuyên truyền về sự
nghiệp đổi mới do Đảng khởi xƣớng và lãnh đạo. Công cuộc đổi mới nếu
tính từ cột mốc Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986), đến nay đã trải qua 20
năm. Khác với 20 năm trƣớc, khi công cuộc đổi mới khởi đầu nhƣ một sự
bung ra, phá bỏ các trói buộc, rào cản phi lý để trở về với những quy luật
tất yếu của kinh tế thị trƣờng, nhờ đó sản xuất phục hồi và phát triển, kinh
tế khởi sắc, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân đƣợc nâng cao.
Trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay, sự khác biệt và chênh lệch lớn
giữa các nền kinh tế là trí tuệ và thông tin. Năng lực cạnh tranh đƣợc quyết
định chủ yếu bởi trí tuệ chứ không phải cơ bắp. Do vậy sự lựa chọn đầu
tiên của các quốc gia trong quá trình phát triển vẫn là giáo dục đào tạo và
khoa học công nghệ. Ở ta, giáo dục đào tạo hiện đang là vấn đề thu hút sự
4
Qua nghiên cứu này, hi vọng từ đây luận văn sẽ có một phần đóng
góp vào việc nâng cao chất lƣợng, hiệu quả tuyên truyền của báo chí ngành
GD&ĐT trong thời kỳ đổi mới. Đồng thời, từ đây cũng sẽ là căn cứ giúp
cho lãnh đạo các cơ quan báo ngành và lãnh đạo Bộ GD&ĐT tham khảo
nhằm đƣa ra hƣớng đổi mới toàn diện hệ thống báo chí của ngành, xây
dựng báo chí ngành GD&ĐT trở thành tập đoàn báo chí hiện đại, góp phần
quan trọng thực hiện thắng lợi mục tiêu “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dƣỡng nhân tài”.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn.
Hi vọng luận văn này sẽ có ít nhiều đóng góp cho lý luận báo chí
chuyên ngành - một loại hình báo chí đặc thù của Việt Nam, những kết quả
nghiên cứu bƣớc đầu và những đề xuất của luận văn sẽ giúp ích phần nào
cho những ngƣời trực tiếp tham gia tổ chức nội dung, hình thức các ấn
phẩm báo chí ngành GD&ĐT.
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tƣ liệu có hệ thống, có cơ
sở khoa học cho những ai quan tâm đến hoạt động báo chí của ngành
GD&ĐT. Luận văn có thể dùng làm nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà
hoạch định chính sách, các cấp quản lý giáo dục quan tâm đến công tác
truyền thông của ngành, đồng thời là nguồn tƣ liệu tham khảo hữu ích cho
đội ngũ những ngƣời làm báo giáo dục.
Hoạt động thực tiễn của báo chí ngành GD&ĐT trong những năm
qua cho thấy bên cạnh những thành tựu đạt đƣợc, vẫn còn không ít hạn chế.
Một trong những hạn chế dễ nhận diện là quy mô, tính chuyên nghiệp và
hiện đại của báo chí ngành giáo dục chƣa phát triển tƣơng xứng với vị thế
của lĩnh vực mang tầm “quốc sách hàng đầu”. Đội ngũ phóng viên, biên tập
viên phần lớn xuất thân từ nhà giáo hoặc tốt nghiệp các trƣờng sƣ phạm, ít
5
đƣợc đào tạo báo chí chuyên nghiệp, phần lớn làm việc theo kinh nghiệm
trong việc cung cấp kiến thức về lĩnh vực giáo dục & đào tạo (từ bậc học
mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đến đại học…),
nhấn mạnh vai trò cầu nối của báo chí ngành giáo dục nhƣ một diễn đàn
rộng rãi cho giáo viên và các nhà quản lý giáo dục trao đổi, chia sẻ và hiến
kế chấn hƣng sự nghiệp giáo dục nƣớc nhà, đặc biệt là sự cổ vũ của báo chí
giáo dục trong việc phát hiện và nhân rộng những mô hình mới, điển hình
tiên tiến, phát hiện đào tạo và bồi dƣỡng nhân tài…
Ngoài ra, luận văn cũng đi sâu phân tích những yếu kém, tồn tại của
báo chí ngành giáo dục, những thay đổi chậm chạp trong cách thức tuyên
truyền, nội dung và hình thức các ấn phẩm, sự nghèo nàn thông tin về kinh
tế chính trị và các lĩnh vực khác, đặc biệt là “tính chiến đấu” của báo chí
giáo dục chƣa cao. Trên các báo ngành, phần lớn vẫn là các bài viết minh
họa chủ trƣơng của ngành, ít có những bài viết hay, có tính phản biện hoặc
đề xuất những giải pháp cụ thể về những vấn đề đặt ra của giáo dục nói
riêng, kinh tế xã hội nói chung, thông tin chậm cập nhật và hình thức thể
hiện thiếu hấp dẫn…
Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu các quan điểm chỉ đạo của Đảng và nhà nƣớc, của
ngành về đổi mới giáo dục đào tạo, đổi mới họat động báo chí trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc đổi mới giáo dục đào tạo và việc
đổi mới hệ thống báo chí của ngành giáo dục.
- Thu thập tài liệu, nghiên cứu phân tích các bài viết, khảo sát thực
tế họat động báo chí của các cơ quan báo chí trực thuộc ngành
GD&ĐT quản lý.
7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là hệ thống các cơ quan báo chí
ngành giáo dục đào tạo, bao gồm Báo Giáo dục & Thời đại, Tạp chí Giáo
và khai trƣơng Văn phòng đại diện tại Đà Nẵng, Cần Thơ.
- Tạp chí Giáo dục đƣợc tổ chức sắp xếp lại trên cơ sở sáp nhập Tạp
chí Nghiên cứu Giáo dục và Tạp chí Đại học & giáo dục chuyên
nghiệp theo chủ trƣơng của Chính phủ. 2001 là năm chính thức ra
mắt Tạp chí Giáo dục bộ mới.
- Mạng giáo dục Edu.Net (Education Network - cổng thông tin điện
tử Bộ GD&ĐT) chính thức đƣợc lãnh đạo Bộ GD&ĐT bấm nút khai
trƣơng với các địa chỉ truy cập: www.edu.net.vn và
www.moet.gov.vn. Cổng thông tin do Trung tâm Tin học thiết kế và
xây dựng với sự hỗ trợ tác nghiệp từ các vụ, các đơn vị trực thuộc Bộ
với mục tiêu tin học hóa hoạt động hành chính tại Bộ GD&ĐT tiến
tới chính phủ điện tử…
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Luận văn đƣợc hình thành dựa trên cơ sở những quan điểm, hệ
thống lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về công tác
báo chí, giáo dục & đào tạo, những chủ trƣơng, nghị quyết của Đảng và
Nhà nƣớc cũng nhƣ quan điểm chỉ đạo của các cấp quản lý về các lĩnh vực
trên. Luận văn sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu phân tích, thống kê, khảo
sát thực tiễn và thăm dò dƣ luận xã hội thông qua hình thức trao đổi và
phỏng vấn. Công tác thu thập tài liệu đƣợc thực hiện dƣới dạng ghi chép,
thống kê, quan sát trực tiếp, cập nhật số liệu qua báo chí, qua các website
và các hội nghị, hội thảo khoa học.
9
Sử dụng phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu, trong
đó chủ yếu thực hiện bằng phƣơng pháp quy nạp có kết hợp phƣơng pháp
loại suy để rút ngắn thời gian nghiên cứu mà vẫn đảm bảo tính logic và
khoa học.
Ngoài ra, luận văn còn kế thừa những thành quả nghiên cứu của
một số khóa luận tốt nghiệp và luận văn đã có trƣớc đây về hoạt động của
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chƣơng và danh
mục tài liệu tham khảo.
Chƣơng I: Báo chí ngành Giáo dục & Đào tạo trong thời kỳ đổi mới.
Chƣơng II: Vai trò của báo chí ngành GD&ĐT - Những thành tựu và hạn
chế.
Chƣơng III: Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng, hiệu quả tuyên
truyền của báo chí ngành GD&ĐT.
11
CHƢƠNG MỘT
BÁO CHÍ CỦA NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
I. CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƢỚC VÀ ĐỔI MỚI SỰ
NGHIỆP GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
1. Công cuộc đổi mới đất nƣớc.
Đổi mới – Một quyết sách sáng tạo, hợp quy luật phát triển.
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xƣớng và lãnh đạo, nếu kể từ
Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986), đến nay đã trải qua 20 năm. 20 năm
đổi mới có thể đƣợc nhìn nhận là 20 năm phấn đấu của toàn thể dân tộc ta
trên những chặng đƣờng quanh co, gian khổ thậm chí chƣa có tiền lệ để
thực hiện các quyền tự do, dân chủ, thực hiện điều mà bác Hồ đã từng ấp ủ.
Công cuộc đổi mới từ khoán 10 trong nông nghiệp, xé rào trong
doanh nghiệp nhà nƣớc, bỏ “ngăn sông cấm chợ” trong thƣơng nghiệp, bỏ
kiện chính thức của Đảng rằng: “Đổi mới là yêu cầu bức thiết của sự
nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn. Đổi mới phải giữ vững
mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đổi mới không phải là xa rời
chủ nghĩa Mác-Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh mà là nhận thức đúng, vận
dụng sáng tạo và phát triển học thuyết, tƣ tƣởng đó, lấy đó làm nền tảng tƣ
tƣởng và kim chỉ nam cho hành động của đảng, làm cơ sở phƣơng pháp
luận quan trọng nhất để phân tích tình hình, hoạch định và hoàn thiện
đƣờng lối đổi mới” [4, 35].
13
Đổi mới là từ bỏ cách nghĩ và cách làm cũ, tìm ra cách nghĩ và cách
làm mới, là từ bỏ lối quản lý quan liêu, bao cấp, bảo thủ, trì trệ, tìm ra cơ
chế quản lý mới hƣớng tới sự phát triển… Đổi mới là nhìn thẳng vào sự
thật, đánh giá đúng sự thật, tìm ra nguyên nhân các sai lầm, khuyết điểm để
sửa chữa…Đổi mới không phải là phủ định thành tựu và cách làm trƣớc
đây, mà là khẳng định những gì đã hiểu đúng, làm đúng, loại bỏ những gì
hiểu sai, làm sai, hoặc những gì trƣớc kia đúng, nhƣng nay không còn phù
hợp, bổ sung nhận thức mới và cách làm mới, đƣa đất nƣớc phát triển toàn
diện trong giai đoạn mới.”. [5, sđd].
Trƣớc sau nhƣ một, Đảng ta khẳng định rằng đổi mới xuất phát từ lợi
ích của đất nƣớc và của nhân dân. “Đổi mới là một phong trào cách mạng
có tính quần chúng rộng rãi, trong đó nhân dân vừa là ngƣời sáng tạo, vừa
là chủ thể thực hiện”. [6, sđd].
Đại hội lần thứ VI của Đảng (tháng 10.1986) đánh dấu một bƣớc
ngoặt rất cơ bản trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nƣớc ta với việc đƣa ra
đƣờng lối đổi mới toàn diện đất nƣớc – từ đổi mới tƣ duy đến đổi mới tổ
chức, từ đổi mới kinh tế đến đổi mới hệ thống chính trị và các lĩnh vực
khác. Đại hội đƣa ra phƣơng châm: “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá sự
thật, nói rõ sự thật”. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng
(tháng 4.1991) là một bƣớc phát triển đặc biệt quan trọng của quá trình đổi
mới, với việc thông qua “Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ quá
vụ “động trời”, mang tầm lịch sử - thời đại. Với lợi thế của một nƣớc nghèo
(chi phí nhân công rẻ, môi trƣờng đầu tƣ hấp dẫn, nguồn lao động dồi
dào….) chúng ta có thể “đi tắt đón đầu” nhƣ cách thức mà Singapore hay
15
Hàn Quốc đang thực hiện, có nhƣ vậy mới có thể tiếp kịp các nƣớc phát
triển trong khu vực.
Kết quả đổi mới – Nhìn từ đỉnh cao 2001-2005.
Giai đoạn 2001-2005 đƣợc xem là đỉnh cao của tiến trình đổi mới,
mặc dù trong giai đoạn này đất nƣớc phải đối mặt với những khó khăn
khách quan lẫn chủ quan. Tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến
phức tạp. Xung đột sắc tộc, tôn giáo và lợi ích của các quốc gia vẫn là bài
toán chƣa có lời giải đáp. Những biến động thất thƣờng của giá xăng dầu
và năng lƣợng, dịch cúm gia cầm trong nƣớc và thiên tai; Tệ nạn tham
nhũng và những yếu kém trong công tác quản lý chƣa đƣợc giải quyết rốt
ráo… Tuy vậy, tăng trƣởng GDP toàn xã hội của thời kỳ này vẫn duy trì
đều qua các năm, bình quân đạt 7,5% (mặc dù thấp hơn giai đoạn tăng
trƣởng nóng 1991-1995, 8,2%) nhƣng chúng ta đã đạt đƣợc tiến bộ đều và
bền vững trên mọi lĩnh vực.
Nhìn lại xuyên suốt quá trình 20 năm đổi mới, chúng ta dễ dàng nhận
thấy, nếu giai đoạn 1986-1990, là thời kỳ bắt đầu công cuộc đổi mới với
chủ trƣơng phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, bƣớc đầu giải
phóng lực lƣợng sản xuất, tạo ra động lực phát triển mới thì giai đoạn
1991-1995 (ĐH VII) đất nƣớc ra khỏi tình trạng trì trệ, suy thoái. Toàn
Đảng toàn dân ta tiếp tục bắt tay vào thực hiện chiến lƣợc ổn định và phát
triển kinh tế -xã hội 10 năm (1991-2000) với quyết tâm: “ra khỏi khủng
hoảng, ổn định tình hình kinh tế xã hội, phấn đấu vƣợt qua tình trạng nƣớc
nghèo và kém phát triển”. Đây là giai đoạn có tốc độ tăng trƣởng cao (GDP
bình quân đạt 8,2%), đặc biệt ngành dịch vụ có tốc độ tăng trƣởng 12%.
Giai đoạn 1996-2000 tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH và giai đoạn 2001-
17
triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tích cực, chỉ
số phát triển con ngƣời đƣợc nâng lên. Thu nhập bình quân đầu ngƣời tăng
từ 5,7 triệu đồng năm 2000 lên trên 10 triệu đồng năm 2005, tăng
12,1%/năm và chỉ số phát triển con ngƣời là 0,704 (xếp thứ 108/177
nƣớc)”.[9, sđd].
Đó là những kết quả thắng lợi hết sức quan trọng, đƣợc xem là đỉnh
cao của 20 năm đổi mới. Điều này thể hiện sự nỗ lực phấn đấu của toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân; sự chỉ đao điều hành có hiệu quả của Chính
phủ; sự năng động và quyết tâm của các cấp, ngành, các doanh nghiệp và
của mọi tầng lớp nhân dân.
Tuy nhiên chất lƣợng phát triển kinh tế - xã hội và năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế còn kém. Báo cáo Cạnh tranh kinh tế toàn cầu của
diễn đàn kinh tế thế giới 2005 cho biết: Chỉ số cạnh tranh toàn cầu của
nƣớc ta xếp thứ 77/104 nƣớc, trong đó cạnh tranh về môi trƣờng kinh tế vĩ
mô xếp thứ 58/104, thể chế công xếp thứ 82/104, công nghệ xếp thứ
92/104; chỉ số cạnh tranh về kinh doanh xếp thứ 90/104.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Theo đánh giá của Ngân hàng thế
giới, năm 2004, tỉ trọng dịch vụ trong GDP của Việt Nam là 38%, của
Philipine là 54%, của Thái Lan là 46%. Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội
chƣa đáp ứng yêu cầu phát triển. Chất lƣợng giáo dục đào tạo (GD&ĐT) và
khoa học công nghệ (KHCN) còn thấp, nhiều vấn đề hạn chế, yếu kém
chậm đƣợc khắc phục. Bộ máy nhà nƣớc chậm đổi mới, chƣa theo kịp yêu
cầu của công cuộc phát triển kinh tế - xã hội.
Tất nhiên, đứng trƣớc những thách thức to lớn của thời đại, trong thế
giới toàn cầu hóa với những diễn biến phức tạp và khó tiên định, ngƣời dân
vẫn đang tiếp tục kỳ vọng vào sự bứt phá đi lên của đất nƣớc trên mọi lĩnh
vực.
18
Biểu đồ 1: [Tốc độ tăng trƣởng GDP giai đoạn 2001-2005 (đơn vị tính: %). Các biểu
27.00%
8.90%
11.20%
3.10%
27.60%
Nông,lâm,thủy sản Giao thông,bưu điện GD&ĐT
Y tế,xã hội, văn hóa,thể thao KH&CN Các lĩnh vực khácBiểu đồ 4: Tăng trƣởng kinh tế - xã hội qua các thời kỳ:
0.00%
2.00%
4.00%
6.00%
8.00%
10.00%
12.00%
14.00%
16.00%
1986-1990 1991-1995 1996-2000 2001-2005
Tốc độ tăng trưởng Công nghiệp Nông nghiệp Dịch vụ
Tại thời điển hiện nay, khi đất nƣớc đang bƣớc vào giai đoạn hội
nhập sâu và toàn diện vào hệ thống kinh tế thế giới và khu vực, thêm một
lần, chúng ta phải suy ngẫm lại chân lý: cái đã từng đúng không chắc sẽ
tiếp tục đúng. Đổi mới cần đƣợc tiếp tục đẩy mạnh chính là hiểu theo nghĩa
đó. “Tiến hành công nghiệp hóa hƣớng tới kinh tế tri thức, dựa vào tri thức
và hội nhập quốc tế; coi rƣợt đuổi tri thức và tiến kịp công nghệ là nội dung
chủ chốt của toàn bộ nỗ lực đua tranh phát triển của dân tộc”. [10, 10].
vậy, cuộc cách mạng công nghiệp đã khởi động sự thay đổi của “làn sóng
21
thứ hai”, để lại cho chúng ta phƣơng thức lấy nhà máy làm cơ sở tạo ra của
cải vất chất. Đến lƣợt nó, phƣơng thức này dẫn đến sự sản xuất hàng loạt
trên quy mô lớn, đòi hỏi phải có những thị trƣờng ngày càng rộng hơn,
những đội ngũ ngày càng chuyên nghiệp hơn.
Cuộc cách mạng tri thức (knowledge revolution) của ngày hôm nay,
sau khi đem lại sự thay đổi cực kỳ to lớn về kinh tế, kỹ thuật và xã hội
trong “làn sóng thứ ba”, đang buộc chúng ta phải hoạt động theo những
cách thức hoàn toàn mới, không ngừng thay đổi những khái niệm của “làn
sóng thứ hai” còn tồn tại. Từng ngóc ngách trong lối tƣ duy của kỷ nguyên
công nghiệp giờ đây đang đƣợc xem xét lại kỹ lƣỡng và tu chỉnh lại một
cách mạnh mẽ. “Tri thức là yếu tố hàng đầu trong phƣơng thức tạo ra của
cải mới. Các tổ chức đã làm rất nhiều việc để nghiên cứu vấn đề quản lý tri
thức (knowledge management) nhƣ định giá tài sản tri thức, những cách
tiếp cận mới trong việc học tập của tổ chức và cá nhân, cố gắng tao ra một
hệ đo lƣờng và kiểm định tri thức. Và khi phƣơng thức tạo ra của cải của
làn sóng thứ ba đƣợc triển khai rộng rãi, đƣợc đánh dấu bởi sự cạnh tranh
khốc liệt, bởi sự xáo trộn và xung đột xã hội (do toàn cầu hóa), thì nó sẽ tạo
ra một tình trạng không thể đoán trƣớc ở mức độ cao và những điều kiện
phi tuyến tính”.[11, 59].
Thế giới đi vào nền kinh tế tri thức nhƣng giáo dục nƣớc ta hiện nay
vừa phải tiến hành theo phƣơng thức giảng dạy cũ vừa tiếp cận với kinh tế
tri thức. Ở một đất nƣớc mà vẫn còn tới trên 78% dân số là nông dân với tƣ
tƣởng tiểu nông và văn minh nông nghiệp, bƣớc vào nền kinh tế tri thức thì
thách thức lớn nhất là tạo ra đƣợc một đội ngũ đông đảo những trí thức,
những ngƣời lao động chất lƣợng cao và một xã hội học tập mà trong đó
mọi ngƣời đều thấy cần và phải học thƣờng xuyên, học suốt đời. Vậy, phải
có cơ chế để ngƣời ta đƣợc học thật, làm thật. Giả dối là thói không thể
chấp nhận, trí thức không thể tha hóa. Và để hòa nhập vào nền văn minh